Bản dịch
THA -ap414 — Ký Sự về Trưởng Lão Ekachattiya
Ekachattiyattheraapadāna
BJT 4299Ở bờ sông Candabhāgā có khu ẩn cư của tôi đã khéo được xây dựng, có gian nhà rộng bằng lá được rải cát vô cùng tinh khiết đã khéo được tạo lập.
BJT 4300Con sông nhỏ có bờ nước lúp xúp, có bãi nước cạn xinh xắn làm thích ý, có đủ các loài cá và rùa, được loài cá sấu lai vãng.
BJT 4301Có các con gấu, công, báo, chim cu rừng, và chim sáo. Chúng hót líu lo vào mọi lúc, làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
BJT 4302Có các chim cu cu có âm giọng lôi cuốn và các con thiên nga có âm điệu ngọt ngào. Chúng hót líu lo tại nơi ấy, làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
BJT 4303Có các con sư tử, cọp, heo rừng, chó sói, chó rừng, và linh cẩu. Chúng gầm rú ở nơi hiểm trở của ngọn núi, làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
BJT 4304Có các con linh dương, nai, chó rừng, lợn rừng. Nhiều con gầm rú ở nơi hiểm trở của ngọn núi, làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
BJT 4305Có các loại cây uddālaka, cây campaka, cây pāṭalī, cây sindu-vāraka, cây atimutta, và cây asoka nở rộ hoa ở khu ẩn cư của tôi.
BJT 4306Có các loại cây aṅkola, cây yūthika, luôn cả cây sattalī, cây bimbijālika, cây kaṇṇika, và cây kaṇikāranở rộ hoa ở khu ẩn cư của tôi.
BJT 4307Có các loại cây nāga, cây sālā, cây saḷala, cây sen trắngđược trổ hoa ở nơi đây. Trong khi tỏa ra hương thơm của cõi trời, chúng làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
BJT 4308Có các loại cây ajjuna, cây asana, và cây mahānāmađược trổ hoa ở nơi đây, có các cây sālāvà các bông hoa của cây kê làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
BJT 4309Có các cây xoài, cây mận đỏ, cây tilaka, cây nimba, và cây sālakalyāṇī, trong khi tỏa ra hương thơm của cõi trời chúng làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
BJT 4310Có các loại cây asoka, cây kapittha, và cây bhaginimālađược trổ hoa ở nơi đây, trong khi tỏa ra hương thơm của cõi trời chúng làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
BJT 4311Các loại cây kadamba, luôn cả các cây chuối, và cây isimuggađã được gieo trồng, chúng thường xuyên trĩu nặng những trái làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
BJT 4312Có những loại cây có trái như cây harītaka, cây āmalaka, cây xoài, cây mận đỏ, cây vibhītaka, cây táo, cây bhallātaka, và cây billaở khu ẩn cư của tôi.
BJT 4313Không xa có cái hồ nước khéo được thiết lập làm thích ý, được che phủ bởi các cây mạn-đà-la, bởi các bông sen đỏ và các bông sen xanh.
BJT 4314Có những đóa sen đỏ đang tượng hình, các đóa hoa khác nở hoa có tua nhụy, luôn cả các đóa có các cánh hoa rủ xuống, chúng nở hoa ở khu ẩn cư của tôi.
BJT 4315Có các loại cá như là cá pāṭhīna, cá pāvusa, cá valaja, cá muñja, cá rohita. Trong khi thơ thẩn ở làn nước trong, chúng làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
BJT 4316Có mùi thơm của xoài được thoảng qua và có các cây dứa dại ở dọc bờ sông. Trong khi tỏa ra hương thơm của cõi trời, chúng làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
BJT 4317Có mật tiết ra từ củ sen, có sữa và bơ lỏng từ các rễ và ngó sen. Trong khi tỏa ra hương thơm của cõi trời, chúng làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
BJT 4318Ở nơi ấy có cát sáng chói được trải ra và được ve vãn bởi làn nước với các bông hoa tàn đã được nở rộ giờ yên nghỉ, chúng làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
BJT 4319Các vị (đạo sĩ) mang búi tóc rối, có y choàng là tấm da dê, tất cả đều mặc y phục bằng vỏ cây, họ làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
BJT 4320Và (các vị ấy) nhìn với khoảng cách của cán cày, cẩn trọng, có hành vi thanh tịnh, không mong mỏi về sự thọ hưởng các dục lạc, sống ở khu ẩn cư của tôi.
BJT 4321Tất cả các vị có (lông) nách, móng tay chân, và các lông được mọc dài, có răng bẩn, có đầu lấm bụi, mang bụi dơ (ở thân), sống ở khu ẩn cư của tôi.
BJT 4322Và các vị ấy đã đạt đến sự toàn hảo về các thắng trí, có sự di chuyển ở không trung. Trong khi bay lên bầu trời, các vị này làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
BJT 4323Khi ấy, được tùy tùng bởi những người học trò ấy, tôi sống ở khu rừng. Luôn luôn thể nhập vào thiền, tôi không biết đến ngày và đêm.
BJT 4324Vào thời điểm ấy, đức Thế Tôn, bậc Đại Hiền Trí, đấng Lãnh Đạo Thế Gian Atthadassī, trong khi xua đi điều tăm tối ấy đã hiện khởi.
BJT 4325Rối có người học trò nọ đã đi đến gặp tôi. Người ấy có ý định học về các chú thuật và sáu phần về danh hiệu và tướng số (và đã nói rằng):
BJT 4326“Đức Phật, bậc Đại Hiền Trí Atthadassī đã xuất hiện ở thế gian. Trong khi công bố về bốn Sự Thật, Ngài thuyết giảng về vị thế Bất Tử.”
BJT 4327Được hớn hở vui mừng hoan hỷ, có khuynh hướng đi đến với Giáo Pháp, tôi đã rời khỏi khu ẩn cư và đã nói lời nói này:
BJT 4328“Đức Phật có ba mươi hai hảo tướng đã xuất hiện ở thế gian. Các người hãy đi đến, tất cả chúng ta sẽ đi gặp đấng Chánh Đẳng Giác.”
BJT 4329Là những người tầm cầu mục đích tối thượng, có sự đáp ứng theo lời giáo huấn, đã hướng đến sự toàn hảo trong Chánh Pháp, các vị ấy đã đồng ý rằng: “Lành thay!”
BJT 4330Khi ấy, trong lúc tầm cầu mục đích tối thượng, các vị (đạo sĩ) mang các búi tóc ấy, có y choàng là tấm da dê, đã rời khỏi khu rừng.
BJT 4331Vào thời điểm ấy, đức Thế Tôn Atthadassī vị có danh tiếng lớn lao trong khi công bố về bốn Sự Thật, Ngài thuyết giảng về vị thế Bất Tử.
BJT 4332Tôi đã cầm lấy chiếc lọng màu trắng và đã che cho đức Phật tối thượng. Sau khi nắm giữ (chiếc lọng) trong một ngày, tôi đã đảnh lễ đức Phật tối thượng.
BJT 4333Kế đó, đức Thế Tôn, đấng Trưởng Thượng của thế gian, bậc Nhân Ngưu Atthadassī đã ngồi xuống ở hội chúng tỳ khưu và đã nói lên những lời kệ này:
BJT 4334“Người nào được tịnh tín nắm giữ chiếc lọng (che) cho Ta bằng các bàn tay của mình, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hãy lắng nghe Ta nói.
BJT 4335Khi người này được sanh lên, ở bản thể Thiên nhân hay nhân loại, sẽ có chiếc lọng luôn luôn che cho người này; điều này là quả báu của việc dâng cúng chiếc lọng.
BJT 4336Người này sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên trong bảy mươi bảy kiếp, và sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương một ngàn lần.
BJT 4337Và sẽ trở thành vị Thiên Vương bảy mươi bảy lần. Lãnh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.
BJT 4338Vào một ngàn tám trăm kiếp, bậc Hữu Nhãn Gotama, đấng cao quý dòng Sakya, trong khi xua đi điều tăm tối ấy, sẽ hiện khởi.
BJT 4339Là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, (người này) sẽ biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc và sẽ sống không còn lậu hoặc.”
BJT 4340Kể từ khi tôi đã thực hiện việc làm là đã nắm giữ chiếc lọng (che) cho đức Phật, trong khoảng thời gian này, tôi không biết đến việc không được che bởi chiếc lọng trắng
BJT 4341Lần sau cùng này của tôi là sự hiện hữu cuối cùng trong sự luân chuyển. Việc nắm giữ chiếc lọng được vận hành liên tục đến tận ngày hôm nay.
BJT 4342Ôi, việc làm đã được tôi khéo thực hiện đến (đức Phật) Atthadassī như thế ấy. Tôi đã được đoạn tận tất cả các lậu hoặc, giờ đây không còn tái sanh nữa.
BJT 4343Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 4344Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 4345Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Ekachattiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Ekachattiya là phần thứ nhì.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
2. Ekachattiyattheraapadānaṃ
2. The Apadāna of the Elder Ekachattiya.
2. Phẩm truyện về Trưởng lão Ekachattiya
32.
32.
32.
‘‘Candabhāgānadītīre, assamo sukato mama;
Susuddhapulinākiṇṇo, pannasālā sumāpitā.
On the bank of the Candabhāgā river, my hermitage was well-made; it was strewn with very pure sand, and the leaf-hut was well-built.
Bên bờ sông Candabhāgā, am thất của tôi được xây dựng tốt đẹp; (nơi ấy) rải đầy cát rất trong sạch, nhà lợp lá được tạo dựng khéo léo.
33.
33.
33.
‘‘Uttānakūlā nadikā, supatitthā manoramā;
Macchakacchapasampannā †, susumāranisevitā.
The river has shallow banks, good fords, and is delightful; it is teeming with fish and turtles, and frequented by crocodiles.
Dòng sông nhỏ có bờ cạn, bến nước tốt đẹp, và khả ái. (Nơi ấy) đầy dẫy cá và rùa, và là nơi cá sấu thường lui tới.
34.
34.
34.
‘‘Acchā dīpī ca mayūrā, karavīkā ca sāḷikā;
Kūjanti sabbadā ete, sobhayantā mamassamaṃ.
Bears, leopards, peacocks, karavīka birds, and mynas—these always sing, beautifying my hermitage.
Các loài gấu, báo đốm, công, chim tu hú, và chim sáo, những loài vật này luôn luôn hót líu lo, làm cho am thất của tôi thêm lộng lẫy.
35.
35.
35.
‘‘Kokilā mañjubhāṇī ca, haṃsā ca madhurassarā;
Abhikūjanti te tattha, sobhayantā mamassamaṃ.
Cuckoos with lovely voices and swans with sweet sounds—there they sing loudly, beautifying my hermitage.
Các loài chim cu có tiếng hót du dương, và các loài thiên nga có âm thanh ngọt ngào; chúng hót vang ở nơi ấy, làm cho am thất của tôi thêm lộng lẫy.
36.
36.
36.
‘‘Sīhā byagghā varāhā ca, accha † kokataracchakā;
Giriduggamhi nādenti, sobhayantā mamassamaṃ.
Lions, tigers, boars, bears, wolves, and hyenas—they roar in the mountain fastness, beautifying my hermitage.
Các loài sư tử, cọp, heo rừng, gấu, chó sói, và linh cẩu; chúng rống lên ở nơi hẻm núi hiểm trở, làm cho am thất của tôi thêm lộng lẫy.
37.
37.
37.
‘‘Eṇīmigā ca sarabhā, bheraṇḍā sūkarā bahū;
Giriduggamhi nādenti, sobhayantā mamassamaṃ.
Black antelopes, sarabha deer, jackals, and many boars—they call out in the mountain fastness, beautifying my hermitage.
Các loài nai eṇī, nai sarabha, chó rừng, và nhiều loài heo rừng; chúng kêu lên ở nơi hẻm núi hiểm trở, làm cho am thất của tôi thêm lộng lẫy.
38.
38.
38.
‘‘Uddālakā campakā ca, pāṭalī sinduvārakā;
Atimuttā asokā ca, sobhayanti mamassamaṃ †.
Uddālaka, campaka, pāṭalī, sinduvāraka, atimutta, and asoka trees beautify my hermitage.
Các loài cây uddālaka, cây campaka, cây pāṭalī, cây sinduvāraka, cây atimuttā, và cây asoka làm cho am thất của tôi thêm lộng lẫy.
39.
39.
39.
‘‘Aṅkolā yūthikā ceva, sattalī bimbijālikā;
Kaṇikārā ca pupphanti, sobhayantā mamassamaṃ †.
Aṅkola, yūthikā, sattalī, bimbijālikā, and kaṇikāra plants bloom, beautifying my hermitage.
Các loài cây aṅkola, cây yūthikā, cây sattalī, cây bimbijālikā, và cây kaṇikāra nở hoa, làm cho am thất của tôi thêm lộng lẫy.
40.
40.
40.
‘‘Nāgā sālā ca saḷalā, puṇḍarīkettha pupphitā;
Dibbagandhaṃ sampavantā, sobhayanti mamassamaṃ.
Nāga, sāla, and salaḷa trees, and puṇḍarīka lotuses are in bloom here; spreading a divine fragrance, they beautify my hermitage.
Ở nơi đây, các loài cây nāga, cây sāla, cây salaḷa, và hoa sen trắng puṇḍarīka đang nở rộ; tỏa ra hương thơm của chư thiên, chúng làm cho am thất của tôi thêm lộng lẫy.
41.
41.
41.
‘‘Ajjunā asanā cettha, mahānāmā ca pupphitā;
Sālā ca kaṅgupupphā ca, sobhayanti mamassamaṃ.
Here the arjuna, asana, and mahānāma trees are in bloom; the sāla and kaṅgupuppha trees also beautify my hermitage.
Ở nơi đây, các loài cây ajjuna, cây asana, và cây mahānāma đang nở rộ; các loài cây sāla và cây kaṅgupuppha làm cho am thất của tôi thêm lộng lẫy.
42.
42.
42.
‘‘Ambā jambū ca tilakā, nimbā ca sālakalyāṇī;
Dibbagandhaṃ sampavantā, sobhayanti mamassamaṃ.
Mango, rose-apple, tilaka, and neem trees, and the beautiful sāla trees, spreading a divine fragrance, beautify my hermitage.
Các loài cây xoài, cây jambū, cây tilaka, cây nimba, và cây sālakalyāṇī tỏa ra hương thơm của chư thiên, làm cho am thất của tôi thêm lộng lẫy.
43.
43.
43.
‘‘Asokā ca kapiṭṭhā ca, girimālettha † pupphitā;
Dibbagandhaṃ sampavantā, sobhayanti mamassamaṃ.
Asoka and kapiṭṭha trees and mountain garlands are in bloom here; spreading a divine fragrance, they beautify my hermitage.
Ở nơi đây, các loài cây asoka, cây kapiṭṭha, và các loài hoa dại trên núi đang nở rộ; tỏa ra hương thơm của chư thiên, chúng làm cho am thất của tôi thêm lộng lẫy.
44.
44.
44.
‘‘Kadambā kadalī ceva, isimuggā ca ropitā;
Dhuvaṃ phalāni dhārenti, sobhayantā mamassamaṃ.
Kadamba and plantain trees, and planted hermit's beans, always bear fruit, beautifying my hermitage.
Các loài cây kadamba, cây chuối, và đậu của ẩn sĩ được trồng; chúng luôn luôn sai quả, làm cho am thất của tôi thêm lộng lẫy.
45.
45.
45.
‘‘Harītakā āmalakā, ambajambuvibhītakā;
Kolā bhallātakā billā, phalino mama assame.
Harītaka, āmalaka, mango, rose-apple, vibhītaka, jujube, bhallātaka, and bael trees are fruit-bearing in my hermitage.
Các loài cây harītaka, āmalaka, xoài, jambū, vibhītaka, kola, bhallātaka, và billa đều sai quả ở trong am thất của tôi.
46.
46.
46.
‘‘Avidūre pokkharaṇī, supatitthā manoramā;
Mandālakehi sañchannā, padumuppalakehi ca.
Not far away is a lotus pond, with good fords and delightful; it is covered with mandālaka flowers, and with red and blue lotuses.
Không xa (am thất) có một hồ sen, bến nước tốt đẹp và khả ái; (hồ ấy) được bao phủ bởi các loài hoa mandālaka, hoa sen hồng và hoa sen xanh.
47.
47.
47.
‘‘Gabbhaṃ gaṇhanti padumā, aññe pupphanti kesarī;
Opattakaṇṇikā ceva, pupphanti mama assame.
Some lotuses are forming buds, others bloom displaying their filaments, and still others, with petals fallen, bloom in my hermitage.
Các đóa sen đang kết nụ, những đóa khác thì nở bung nhụy; và cũng có những đóa chỉ còn lại đài sen, chúng nở hoa ở trong am thất của tôi.
48.
48.
48.
‘‘Pāṭhīnā pāvusā macchā, balajā muñjarohitā;
Acchodakamhi vicaraṃ, sobhayanti mamassamaṃ.
Pāṭhīna, pāvusa, balaja, muñja, and rohita fish, moving about in the clear water, beautify my hermitage.
Các loài cá pāṭhīna, pāvusa, balaja, muñja, và rohita bơi lội trong làn nước trong, làm cho am thất của tôi thêm lộng lẫy.
49.
49.
49.
‘‘Nayitā ambagandhī ca, anukūle ca ketakā;
Dibbagandhaṃ sampavantā, sobhayanti mamassamaṃ.
Nayitā and ambagandhī plants, and ketaka plants on the bank, spreading a divine fragrance, beautify my hermitage.
Các loài cây nayitā, cây có hương xoài, và cây ketakā ở trên bờ; chúng tỏa ra hương thơm của chư thiên, làm cho am thất của tôi thêm lộng lẫy.
50.
50.
50.
‘‘Madhu bhisamhā savati, khīrasappi muḷālibhi;
Dibbagandhaṃ sampavantā, sobhayanti mamassamaṃ.
Honey flows from lotus stalks, milk and ghee from lotus roots; and divine fragrances spread, beautifying my hermitage.
Mật ngọt chảy ra từ ngó sen, sữa và bơ lỏng chảy ra từ củ sen; tỏa ra hương thơm của chư thiên, chúng làm cho am thất của tôi thêm lộng lẫy.
51.
51.
51.
‘‘Pulinā sobhanā tattha, ākiṇṇā jalasevitā;
Opupphā pupphitā senti, sobhayantā mamassamaṃ.
There, beautiful sands are strewn; water-side flowering plants are in bloom, beautifying my hermitage.
Ở nơi ấy, các bãi cát xinh đẹp được rải khắp; các loài cây hoa sống gần nước đang nở rộ, làm cho am thất của tôi thêm lộng lẫy.
52.
52.
52.
‘‘Jaṭābhārena bharitā, ajinuttaravāsanā;
Vākacīradharā sabbe, sobhayanti mamassamaṃ.
Laden with the burden of their matted hair, wearing upper garments of antelope hide, all wearing bark-fiber robes, they beautify my hermitage.
Tất cả (các vị ẩn sĩ) mang gánh nặng của búi tóc, mặc da thú làm y trên, và mặc y vỏ cây; họ làm cho am thất của tôi thêm lộng lẫy.
53.
53.
53.
‘‘Yugamattamapekkhantā, nipakā santavuttino;
Kāmabhoge anapekkhā, vasanti mama assame.
Looking a yoke’s length ahead, prudent, of peaceful conduct, and without longing for sensual pleasures, they dwell in my hermitage.
Họ nhìn trong khoảng một tầm ách, là những người thận trọng, có hạnh kiểm an tịnh; không luyến tiếc các dục lạc, họ trú ngụ trong am thất của tôi.
54.
54.
54.
‘‘Parūḷhakacchanakhalomā, paṅkadantā rajassirā;
Rajojalladharā sabbe, vasanti mama assame.
“With overgrown armpit hair, nails, and body hair, with mud-caked teeth and dust on their heads, all bearing dirt and grime, they dwell in my hermitage.”
Tất cả (các vị ẩn sĩ) có lông nách, móng tay, và lông tóc mọc dài, răng dính cáu bẩn, đầu bám đầy bụi, và mình mang theo bụi bẩn; họ trú ngụ trong am thất của tôi.
55.
55.
55.
‘‘Abhiññāpāramippattā, antalikkhacarā ca te;
Uggacchantā nabhaṃ ete, sobhayanti mamassamaṃ.
“Having attained the perfection of the supernormal powers, they travel through the air; rising up into the sky, these ascetics beautify my hermitage.”
Họ là những vị đã đạt đến bờ kia của các thắng trí, và có thể đi lại trong hư không; những vị này bay lên bầu trời, làm cho am thất của tôi thêm lộng lẫy.
56.
56.
56.
‘‘Tehi sissehi parivuto, vasāmi vipine tadā;
Rattindivaṃ na jānāmi, sadā jhānasamappito.
“Surrounded by those disciples, I dwelt in the forest then. Always devoted to jhāna, I knew not night and day.”
Khi ấy, được các vị đệ tử ấy vây quanh, tôi trú ngụ trong khu rừng; luôn luôn chuyên tâm vào thiền định, tôi không biết đến ngày và đêm.
57.
57.
57.
‘‘Bhagavā tamhi samaye, atthadassī mahāmuni;
Tamandhakāraṃ nāsento, uppajji lokanāyako.
“At that time, the Blessed One, the great sage Atthadassī, leader of the world, arose, dispelling the darkness of ignorance.”
Vào thời điểm ấy, đức Thế Tôn, bậc Đại Ẩn Sĩ Atthadassī, bậc Lãnh Đạo Thế Gian đã xuất hiện, Ngài đã phá tan đi bóng tối (vô minh).
58.
58.
58.
‘‘Atha aññataro sisso, āgacchi mama santikaṃ;
Mante ajjhetukāmo so, chaḷaṅgaṃ nāma lakkhaṇaṃ.
“Then a certain disciple came into my presence, desiring to study the lore known as the ‘Six-Limbed Characteristic’ in the Vedas.”
Khi ấy, có một vị đệ tử nào đó đã đi đến chỗ của tôi; vị ấy có mong muốn học hỏi về tướng pháp có tên là Chaḷaṅga (Sáu Chi Phần) ở trong các câu chú.
59.
59.
59.
‘‘Buddho loke samuppanno, atthadassī mahāmuni;
Catusaccaṃ pakāsento, deseti amataṃ padaṃ.
“A Buddha has arisen in the world, the great sage Atthadassī. Proclaiming the Four Truths, he teaches the deathless state.”
(Vị ấy nói): ‘Một vị Phật đã xuất hiện ở thế gian, là bậc Đại Ẩn Sĩ Atthadassī. Ngài tuyên thuyết về Tứ Thánh Đế và giảng dạy về trạng thái bất tử.’
60.
60.
60.
‘‘Tuṭṭhahaṭṭho pamudito, dhammantaragatāsayo;
Assamā abhinikkhamma, idaṃ vacanamabraviṃ.
“Pleased, joyful, and delighted, with a mind inclined towards the sublime teaching, I went forth from the hermitage and spoke this utterance:”
Với sự hoan hỷ, vui mừng, và phấn khởi, có tâm tư hướng về Pháp cao thượng, tôi đã đi ra khỏi am thất và đã nói lên lời này.
61.
61.
61.
‘‘‘Buddho loke samuppanno, dvattiṃsavaralakkhaṇo;
Etha sabbe gamissāma, sammāsambuddhasantikaṃ’.
“‘A Buddha has arisen in the world, endowed with the thirty-two excellent marks. Come, all of you! We shall go to the presence of the Perfectly Self-Enlightened One.’”
‘Vị Phật, bậc có ba mươi hai tướng tốt, đã xuất hiện ở thế gian. Tất cả hãy đến đây, chúng ta sẽ đi đến nơi đức Chánh Đẳng Giác’.
62.
62.
62.
‘‘Ovādapaṭikarā te, sadhamme pāramiṃ gatā;
Sādhūti sampaṭicchiṃsu, uttamatthagavesakā.
“Those seekers of the highest good, receptive to admonition and having reached perfection in the true Dhamma, accepted, saying, ‘Excellent!’”
Những vị ấy là người vâng theo lời giáo huấn, đã đạt đến sự toàn hảo trong Chánh pháp, là những người tìm cầu mục đích tối thượng, đã chấp nhận rằng: ‘Lành thay’.
63.
63.
63.
‘‘Jaṭābhārabharitā te †, ajinuttaravāsanā;
Uttamatthaṃ gavesantā, nikkhamiṃsu vanā tadā.
“Burdened by the weight of their matted hair, wearing upper garments of black antelope hide, and seeking the highest good, they then went forth from the forest.”
Những vị ấy mang gánh nặng bối tóc, mặc da thú làm áo choàng, trong khi tìm cầu mục đích tối thượng, vào lúc ấy đã đi ra khỏi khu rừng.
64.
64.
64.
‘‘Bhagavā tamhi samaye, atthadassī mahāyaso;
Catusaccaṃ pakāsento, deseti amataṃ padaṃ.
“At that time, the Blessed One, Atthadassī of great renown, proclaiming the Four Truths, taught the deathless state.”
Vào lúc ấy, đức Thế Tôn Atthadassī, bậc có danh tiếng lớn lao, trong khi tuyên thuyết về Tứ đế, đã thuyết giảng về cảnh giới bất tử.
65.
65.
65.
‘‘Setacchattaṃ gahetvāna, buddhaseṭṭhassa dhārayiṃ;
Ekāhaṃ dhārayitvāna, buddhaseṭṭhaṃ avandahaṃ.
“Taking a white parasol, I held it for the Supreme Buddha. Having held it for one day, I paid homage to the Supreme Buddha.”
Sau khi cầm lấy lọng trắng, tôi đã che cho đức Phật tối thượng. Sau khi che trong một ngày, tôi đã đảnh lễ đức Phật tối thượng.
66.
66.
66.
‘‘Atthadassī tu bhagavā, lokajeṭṭho narāsabho;
Bhikkhusaṅghe nisīditvā, imā gāthā abhāsatha.
“Then the Blessed One Atthadassī, foremost in the world, bull among men, having sat down amidst the Saṅgha of bhikkhus, spoke these verses:”
Đức Thế Tôn Atthadassī, bậc trưởng thượng trong thế gian, bậc ngưu vương trong loài người, sau khi ngồi xuống giữa Tăng chúng Tỳ khưu, đã nói lên những câu kệ này.
67.
67.
67.
‘‘‘Yo me chattaṃ adhāresi, pasanno sehi pāṇibhi;
Tamahaṃ kittayissāmi, suṇātha mama bhāsato.
“‘Whoever, with a confident mind, held a parasol for me with his own hands—I shall extol him. Listen to me as I speak.’”
‘Vị nào với tâm tịnh tín đã dùng đôi tay của mình để che lọng cho ta, ta sẽ tán dương vị ấy. Các ngươi hãy lắng nghe lời của ta đang nói đây’.
68.
68.
68.
‘‘‘Imassa jāyamānassa, devatte atha mānuse;
Dhāressati sadā chattaṃ, chattadānassidaṃ phalaṃ.
“‘For this one, whenever he is born, whether among devas or humans, a parasol will always be held over him. This is the fruit of the gift of a parasol.’”
‘Đối với người này, khi được sanh ra trong cõi trời hay cõi người, lọng sẽ luôn được che. Đây là quả báo của việc cúng dường lọng’.
69.
69.
69.
‘‘‘Sattasattatikappāni, devaloke ramissati;
Sahassakkhattuṃ rājā ca, cakkavattī bhavissati.
“‘For seventy-seven aeons, he will delight in the world of the devas. A thousand times he will be a king, a wheel-turning monarch.’”
‘Trong bảy mươi bảy kiếp, vị ấy sẽ hưởng lạc ở cõi trời. Và một ngàn lần, vị ấy sẽ là vị vua Chuyển Luân’.
70.
70.
70.
‘‘‘Sattasattatikkhattuñca, devarajjaṃ karissati;
Padesarajjaṃ vipulaṃ, gaṇanāto asaṅkhiyaṃ.
“‘And seventy-seven times he will exercise sovereignty over the devas. His regional kingship will be vast, innumerable by count.’”
‘Và bảy mươi bảy lần, vị ấy sẽ làm vua cõi trời. Còn vương quyền ở các địa phương rộng lớn thì không thể đếm được bằng cách tính toán’.
71.
71.
71.
‘‘‘Aṭṭhārase kappasate, gotamo sakyapuṅgavo;
Tamandhakāraṃ nāsento, uppajjissati cakkhumā.
“‘In eighteen hundred aeons from now, Gotama, the bull of the Sakyans, the One with Vision, will arise, destroying the darkness of ignorance.’”
‘Trong một ngàn tám trăm kiếp, vị Gotama, bậc ngưu vương của dòng Sakya, bậc có mắt tuệ, trong khi phá tan bóng tối si mê ấy, sẽ xuất hiện’.
72.
72.
72.
‘‘‘Tassa dhammesu dāyādo, oraso dhammanimmito;
Sabbāsave pariññāya, viharissatināsavo’.
“‘He will be an heir in his teachings, a legitimate son created by the Dhamma. Having fully comprehended all the taints, he will dwell taintless.’”
‘Vị ấy sẽ là người thừa tự trong giáo pháp của ngài, là người con đích thực do Pháp tạo ra. Sau khi liễu tri tất cả các lậu hoặc, vị ấy sẽ an trú không còn lậu hoặc’.
73.
73.
73.
‘‘Yato ahaṃ kammamakaṃ, chattaṃ buddhassa dhārayaṃ;
Etthantare na jānāmi, setacchattaṃ adhāritaṃ.
“From when I performed that kamma, holding a parasol for the Buddha, in the interval since, I am not aware of a white parasol not having been held over me.”
Kể từ khi tôi đã thực hiện nghiệp sự che lọng cho đức Phật, trong khoảng thời gian này, tôi không hề biết đến việc không được che lọng trắng.
74.
74.
74.
‘‘Idaṃ pacchimakaṃ mayhaṃ, carimo vattate bhavo;
Chattadhāraṇamajjāpi, vattate niccakālikaṃ.
“This is my final existence; this is the last becoming that occurs. Even today, the holding of a parasol continues for me at all times.”
Đây là kiếp sống cuối cùng của tôi, kiếp sống sau rốt đang diễn ra. Ngay cả hôm nay, việc được che lọng vẫn diễn ra một cách thường xuyên.
75.
75.
75.
‘‘Aho me sukataṃ kammaṃ, atthadassissa tādino;
Sabbāsavā parikkhīṇā, natthi dāni punabbhavo.
“Ah, how well-done was my kamma towards Atthadassī, the Such-like One! All my taints are utterly destroyed; now there is no future becoming.”
Ôi, nghiệp lành của tôi đã được thực hiện tốt đẹp đối với đức Atthadassī, bậc Như Nhiên! Tất cả các lậu hoặc đã được đoạn tận, giờ đây không còn tái sanh nữa.
76.
76.
76.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
“My defilements are burned… I dwell free of taints.”
Các phiền não của tôi đã được đốt cháy... (vân vân)... tôi an trú không còn lậu hoặc.
77.
77.
77.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
“Indeed, my coming was a good one… the Buddha’s teaching has been accomplished.”
Thật vậy, sự đến của tôi là khéo đến... (vân vân)... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
78.
78.
78.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā ekachattiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti;
“‘The four analytical knowledges… the Buddha’s teaching has been accomplished.’ Thus, indeed, the venerable elder Ekachattiya spoke these verses.”
Bốn Tuệ Phân Tích... (vân vân)... lời dạy của đức Phật đã được thực hành. Như vậy, quả thật Trưởng lão Ekachattiya đã nói lên những câu kệ này.
Ekachattiyattherassāpadānaṃ dutiyaṃ.
The second Apadāna of the Elder Ekachattiya is finished.
Ký sự về trưởng lão Ekachattiya là thứ hai.