Bản dịch
THA -ap446 — Ký Sự về Trưởng Lão Bhallātakadāyaka
4 Bhallātadāyakattheraapadāna
BJT 4738Đấng Toàn Giác có màu da vàng chói, có ba mươi hai hảo tướng tợ như cây sālāchúa đã được trổ hoa, đang di chuyển ở phía trên chóp đỉnh của khu rừng bao la.
BJT 4739Tôi đã xếp đặt tấm trải cỏ và đã cầu xin đức Phật tối thượng rằng: “Xin đức Phật hãy thương tưởng đến con, con muốn dâng cúng vật thực.”
BJT 4740Sau khi biết được ý định của tôi, đấng Bi Mẫn, vị có lòng thương tưởng, có danh tiếng lớn lao Atthadassī đã ngự xuống khu ẩn cư của tôi.
BJT 4741Sau khi ngự xuống, đấng Toàn Giác đã ngồi xuống ở tấm thảm lá cỏ. Tôi đã cầm lấy trái cây bhallātakavà đã dâng cúng đến đức Phật tối thượng.
BJT 4742Khi ấy, đấng Chiến Thắng đã thọ dụng trong lúc tôi đang trầm tư. Tại đó, sau khi làm cho tâm được tịnh tín, tôi đã đảnh lễ đấng Chiến Thắng.
BJT 4743Kể từ khi tôi đã dâng cúng trái cây trước đây một ngàn tám trăm kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
BJT 4744Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 4745Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 4746Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Bhallātakadāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Bhallātakadāyaka là phần thứ tư.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
4. Bhallātadāyakattheraapadānaṃ
4. The Apadāna of the Elder Bhallātadāyaka
4. Thạnh đức ký của trưởng lão Bhallātadāyaka
22.
22.
22.
‘‘Suvaṇṇavaṇṇaṃ sambuddhaṃ, dvattiṃsavaralakkhaṇaṃ;
Vipinaggena † gacchantaṃ, sālarājaṃva phullitaṃ.
“The Fully Enlightened One, of golden complexion, endowed with the thirty-two excellent marks, going through the edge of the forest, blossomed like a kingly Sāl tree.”
Sau khi nhìn thấy đức Chánh Đẳng Giác có màu da vàng ròng, có ba mươi hai tướng tốt của bậc đại nhân, đang đi ở bìa rừng, giống như cây sala chúa đang trổ hoa.
23.
23.
23.
‘‘Tiṇattharaṃ paññāpetvā, buddhaseṭṭhaṃ ayācahaṃ;
‘Anukampatu maṃ buddho, bhikkhaṃ icchāmi dātave’.
“Having spread a grass mat, I requested the Supreme Buddha: ‘May the Buddha have compassion on me; I wish to give alms-food’.”
Sau khi đã trải tấm lót bằng cỏ, tôi đã thỉnh cầu bậc Tối Thắng là đức Phật: ‘Mong đức Phật hãy rủ lòng thương xót đến tôi. Tôi mong muốn được dâng cúng vật thực.’
24.
24.
24.
‘‘Anukampako kāruṇiko, atthadassī mahāyaso;
Mama saṅkappamaññāya, orūhi mama assame.
“The compassionate one, the merciful one, Atthadassī of great renown, knowing my intention, descended to my hermitage.”
Bậc rủ lòng thương, bậc có lòng bi mẫn, đức Phật Atthadassī có danh tiếng lớn lao, sau khi biết được ý định của tôi, đã ngự xuống ở am thất của tôi.
25.
25.
25.
‘‘Orohitvāna sambuddho, nisīdi paṇṇasanthare;
Bhallātakaṃ gahetvāna, buddhaseṭṭhassadāsahaṃ.
“Having descended, the Fully Enlightened One sat on the spread of leaves. Taking a bhallātaka fruit, I gave it to the Supreme Buddha.”
Sau khi đã ngự xuống, đức Chánh Đẳng Giác đã ngồi trên tấm lót bằng lá cây. Sau khi đã lấy quả bhallātaka, tôi đã dâng đến bậc Tối Thắng là đức Phật.
26.
26.
26.
‘‘Mama nijjhāyamānassa, paribhuñji tadā jino;
Tattha cittaṃ pasādetvā, abhivandiṃ tadā jinaṃ.
“While I was looking on, the Conqueror then partook of it. Having gladdened my mind towards him, I then paid homage to the Conqueror.”
Trong khi tôi đang nhìn ngắm, vào lúc bấy giờ bậc Toàn Thắng đã thọ dụng. Sau khi đã làm cho tâm ý được trong sạch ở nơi ấy, vào lúc bấy giờ tôi đã đảnh lễ bậc Toàn Thắng.
27.
27.
27.
‘‘Aṭṭhārase kappasate, yaṃ phalamadadiṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, phaladānassidaṃ phalaṃ.
“Eighteen hundred aeons ago, when I gave that fruit, I have not known a woeful state since. This is the fruit of the gift of a fruit.”
Cách đây một ngàn tám trăm kiếp, vào lúc bấy giờ tôi đã dâng cúng quả ấy. Tôi không còn biết đến khổ cảnh. Đây là quả báu của việc dâng cúng quả cây.
28.
28.
28.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
“My defilements are burned up... (etc.) ... I dwell free from taints.”
Các phiền não của tôi đã được đốt sạch... (vân vân)... tôi sống không còn lậu hoặc.
29.
29.
29.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
“Indeed, my coming was a welcome one... (etc.) ... the Buddha’s teaching has been fulfilled.”
Thật vậy, sự đến của tôi là khéo đến... (vân vân)... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
30.
30.
30.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
“The four analytical knowledges... (etc.) ... the Buddha’s teaching has been fulfilled.”
Bốn Tuệ Phân Tích... (vân vân)... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā bhallātadāyako thero imā gāthāyo
Thus indeed the venerable Elder Bhallātadāyaka...
Như vậy, trưởng lão Bhallātadāyaka khả kính đã nói những câu kệ này:
Abhāsitthāti.
...spoke these verses.
đã nói lên như vầy.
Bhallātadāyakattherassāpadānaṃ catutthaṃ.
The fourth Apadāna of the Elder Bhallātadāyaka is concluded.
Thánh tích của trưởng lão Bhallātadāyaka, câu chuyện thứ tư.