Bản dịch
THA -ap430 — Ký Sự về Trưởng Lão Sucintita
Sucintitattheraapadāna
BJT 4567Tôi đã là người nông dân ở thành phố Haṁsavatī. Tôi sinh sống bằng công việc trồng trọt. Nhờ thế, tôi nuôi dưỡng các đứa trẻ.
BJT 4568Khi ấy, thửa ruộng đã được thành tựu tốt đẹp, lúa của tôi đã được kết hạt. Và khi thời điểm gặt hái đã đến, vào lúc ấy tôi đã suy nghĩ như vầy:
BJT 4569“Thật không đúng đắn, không tốt đẹp cho ta là người biết về lành dữ, sao ta có thể thọ dụng phẩm vật đầu mùa nếu khi ấy ta chưa dâng cúng đến Hội Chúng!
BJT 4570Vị này là đức Phật có ba mươi hai hảo tướng, tương đương với bậc không thể sánh bằng. Nhờ Ngài, Hội Chúng là Phước Điền vô thượng đã được thành lập.
BJT 4571Ta sẽ dâng cúng vật thí là lúa mới đến các ngài trước tiên hết.” Sau khi suy nghĩ như thế, tôi đã trở nên mừng rỡ, tâm tư được khoan khoái.
BJT 4572Tôi đã mang theo lúa từ thửa ruộng và đã đi đến bậc Toàn Giác. Sau khi đi đến bậc Toàn Giác, đấng Nhân Ngưu, bậc Trưởng Thượng của thế gian, tôi đã đảnh lễ ở bàn chân của bậc Đạo Sư rồi đã nói lời nói này:
BJT 4573“Bạch đấng Hiền Trí, lúa mới đã được thành tựu và Ngài cũng là người thọ lãnh. Bạch bậc Hữu Nhãn, vì lòng thương tưởng xin Ngài chấp nhận.”
BJT 4574Sau khi biết được ý định của tôi, bậc Hiểu Biết Thế Gian Tissa, vị thọ nhận các vật hiến cúng, đã nói lên những lời kệ này:
BJT 4575“Có bốn hạng được thực hành (bốn Đạo) và có bốn Quả được tồn tại. Hội Chúng này có bản thể chính trực, được định tĩnh với tuệ và giới.
BJT 4576Phước báu có mầm mống tái sanh (hữu lậu) của những người đang hiến cúng, của những chúng sanh có lòng mong mỏi phước báu đang thực hiện, đã được dâng cúng đến Hội Chúng là có quả báu lớn.
BJT 4577Lúa mới nên được dâng cúng đến Hội Chúng ấy, vật khác cũng vậy. Sau khi xác định là Hội Chúng, ngươi hãy đưa các vị tỳ khưu đến tư gia, và hãy dâng cúng đến Hội Chúng tỳ khưu vật đã được chuẩn bị tại nhà.”
BJT 4578Sau khi xác định là Hội Chúng, tôi đã đưa các vị tỳ khưu đến nhà, và đã dâng cúng đến Hội Chúng tỳ khưu vật đã được tôi chuẩn bị tại nhà.
BJT 4579Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 4580Tại nơi ấy, cung điện bằng vàng vô cùng rực rỡ đã được kiến tạo khéo léo dành cho tôi có chiều cao là sáu mươi do-tuần, chiều rộng ba mươi do-tuần.
(Tụng phẩm thứ mười chín).
BJT 4581Chỗ cư ngụ của tôi được phân bố chằng chịt, đông đảo các nhóm nữ nhân. Tại nơi ấy, tôi ăn, tôi uống, và tôi sống ở cõi Tam Thập.
BJT 4582Và tôi đã cai quản Thiên quốc ba trăm lần và đã trở thành đấng Chuyển Luân Vương năm trăm lần. Lãnh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.
BJT 4583Trong khi luân hồi ở cõi này cõi khác, tôi đạt được tài sản không ước lượng được, tôi không có sự thiếu hụt về của cải; điều này là quả báu của lúa mới.
BJT 4584Về phương tiện di chuyển bằng voi, phương tiện di chuyển bằng ngựa, kiệu khiêng, và cỗ xe kéo, tôi đạt được tất cả mọi thứ này; điều này là quả báu của lúa mới.
BJT 4585Về vải vóc mới, trái cây tươi, thức ăn mới lạ có phẩm vị cao sang, tôi đạt được tất cả mọi thứ này; điều này là quả báu của lúa mới.
BJT 4586Về y phục làm bằng tơ lụa, bằng sợi len, bằng chỉ lanh, và bằng bông vải, tôi đạt được tất cả mọi thứ này; điều này là quả báu của lúa mới.
BJT 4587Về đám tôi trai, bầy tớ gái, và các nữ nhân đã được trang điểm, tôi đạt được tất cả mọi thứ này; điều này là quả báu của lúa mới.
BJT 4588Sự lạnh, sự nóng nực hoặc sự bực bội không được tôi biết đến. Sự khổ sở thuộc về tâm ở trái tim không được tôi biết đến.
BJT 4589(Được bảo rằng): “Ngươi hãy nhai món này, hãy ăn món này, hãy nằm ở chiếc giường này,” tôi đạt được tất cả mọi thứ này; điều này là quả báu của lúa mới.
BJT 4590Giờ đây, lần sau cùng này là sự hiện hữu cuối cùng trong sự luân chuyển. Quả báu của vật dâng cúng khiến tôi luôn luôn được hoan hỷ đến tận hôm nay
BJT 4591Sau khi đã dâng cúng lúa mới đến Hội Chúng là tập thể cao quý tối thượng, tôi thọ hưởng tám điều lợi ích thích đáng với việc làm của tôi:
BJT 4592Tôi có sắc đẹp, có danh vọng, có của cải to lớn, là người không bị tai họa, tôi luôn luôn có quyền lực lớn lao, luôn luôn có hội chúng không bị chia rẽ.
BJT 4593Bất cứ những ai cư ngụ ở trên trái đất, tất cả đều tôn trọng tôi. Và bất cứ những gì là vật nên được dâng cúng tôi đều đạt được trước tiên hết.
BJT 4594Ở giữa hội chúng tỳ khưu hoặc trước mặt đức Phật tối thượng, các thí chủ đã đi vượt qua tất cả các vị và dâng cúng đến chính tôi.
BJT 4595Tôi thọ hưởng các điều lợi ích này bởi vì tôi đã dâng cúng lúa mới đến Hội Chúng là tập thể tối thượng trước tiên hết; điều này là quả báu của lúa mới.
BJT 4596Kể từ khi tôi đã dâng cúng vật thí trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của lúa mới.
BJT 4597Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 4598Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 4599Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Sucintitađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Sucintita là phần thứ tám.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
8. Sucintitattheraapadānaṃ
8. The Apadāna of the Elder Sucintita
8. Ký sự về Thánh hạnh của Trưởng lão Sucintita
107.
107.
107.
‘‘Nagare haṃsavatiyā, ahosiṃ kassako tadā;
Kasikammena jīvāmi, tena posemi dārake.
In the city of Haṃsavatī, I was a farmer at that time; I made my living by farming, and with it I supported my children.
Khi ấy, ở tại thành phố Haṃsavatī, ta là một người nông dân. Ta sinh sống bằng nghề nông, và nhờ đó ta nuôi dưỡng vợ con.
108.
108.
108.
‘‘Susampannaṃ tadā khettaṃ, dhaññaṃ me phalinaṃ † ahu;
Pākakāle ca sampatte, evaṃ cintesahaṃ tadā.
At that time the field was very abundant, my grain was fruitful; and when the time of ripening arrived, I then thought thus:
Khi ấy, thửa ruộng được mùa bội thu, lúa của ta đã trổ bông kết hạt. Và khi đến mùa thu hoạch, lúc ấy ta đã suy nghĩ như vầy:
109.
109.
109.
‘‘Nacchannaṃ nappatirūpaṃ, jānantassa guṇāguṇaṃ;
Yohaṃ saṅghe adatvāna, aggaṃ bhuñjeyya ce tadā †.
‘For me, who knows what is worthy and unworthy, it would be neither suitable nor proper were I to eat the first portion without having given to the Saṅgha.’
Thật không thích hợp, không tương xứng cho ta, người biết được điều có đức và không có đức, nếu ta lại ăn phần đầu mùa mà không dâng cúng đến chư Tăng.
110.
110.
110.
‘‘Ayaṃ buddho asamasamo, dvattiṃsavaralakkhaṇo;
Tato pabhāvito saṅgho, puññakkhetto anuttaro.
‘This Buddha is peerless and unequalled, endowed with the thirty-two excellent marks of a great man. From him this Saṅgha, an unsurpassed field of merit, originated.’
Vị Phật này không ai sánh bằng, Ngài có ba mươi hai tướng tốt cao quý. Tăng chúng, bắt nguồn từ Ngài, là phước điền vô thượng.
111.
111.
111.
‘‘Tattha dassāmahaṃ dānaṃ, navasassaṃ pure pure;
Evāhaṃ cintayitvāna, haṭṭho pīṇitamānaso †.
‘To them I shall give the first of the new harvest, first and foremost.’ Having reflected thus, I was joyful, with a gladdened mind.
Ở nơi ấy, ta sẽ dâng cúng vật thực, là lúa mới, trước tiên. Sau khi suy nghĩ như vậy, với tâm hoan hỷ và vui mừng,
112.
112.
112.
‘‘Khettato dhaññamāhatvā, sambuddhaṃ upasaṅkamiṃ;
Upasaṅkamma sambuddhaṃ, lokajeṭṭhaṃ narāsabhaṃ;
Vanditvā satthuno pāde, idaṃ vacanamabraviṃ.
Having brought the grain from the field, I approached the Fully Awakened One. Having approached the Fully Awakened One, the foremost in the world, the noblest of men, and having paid homage at the Teacher’s feet, I spoke this word:
ta đã mang lúa từ ruộng đến, và đã đi đến gần Đức Chánh Đẳng Giác. Sau khi đến gần Đức Chánh Đẳng Giác, bậc Tối Thắng trong đời, bậc Ngưu Vương giữa loài người, và đảnh lễ dưới chân của Bậc Đạo Sư, ta đã nói lên lời này:
113.
113.
113.
‘‘‘Navasassañca sampannaṃ, āyāgosi † ca tvaṃ mune;
Anukampamupādāya, adhivāsehi cakkhuma’.
‘The new grain is ready, and you, O Sage, are worthy of offerings. Out of compassion, please accept it, O One with the Eye.’
‘Lúa mới đã sẵn sàng, và Ngài, bậc Mâu-ni, là người xứng đáng nhận lễ vật. Xin Ngài, bậc có Mắt, hãy nhận lấy vì lòng bi mẫn.’
114.
114.
114.
‘‘Padumuttaro lokavidū, āhutīnaṃ paṭiggaho;
Mama saṅkappamaññāya, idaṃ vacanamabravi.
Padumuttara, the knower of worlds, the recipient of offerings, having understood my intention, spoke this word:
Đức Phật Padumuttara, bậc Thông Tỏ Thế Gian, người nhận các vật cúng dường, sau khi biết được ý định của ta, đã nói lên lời này:
115.
115.
115.
‘‘‘Cattāro ca paṭipannā, cattāro ca phale ṭhitā;
Esa saṅgho ujubhūto, paññāsīlasamāhito;
Yajantānaṃ manussānaṃ, puññapekkhāna pāṇinaṃ.
‘Four are practicing the path, and four are established in the fruit. This Saṅgha is upright, endowed with wisdom and virtue—for humans who make offerings, for beings who seek merit.’
‘Bốn vị đang thực hành (Đạo), và bốn vị đã an trú trong Quả. Tăng chúng này là những bậc ngay thẳng, vững trú trong trí tuệ và giới hạnh. Đối với những người làm lễ cúng dường, những chúng sanh mong cầu phước báu.
116.
116.
116.
‘‘‘Karotopadhikaṃ puññaṃ, saṅghe dinnaṃ mahapphalaṃ;
Tasmiṃ saṅgheva † dātabbaṃ, tava sassaṃ tathetaraṃ.
‘For one performing merit that leads to rebirth, what is given to the Saṅgha is of great fruit. To that very Saṅgha should your first-fruits be given, as well as other things.’
“Làm phước đức đưa đến tái sanh (hữu lậu), vật thí dâng đến Tăng chúng có quả báu lớn; chính nơi Tăng chúng ấy, ông nên dâng cúng hoa quả đầu mùa cũng như các vật dụng khác của ông.”
117.
117.
117.
‘‘‘Saṅghato uddisitvāna, bhikkhū netvāna saṃgharaṃ;
Paṭiyattaṃ ghare santaṃ, bhikkhusaṅghassa dehi tvaṃ’.
‘Having designated monks from the Saṅgha and led them to your house, give what has been prepared and is available in the house to the Saṅgha of monks.’
‘Sau khi đã chỉ định các vị Tỳ-kheo từ Tăng chúng, hãy dẫn các vị ấy về nhà của ngươi. Những gì đã được chuẩn bị sẵn có trong nhà, ngươi hãy dâng cúng đến Tăng chúng Tỳ-kheo.’
118.
118.
118.
‘‘Saṅghato uddisitvāna, bhikkhū netvāna saṃgharaṃ;
Yaṃ ghare paṭiyattaṃ me, bhikkhusaṅghassadāsahaṃ.
Having designated monks from the Saṅgha, I led them to my house. Whatever was prepared in my house, I gave to the Saṅgha of monks.
Sau khi đã chỉ định các vị Tỳ-kheo từ Tăng chúng, ta đã dẫn các vị ấy về nhà của mình. Những gì đã được chuẩn bị trong nhà, ta đã dâng cúng đến Tăng chúng Tỳ-kheo.
119.
119.
119.
‘‘Tena kammena sukatena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsamagacchahaṃ.
By that well-done deed, and by my intentions and aspirations, having abandoned the human body, I went to the Tāvatiṃsa heaven.
Do nghiệp tốt đã được thực hiện ấy và do các tác ý và nguyện vọng, sau khi từ bỏ thân người, ta đã đi đến cõi trời Ba Mươi Ba (Tāvatiṃsa).
120.
120.
120.
‘‘Tattha me sukataṃ byamhaṃ, sovaṇṇaṃ sappabhassaraṃ;
Saṭṭhiyojanamubbedhaṃ, tiṃsayojanavitthataṃ.
There, a celestial mansion was well-made for me, golden and radiant, sixty yojanas in height and thirty yojanas in width.
“Tại nơi ấy, lâu đài được làm tốt đẹp của tôi bằng vàng, sáng chói rực rỡ, cao sáu mươi do-tuần, và rộng ba mươi do-tuần.”
Ekūnavīsatimaṃ bhāṇavāraṃ.
The nineteenth recitation section.
Phẩm tụng thứ mười chín.
121.
121.
121.
‘‘Ākiṇṇaṃ bhavanaṃ mayhaṃ, nārīgaṇasamākulaṃ;
Tattha bhutvā pivitvā ca, vasāmi tidase ahaṃ.
My mansion is filled, crowded with groups of celestial nymphs. There, having eaten and drunk, I dwell in the heaven of the Thirty-three.
“Lâu đài của tôi tràn ngập, đông đúc chúng thiên nữ. Tại nơi ấy, sau khi ăn và uống, tôi trú ngụ ở cõi trời Ba Mươi Ba.”
122.
122.
122.
‘‘Satānaṃ tīṇikkhattuñca, devarajjamakārayiṃ;
Satānaṃ pañcakkhattuñca, cakkavattī ahosahaṃ;
Padesarajjaṃ vipulaṃ, gaṇanāto asaṅkhiyaṃ.
Three hundred times I exercised sovereignty as king of the devas; five hundred times I was a wheel-turning monarch. My extensive regional kingships are innumerable, beyond calculation.
“Tôi đã làm vua cõi trời ba trăm lần, và tôi đã là vua Chuyển Luân năm trăm lần. Còn vương vị chư hầu rộng lớn thì không thể đếm được.”
123.
123.
123.
‘‘Bhavābhave saṃsaranto, labhāmi amitaṃ dhanaṃ;
Bhoge me ūnatā natthi, navasassassidaṃ phalaṃ.
Wandering from one existence to another, I obtain immeasurable wealth. There is no deficiency in my enjoyments; this is the fruit of offering the first harvest.
“Khi luân hồi trong các kiếp sống, tôi nhận được tài sản vô lượng. Tài sản của tôi không hề thiếu hụt, đây là quả của (việc cúng dường) lúa mới.”
124.
124.
124.
‘‘Hatthiyānaṃ assayānaṃ, sivikaṃ sandamānikaṃ;
Labhāmi sabbamevetaṃ †, navasassassidaṃ phalaṃ.
“Elephant vehicles, horse vehicles, palanquins, and covered carriages; I obtain all these. This is the fruit of the offering of new grain.
“Xe voi, xe ngựa, kiệu, và võng, tôi nhận được tất cả những thứ này. Đây là quả của (việc cúng dường) lúa mới.”
125.
125.
125.
‘‘Navavatthaṃ navaphalaṃ, navaggarasabhojanaṃ;
Labhāmi sabbamevetaṃ, navasassassidaṃ phalaṃ.
New clothes, new fruits, and new, excellent food; I obtain all this. This is the fruit of the offering of new grain.
“Y phục mới, trái cây mới, vật thực mới có hương vị thượng hạng, tôi nhận được tất cả những thứ này. Đây là quả của (việc cúng dường) lúa mới.”
126.
126.
126.
‘‘Koseyyakambaliyāni, khomakappāsikāni ca;
Labhāmi sabbamevetaṃ, navasassassidaṃ phalaṃ.
Silken cloths and woolen cloths, linen cloths and cotton cloths; I obtain all this. This is the fruit of the offering of new grain.
“Vải lụa và vải len, vải lanh và vải bông, tôi nhận được tất cả những thứ này. Đây là quả của (việc cúng dường) lúa mới.”
127.
127.
127.
‘‘Dāsīgaṇaṃ dāsagaṇaṃ, nāriyo ca alaṅkatā;
Labhāmi sabbamevetaṃ, navasassassidaṃ phalaṃ.
A group of female slaves, a group of male slaves, and adorned women; I obtain all this. This is the fruit of the offering of new grain.
“Chúng nữ tỳ, chúng nam nô, và các phụ nữ được trang điểm, tôi nhận được tất cả những thứ này. Đây là quả của (việc cúng dường) lúa mới.”
128.
128.
128.
‘‘Na maṃ sītaṃ vā uṇhaṃ vā, pariḷāho na vijjati;
Atho cetasikaṃ dukkhaṃ, hadaye me na vijjati.
Neither cold nor heat affects me, nor does scorching exist. Moreover, mental suffering does not exist in my heart.
“Đối với tôi, không có lạnh hay nóng, không có sự oi bức. Hơn nữa, trong tâm tôi không có nỗi khổ về tâm.”
129.
129.
129.
‘‘Idaṃ khāda idaṃ bhuñja, imamhi sayane saya;
Labhāmi sabbamevetaṃ, navasassassidaṃ phalaṃ.
“‘Eat this, consume this, lie down in this resting place.’ I obtain all of this. This is the fruit of the offering of new grain.
“‘Hãy ăn món này, hãy dùng món này, hãy nằm trên giường này.’ Tôi nhận được tất cả những điều này. Đây là quả của (việc cúng dường) lúa mới.”
130.
130.
130.
‘‘Ayaṃ pacchimako dāni, carimo vattate bhavo;
Ajjāpi deyyadhammo me, phalaṃ tosesi sabbadā.
“This, now, is the final, the last existence that occurs. Even in this life, my gift-worthy offering always brings satisfying fruit.
“Giờ đây, đây là kiếp sống cuối cùng, là kiếp sau chót đang diễn ra. Ngay cả hôm nay, vật cúng dường của tôi vẫn luôn làm cho vui thích với quả của nó.”
131.
131.
131.
‘‘Navasassaṃ daditvāna, saṅghe gaṇavaruttame;
Aṭṭhānisaṃse anubhomi, kammānucchavike mama.
“Having given the new grain to the Saṅgha, the excellent and supreme community, I experience eight benefits appropriate to my kamma.
“Sau khi đã cúng dường lúa mới đến Tăng chúng, là hội chúng cao quý tối thượng, tôi hưởng tám quả báu tương xứng với nghiệp của mình.”
132.
132.
132.
‘‘Vaṇṇavā yasavā homi, mahābhogo anītiko;
Mahāpakkho † sadā homi, abhejjapariso sadā.
“I am of beautiful complexion and have a great retinue; I am greatly wealthy and without affliction. I always have a great following; I always have an unbreakable assembly.
“Tôi là người có dung sắc, có danh tiếng, có tài sản lớn, không có tai họa. Tôi luôn có nhiều bạn bè, luôn có đoàn tùy tùng không thể bị chia rẽ.”
133.
133.
133.
‘‘Sabbe maṃ apacāyanti, ye keci pathavissitā;
Deyyadhammā ca ye keci, pure pure labhāmahaṃ.
“All whosoever are established on earth venerate me; and whatever gift-worthy things there are, I receive them first of all.
“Tất cả những ai sống trên mặt đất đều tôn kính tôi. Và bất cứ vật cúng dường nào, tôi đều nhận được trước tiên.”
134.
134.
134.
‘‘Bhikkhusaṅghassa vā majjhe, buddhaseṭṭhassa sammukhā;
Sabbepi samatikkamma, denti mameva dāyakā.
“In the midst of the Saṅgha of bhikkhus, or in the presence of the excellent Buddha, surpassing all others, the donors give to me alone.
“Hoặc ở giữa Tăng chúng Tỳ khưu, hoặc ở trước mặt đức Phật tối thượng, các thí chủ vượt qua tất cả mọi người mà chỉ dâng cúng cho riêng tôi.”
135.
135.
135.
‘‘Paṭhamaṃ navasassañhi, datvā saṅghe gaṇuttame;
Imānisaṃse anubhomi, navasassassidaṃ phalaṃ.
“Indeed, having first given the new grain to the Saṅgha, the supreme community, I experience these benefits. This is the fruit of the offering of new grain.
“Sau khi đã cúng dường lúa mới trước tiên đến Tăng chúng, là hội chúng tối thượng, tôi hưởng những quả báu này. Đây là quả của (việc cúng dường) lúa mới.”
136.
136.
136.
‘‘Satasahassito kappe, yaṃ dānamadadiṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, navasassassidaṃ phalaṃ.
“One hundred thousand kappas ago, when I gave that gift, since then I have known no woeful destination. This is the fruit of the offering of new grain.
“Cách đây một trăm ngàn kiếp, khi tôi đã thực hiện việc cúng dường ấy, tôi không biết đến cảnh khổ. Đây là quả của (việc cúng dường) lúa mới.”
137.
137.
137.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo;
“My defilements are burnt up… I dwell free from taints.
“Các phiền não của tôi đã được đốt cháy... (v.v.)... tôi trú không còn lậu hoặc.”
138.
138.
138.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
“Indeed, my coming was a good coming… the Buddha’s teaching has been fulfilled.
“Sự đến của tôi thật là khéo đến... (v.v.)... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.”
139.
139.
139.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
“The four analytical knowledges… the Buddha’s teaching has been fulfilled.”
“Bốn Tuệ Phân Tích... (v.v.)... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā sucintito thero imā gāthāyo
Thus, indeed, the venerable elder Sucintita spoke these verses.
Như vậy, quả thật Trưởng lão Sucintita đã nói những câu kệ này
Abhāsitthāti.
He spoke thus.
Đã nói như vậy.
Sucintitattherassāpadānaṃ aṭṭhamaṃ.
The Eighth Apadāna of the Elder Sucintita.
Thiên truyện về Trưởng lão Sucintita, thứ tám.