Bản dịch
THA -ap441 — Ký Sự về Trưởng Lão Ambapiṇḍiya
Ambapiṇḍiyattheraapadāna
BJT 4701Khi ấy, tôi đã là con voi chúa có ngà dài như gọng xe, vững chải. Trong khi đi lang thang ở khu rừng bạt ngàn tôi đã nhìn thấy đấng Lãnh Đạo Thế Gian.
BJT 4702Sau khi cầm lấy chùm trái xoài, tôi đã dâng cúng đến bậc Đạo Sư. Đấng Đại Hùng, bậc Lãnh Đạo Thế Gian Siddhattha đã thọ lãnh.
BJT 4703Khi ấy, đấng Chiến Thắng đã thọ dụng trong lúc tôi đang trầm tư. Tại đó, sau khi làm cho tâm được tịnh tín, tôi đã đạt đến cõi trời Đẩu Suất.
BJT 4704Từ nơi ấy tôi đã mệnh chung, và tôi đã trở thành đấng Chuyển Luân Vương. Tôi thọ hưởng sự thành đạt theo đường lối thế ấy.
BJT 4705Có tính khẳng quyết về sự nỗ lực, tôi được an tịnh, không còn mầm mống tái sanh. Sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 4706Kể từ khi tôi đã dâng cúng trái cây trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
BJT 4707Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 4708Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 4709Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Ambapiṇḍiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Ambapiṇḍiya là phần thứ chín.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
9. Ambapiṇḍiyattheraapadānaṃ
9. The Apadāna of the Elder Ambapiṇḍiya.
9. Thánh tích của trưởng lão Ambapiṇḍiya
72.
72.
72.
‘‘Hatthirājā tadā āsiṃ, īsādanto uruḷhavā;
Vicaranto brahāraññe, addasaṃ lokanāyakaṃ.
Then I was a king of elephants, with tusks like plough-shafts, able to carry a heavy load. Wandering in the great forest, I saw the Leader of the World.
“Vào lúc ấy, tôi là voi chúa, có ngà dài như cây đòn gánh, có sức mạnh. Trong khi đi dạo trong khu rừng lớn, tôi đã nhìn thấy bậc Lãnh Đạo Thế Gian.
73.
73.
73.
‘‘Ambapiṇḍaṃ gahetvāna, adāsiṃ satthuno ahaṃ;
Paṭiggaṇhi mahāvīro, siddhattho lokanāyako.
Taking a cluster of mangoes, I gave it to the Teacher. The Great Hero, Siddhattha, the Leader of the World, accepted it.
Sau khi lấy chùm xoài, tôi đã dâng lên bậc Đạo Sư. Bậc Đại Anh Hùng, đức Siddhattha, bậc Lãnh Đạo Thế Gian đã thọ nhận.
74.
74.
74.
‘‘Mama nijjhāyamānassa, paribhuñji tadā jino;
Tattha cittaṃ pasādetvā, tusitaṃ upapajjahaṃ.
While I was watching, the Conqueror then partook of it. Having gladdened my mind in his presence, I was reborn in Tusita.
Trong khi tôi đang nhìn ngắm, vào lúc ấy bậc Chiến Thắng đã dùng (trái xoài). Do đã làm cho tâm ý trong sạch ở nơi vị ấy, tôi đã được sanh lên cõi trời Tusita (Đâu-suất).
75.
75.
75.
‘‘Tato ahaṃ cavitvāna, cakkavattī ahosahaṃ;
Eteneva upāyena, anubhutvāna sampadā.
Having passed away from there, I became a wheel-turning monarch. By this very means, having experienced prosperity,
Sau khi từ giã nơi ấy, tôi đã trở thành vị Chuyển Luân vương. Chính do phương tiện này, sau khi đã hưởng thụ các tài sản.
76.
76.
76.
‘‘Padhānapahitattohaṃ, upasanto nirūpadhi;
Sabbāsave pariññāya, viharāmi anāsavo.
With my mind intent on striving, pacified, and without substrate, having fully understood all the taints, I dwell free from taints.
Tôi có tâm tinh cần, đã được an tịnh, không còn sanh y. Sau khi đã liễu tri tất cả lậu hoặc, tôi sống không còn lậu hoặc.
77.
77.
77.
‘‘Catunnavutito kappe, yaṃ phalamadadiṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, phaladānassidaṃ phalaṃ.
Ninety-four aeons ago, when I gave that fruit, I have not known a woeful state; this is the fruit of the gift of a fruit.
Cách đây chín mươi bốn kiếp, vào lúc ấy tôi đã dâng cúng trái cây. Tôi không còn biết đến khổ cảnh, đây là quả báu của việc cúng dường trái cây.
78.
78.
78.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
My defilements are burnt up...pe... I dwell without taints.
Các phiền não của tôi đã được đốt sạch ... (tôi) sống không còn lậu hoặc.
79.
79.
79.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Welcome indeed was my coming...pe... the Buddha's teaching has been fulfilled.
Thật vậy, sự quang lâm của tôi là khéo đến ... (tôi đã) thực hành lời dạy của đức Phật.
80.
80.
80.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges...pe... the Buddha's teaching has been fulfilled.
“Bốn Tuệ Phân Tích ... (đã được chứng ngộ), lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā ambapiṇḍiyo thero imā gāthāyo
Thus indeed the venerable Elder Ambapiṇḍiya...
Như vậy, quả thật, trưởng lão Ambapiṇḍiya đáng kính những câu kệ này
Abhāsitthāti.
...spoke these verses.
đã nói lên.
Ambapiṇḍiyattherassāpadānaṃ navamaṃ.
The Ninth Apadāna of the Elder Ambapiṇḍiya is concluded.
Thiên truyện về trưởng lão Ambapiṇḍiya là phần thứ chín.