Bản dịch
THA -ap434 — Ký Sự về Trưởng Lão Ekasaṃkhiya
Ekasaṅkhiyattheraapadāna
BJT 4642Đã có lễ hội ở cội Đại Bồ Đề của đức Thế Tôn Vipassī. Đám đông dân chúng đã cùng nhau đi đến và cúng dường cội Bồ Đề tối thượng.
BJT 4643Tôi không nghĩ rằng bậc đạo sư nào có cội Bồ Đề được cúng dường như thế này lại là vị kém cỏi, Ngài phải là vị Phật tối thượng.
BJT 4644Do đó, tôi đã cầm lấy chiếc tù và vỏ ốc và đã phục vụ cội cây Bồ Đề. Trong khi thổi (tù và) trọn cả ngày, tôi đã đảnh lễ cội Bồ Đề tối thượng.
BJT 4645Hành động được thực hiện vào lúc cận kề cái chết đã đưa tôi đến thế giới chư Thiên. Cơ thể của tôi vừa ngã xuống là tôi sướng vui ở thế giới chư Thiên.
BJT 4646Có sáu mươi ngàn nhạc công luôn luôn hớn hở vui mừng hoan hỷ phục vụ tôi; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 4647Tôi đã là đức vua Sudassana bảy mươi mốt kiếp, là người chinh phục bốn phương, là vị chúa tể của vùng đất Jambu.
BJT 4648Kế đó, có trăm loại nhạc cụ luôn luôn vây quanh tôi. Tôi thọ hưởng nghiệp quả của chính mình; điều này là quả báu của việc phục vụ.
BJT 4649Nơi chốn nào tôi sanh lên, là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, các chiếc trống luôn luôn vang lên đến tôi ngay cả khi (nhập thai) đi vào bụng mẹ.
BJT 4650Sau khi phục vụ đấng Toàn Giác, sau khi thọ hưởng sự thành đạt, tôi đã đạt đến vị thế Bất Động là Niết Bàn, bình yên, bất tử.
BJT 4651Kể từ khi tôi đã thực hiện việc làm ấy trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 4652Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 4653Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 4654Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Ekasaṅkhiya đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Ekasaṅkhiya là phần thứ nhì.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
2. Ekasaṅkhiyattheraapadānaṃ
2. The Apadāna of the Elder Ekasaṅkhiya
2. Thánh tích của trưởng lão Ekasaṅkhiya
13.
13.
13.
‘‘Vipassino bhagavato, mahābodhimaho ahu;
Mahājanā samāgamma, pūjenti bodhimuttamaṃ.
For the Blessed One Vipassī, there was a great festival for the Mahābodhi; the great populace, having come together, honors the supreme Bodhi.
“Đã có lễ hội cúng dường cây Đại Bồ-đề của đức Thế Tôn Vipassī. Đông đảo quần chúng tụ hội lại, cúng dường cây Bồ-đề tối thượng.
14.
14.
14.
‘‘Na hi taṃ orakaṃ maññe, buddhaseṭṭho bhavissati;
Yassāyaṃ īdisā bodhi, pūjanīyā † ca satthuno.
Indeed, I do not consider that to be inferior; he will be the best of Buddhas, the Teacher whose Bodhi is of such a nature and worthy of honor.
“Quả thật, tôi không nghĩ rằng việc ấy là thấp kém. Vị ấy sẽ là bậc Phật Tối Thắng, bậc Đạo Sư mà cây Bồ-đề này của Ngài thật đáng được cúng dường.
15.
15.
15.
‘‘Tato saṅkhaṃ gahetvāna, bodhirukkhamupaṭṭhahiṃ;
Dhamanto sabbadivasaṃ, avandiṃ bodhimuttamaṃ.
Then, having taken a conch, I attended upon the Bodhi tree; blowing it the whole day, I venerated the supreme Bodhi.
“Khi ấy, sau khi lấy chiếc tù và, tôi đã hầu hạ cây Bồ-đề. Vừa thổi (tù và) suốt cả ngày, tôi đã đảnh lễ cây Bồ-đề tối thượng.
16.
16.
16.
‘‘Āsannake kataṃ kammaṃ, devalokaṃ apāpayī;
Kaḷevaraṃ me patitaṃ, devaloke ramāmahaṃ.
A deed done near the time of death led me to the deva world; my body fell, and I rejoice in the deva world.
“Nghiệp đã được thực hiện vào lúc cận tử đã đưa (tôi) đến cõi trời. Thân xác của tôi đã ngã xuống, tôi hưởng lạc ở cõi trời.
17.
17.
17.
‘‘Saṭṭhituriyasahassāni, tuṭṭhahaṭṭhā pamoditā;
Sadā mayhaṃ upaṭṭhanti, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Sixty thousand musical instruments, delighted, joyful, and elated, always attend upon me; this is the fruit of honoring the Buddha.
“Sáu mươi ngàn nhạc cụ, với sự vui vẻ, hoan hỷ, và phấn khởi, luôn luôn hầu hạ tôi. Đây là quả báu của việc cúng dường cây Bồ-đề.
18.
18.
18.
‘‘Ekasattatime kappe, rājā āsiṃ sudassano;
Cāturanto vijitāvī, jambumaṇḍassa issaro.
In the seventy-first aeon from now, I was the king named Sudassana, a universal monarch, victorious, and lord of the Jambu continent.
“Vào kiếp thứ bảy mươi mốt, tôi là vị vua tên Sudassana, người chinh phục bốn phương, bậc chiến thắng, là chúa tể của cõi Diêm-phù-đề.
19.
19.
19.
‘‘Tato aṅgasatā turiyā †, parivārenti maṃ sadā;
Anubhomi sakaṃ kammaṃ, upaṭṭhānassidaṃ phalaṃ.
Then musical instruments with a hundred parts always surround me; I experience my own kamma. This is the fruit of service.
Khi ấy, các nhạc cụ có trăm bộ phận luôn luôn vây quanh tôi. Tôi đang hưởng quả nghiệp của chính mình; đây là quả của sự hầu hạ.
20.
20.
20.
‘‘Yaṃ yaṃ yonupapajjāmi, devattaṃ atha mānusaṃ;
Mātukucchigatassāpi, vajjare bheriyo sadā.
Whatever existence I am reborn into, whether divine or human, even while in my mother’s womb, drums always resound.
Bất cứ sanh thú nào tôi tái sanh vào, dù là thân chư Thiên hay thân người, ngay cả khi còn nằm trong bụng mẹ, các trống vẫn luôn luôn vang lên.
21.
21.
21.
‘‘Upaṭṭhitvāna sambuddhaṃ, anubhutvāna sampadā;
Sivaṃ sukhemaṃ amataṃ, pattomhi acalaṃ padaṃ.
Having attended upon the Sambuddha and having experienced prosperity, I have attained the peaceful, secure, deathless, unshakeable state.
Sau khi đã hầu hạ bậc Chánh Đẳng Giác, sau khi đã hưởng các tài sản, tôi đã đạt đến trạng thái an tịnh, vô cùng an ổn, bất tử, và bất động.
22.
22.
22.
‘‘Ekanavutito kappe, yaṃ kammamakariṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Ninety-one aeons ago from this one, when I performed that kamma, I have not known a woeful state since; this is the fruit of honoring the Buddha.
Trong kiếp thứ chín mươi mốt tính từ kiếp này, vào lúc ấy tôi đã thực hiện nghiệp ấy. (Kể từ đó), tôi không biết đến cảnh khổ; đây là quả của việc cúng dường đức Phật.
23.
23.
23.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
My defilements are burned up… I dwell untainted.
Các phiền não của tôi đã được đốt cháy... (v.v.)... tôi sống không còn lậu hoặc.
24.
24.
24.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Indeed, my coming was a good one… the Buddha’s teaching has been fulfilled.
Sự quang lâm của tôi thật là tốt đẹp... (v.v.)... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
25.
25.
25.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges… the Buddha’s teaching has been fulfilled.
Bốn Tuệ Phân Tích... (v.v.)... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā ekasaṅkhiyo thero imā gāthāyo
Thus indeed the Venerable Elder Ekasaṅkhiya spoke these verses.
Quả thật, Trưởng lão Ekasaṅkhiya đã nói lên những câu kệ này như sau.
Abhāsitthāti.
He spoke thus.
đã nói lên như thế.
Ekasaṅkhiyattherassāpadānaṃ dutiyaṃ.
The second Apadāna of the Elder Ekasaṅkhiya is finished.
Thiên A-hàm thứ hai về Trưởng lão Ekasaṅkhiya.