Bản dịch
THA -ap429 — Ký Sự về Trưởng Lão Ekadhammasavaṇiya
7 Ekadhammassavaniyattheraapadāna
BJT 4548Đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc thông suốt về tất cả các pháp, trong khi công bố về bốn Sự Thật đã giúp cho nhiều người vượt qua.
BJT 4549Vào lúc bấy giờ, tôi là vị đạo sĩ tóc bện có sự khổ hạnh cao tột. Khi ấy, tôi di chuyển ở hư không, (vừa đi) vừa phất phơ các y phục bằng vỏ cây.
BJT 4550Tôi không thể di chuyển ở phía trên của đức Phật tối thượng. Như là con chim bị va vào tảng đá, tôi không đạt được sự di chuyển.
BJT 4551Tợ như người đã đi vào trong nước, tôi di chuyển ở hư không như vậy. Sự hư hoại về các oai nghi này chưa từng xảy ra cho tôi trước đây.
BJT 4552(Nghĩ rằng): “Nào! Ta sẽ tìm hiểu việc này. Ít ra ta cũng có thể đạt được lý do.” Trong khi từ không trung đáp xuống, tôi đã nghe tiếng nói của bậc Đạo Sư.
BJT 4553Khi ấy, Ngài đang thuyết giảng về tính chất vô thường với âm điệu khích lệ, cuốn hút, dễ nghe, tôi đã học tập chỉ có pháp ấy của Ngài.
BJT 4554Sau khi đã học tập sự nhận biết về vô thường, tôi đã đi về khu ẩn cư của tôi. Sau khi sống đến hết tuổi thọ, tôi đã mệnh chung ở tại nơi ấy.
BJT 4555Khi đang ở vào thời điểm cuối cùng, tôi đã nhớ lại sự lắng nghe về Chánh Pháp. Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 4556Tôi đã sướng vui ở thế giới chư Thiên ba mươi ngàn kiếp. Và tôi đã cai quản Thiên quốc năm mươi mốt lần.
BJT 4557Và tôi đã là đấng Chuyển Luân Vương hai mươi mốt lần. Lãnh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.
BJT 4558Tôi đã thọ hưởng phước báu của chính mình, tôi đã được sung sướng ở cõi này cõi khác. Trong khi luân hồi ở cõi này cõi khác, tôi đã nhớ lại sự suy tưởng (về vô thường) ấy. Tôi không thấu triệt điểm cốt yếu là Niết Bàn, vị thế Bất Tử.
BJT 4559Sau khi ngồi xuống ở căn nhà của người cha, vị Sa-môn có giác quan đã được tu tập, trong khi giải thích về câu kệ ngôn, đã đề cập đến tính chất vô thường:
BJT 4560“Quả vậy, các pháp hữu vi là vô thường, có pháp sanh và diệt, sau khi sanh lên chúng hoại diệt, sự tịnh lặng của chúng là an lạc.”
BJT 4561Sau khi lắng nghe câu kệ, tôi đã nhớ lại sự suy tưởng trước đây. Sau khi ngồi ở ngay chỗ ngồi ấy, tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán.
BJT 4562Vào lúc bảy tuổi tính từ khi sanh, tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán. Đức Phật đã cho (tôi) tu lên bậc trên; điều này là quả báu của việc lắng nghe Giáo Pháp.
BJT 4563Kể từ khi tôi đã lắng nghe Giáo Pháp trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc nghe Giáo Pháp.
BJT 4564Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 4565Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 4566Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Ekadhammasavaṇiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Ekadhammasavaṇiya là phần thứ bảy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
7. Ekadhammassavaniyattheraapadānaṃ
7. The Apadāna of the Elder Ekadhammassavaṇiya
7. Thiên truyện về Trưởng lão Ekadhammassavaniya
88.
88.
88.
‘‘Padumuttaro nāma jino, sabbadhammāna pāragū;
Catusaccaṃ pakāsento, santāresi bahuṃ janaṃ.
The Victor named Padumuttara, who had gone to the far shore of all dhammas, proclaiming the Four Truths, saved many people.
Đấng Chiến Thắng tên là Padumuttara, bậc đã đến bờ bên kia của tất cả các pháp, trong khi tuyên thuyết về Tứ Diệu Đế, ngài đã cứu độ nhiều chúng sanh.
89.
89.
89.
‘‘Ahaṃ tena samayena, jaṭilo uggatāpano;
Dhunanto vākacīrāni, gacchāmi ambare tadā.
At that time, I was a matted-haired ascetic of fierce austerity; shaking my bark-cloth garments, I then traveled in the sky.
Vào lúc ấy, tôi là vị đạo sĩ bện tóc có khổ hạnh mãnh liệt. Trong khi giũ các y bằng vỏ cây, lúc ấy tôi đang đi trên hư không.
90.
90.
90.
‘‘Buddhaseṭṭhassa upari, gantuṃ na visahāmahaṃ;
Pakkhīva selamāsajja, gamanaṃ na labhāmahaṃ.
Above the best of Buddhas, I was not able to go; like a bird encountering a mountain, I could not obtain passage.
Tôi đã không thể đi ở phía trên của Đức Phật cao quý. Giống như con chim khi đến gần núi đá không thể đi tiếp được, tôi cũng đã không thể đi tiếp được.
91.
91.
91.
‘‘Udake vokkamitvāna, evaṃ gacchāmi ambare;
Na me idaṃ bhūtapubbaṃ, iriyāpathavikopanaṃ.
Just as one moves when having entered water, so I moved in the sky. This disturbance of my deportment had never happened to me before.
Tôi đi trên hư không giống như là đang bước xuống và đi trong nước. Sự cản trở oai nghi này đối với tôi là điều chưa từng xảy ra trước đây.
92.
92.
92.
‘‘Handa metaṃ gavesissaṃ, appevatthaṃ labheyyahaṃ;
Orohanto antalikkhā, saddamassosi satthuno.
Come now, I shall investigate this; perhaps I may obtain some benefit. Descending from the sky, I heard the Teacher’s voice.
Nào, tôi sẽ tìm kiếm về điều này, mong rằng tôi có thể đạt được lợi ích ấy. Trong khi đang đi xuống từ hư không, tôi đã nghe được âm thanh của Bậc Đạo Sư.
93.
93.
93.
‘‘Sarena rajanīyena, savanīyena vaggunā;
Aniccataṃ kathentassa, taññeva uggahiṃ tadā;
With a voice that was desirable, pleasant to hear, and melodious, he was teaching impermanence, and that very teaching I grasped then.
Lúc ấy, tôi đã học hỏi chính pháp vô thường ấy từ ngài, là người đang thuyết giảng về pháp vô thường với âm thanh đáng ưa thích, đáng lắng nghe, và êm dịu.
Aniccasaññamuggayha, agamāsiṃ mamassamaṃ.
Having learned the perception of impermanence, I went to my hermitage.
Sau khi học hỏi về tưởng vô thường, tôi đã đi đến am thất của mình.
94.
94.
94.
‘‘Yāvatāyuṃ vasitvāna, tattha kālaṅkato ahaṃ;
Carime vattamānamhi, saddhammassavanaṃ sariṃ.
Having lived there for my full lifespan, I passed away there; when my final moment arrived, I remembered hearing the True Dhamma.
Ta đã sống trọn đời ở tại nơi ấy, và đã mệnh chung ở đó. Khi tâm cuối cùng sanh khởi, ta đã nhớ lại việc nghe Chánh pháp.
95.
95.
95.
‘‘Tena kammena sukatena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsamagacchahaṃ.
By that well-done deed, and by my intentions and aspirations, having abandoned the human body, I went to the Tāvatiṃsa heaven.
Do nghiệp tốt đã được thực hiện ấy và do các tác ý và nguyện vọng, sau khi từ bỏ thân người, ta đã đi đến cõi trời Ba Mươi Ba (Tāvatiṃsa).
96.
96.
96.
‘‘Tiṃsakappasahassāni, devaloke ramiṃ ahaṃ;
Ekapaññāsakkhattuñca, devarajjamakārayiṃ.
For thirty thousand aeons, I rejoiced in the deva world; and fifty-one times I exercised sovereignty as king of devas.
Ta đã vui hưởng ở cõi trời trong ba mươi ngàn đại kiếp. Và năm mươi mốt lần, ta đã làm vua cõi trời.
97.
97.
97.
‘‘Ekavīsatikkhattuñca †, cakkavattī ahosahaṃ;
Padesarajjaṃ vipulaṃ, gaṇanāto asaṅkhiyaṃ.
And twenty-one times I was a wheel-turning monarch; my regional sovereignty was extensive, innumerable by count.
Và hai mươi mốt lần, ta đã là vị Chuyển Luân vương. (Còn) vương quyền ở các tiểu quốc rộng lớn thì không thể đếm được.
98.
98.
98.
‘‘Anubhomi sakaṃ puññaṃ, sukhitohaṃ bhavābhave;
Anussarāmi taṃ saññaṃ, saṃsaranto bhavābhave;
Na koṭiṃ paṭivijjhāmi, nibbānaṃ accutaṃ padaṃ.
I experience the fruit of my own merit; I am happy in existence after existence. Wandering through existence after existence, I recollect that perception, yet I do not penetrate to the end, Nibbāna, the deathless state.
Ta hưởng quả phước của mình, ta được an lạc trong các kiếp sống. Trong khi luân hồi qua các kiếp sống, ta luôn nhớ tưởng đến tưởng ấy (vô thường). Ta đã không thâm nhập được đến tận cùng, là trạng thái bất tử, là Niết Bàn.
99.
99.
99.
‘‘Pitugehe nisīditvā, samaṇo bhāvitindriyo;
Kathaṃsa † paridīpento, aniccatamudāhari.
Seated in my father’s house, a monk with developed faculties, while preaching and illuminating, spoke there on impermanence.
Vị Sa-môn với các căn đã được tu tập, sau khi ngồi xuống ở nhà của phụ thân, trong khi thuyết giảng và làm sáng tỏ, đã nói lên (tính chất) vô thường.
100.
100.
100.
‘‘‘Aniccā vata saṅkhārā, uppādavayadhammino;
Uppajjitvā nirujjhanti, tesaṃ vūpasamo sukho’.
‘Impermanent, indeed, are conditioned things, having the nature of arising and passing away. Having arisen, they cease; their stilling is bliss.’
‘Quả thật, các pháp hữu vi là vô thường, có bản chất sanh và diệt. Sau khi sanh lên, chúng lại hoại diệt. Sự lắng dịu của chúng là an lạc.’
101.
101.
101.
‘‘Saha gāthaṃ suṇitvāna, pubbasaññamanussariṃ;
Ekāsane nisīditvā, arahattamapāpuṇiṃ.
As soon as I heard the verse, I recollected my former perception; sitting in a single seat, I attained Arahantship.
Ngay khi vừa nghe xong câu kệ, ta đã nhớ lại tưởng quá khứ. Trong khi ngồi ở một chỗ, ta đã chứng đắc A-la-hán quả.
102.
102.
102.
‘‘Jātiyā sattavassena, arahattamapāpuṇiṃ;
Upasampādayī buddho, dhammassavanassidaṃ phalaṃ.
At seven years of age, I attained Arahantship; the Buddha ordained me. This is the fruit of hearing the Dhamma.
Vào năm lên bảy tuổi, ta đã chứng đắc A-la-hán quả. Đức Phật đã tế độ cho ta. Đây là kết quả của việc nghe Pháp.
103.
103.
103.
‘‘Satasahassito kappe, yaṃ dhammamasuṇiṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, dhammassavanassidaṃ phalaṃ.
One hundred thousand aeons ago, from when I heard the Dhamma at that time, I have known no bad destination; this is the fruit of hearing the Dhamma.
Kể từ khi ta đã nghe Pháp vào một trăm ngàn đại kiếp trước, ta không còn biết đến khổ cảnh. Đây là kết quả của việc nghe Pháp.
104.
104.
104.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
My defilements are burnt up… I dwell without taints.
Các phiền não của ta đã được đốt sạch… (vân vân)… ta sống không còn lậu hoặc.
105.
105.
105.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Welcome indeed was my coming… the Buddha’s dispensation has been fulfilled.
Quả thật, sự đến của ta là khéo đến… (vân vân)… giáo huấn của Đức Phật đã được thực hành.
106.
106.
106.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges… the Buddha’s dispensation has been fulfilled.
Bốn Tuệ Phân Tích… (vân vân)… giáo huấn của Đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā ekadhammassavaniyo thero imā
Thus indeed the Venerable Elder Ekadhammassavaniya spoke these verses.
Như vầy, quả thật Trưởng lão Ekadhammassavaniya
Gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Ekadhammassavaniya spoke these verses.
đã nói lên những câu kệ này.
Ekadhammassavaniyattherassāpadānaṃ sattamaṃ.
The Seventh Apadāna of the Elder Ekadhammassavaniya.
Ký sự về Thánh hạnh của Trưởng lão Ekadhammassavaniya, chương thứ bảy.