Bản dịch
THA -ap413 — Ký Sự về Trưởng Lão Bhaddāli
Bhaddālittheraapadāna
BJT 4268Bậc Toàn Giác tên Sumedha, đấng Bi Mẫn cao cả, vị Hiền Trí, bậc Cao Cả của thế gian có ước muốn độc cư nên đã đi đến núi Hi-mã-lạp.
BJT 4269Sau khi đi sâu vào núi Hi-mã-lạp, đấng Lãnh Đạo Thế Gian, bậc Tối Thượng Nhân Sumedha đã xếp chân kiết già rồi ngồi xuống.
BJT 4270Đấng Lãnh Đạo Thế Gian Sumedha ấy đã thể nhập vào định. Đức Phật bậc Tối Thượng Nhân đã ngồi bảy ngày đêm.
BJT 4271Tôi đã cầm lấy túi vật dụng rồi đã đi sâu vào khu rừng. Tại nơi ấy, tôi đã nhìn thấy đấng Toàn Giác, bậc đã vượt qua dòng nước lũ, không còn lậu hoặc.
BJT 4272Khi ấy, tôi đã cầm lấy cây chổi và đã quét khu ẩn cư. Sau khi dựng lên bốn cây cọc, tôi đã tạo nên cái mái che.
BJT 4273Sau khi mang lại bông hoa sālā, tôi đã che phủ mái che. Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã đảnh lễ đức Như Lai.
BJT 4274Người ta nói về bậc thông thái có trí tuệ bao la là “Sumedha.” Ngài đã ngồi xuống ở hội chúng tỳ khưu và đã nói lên những lời kệ này.
BJT 4275Nhận biết lời nói của đức Phật, tất cả chư Thiên đã tụ hội lại. Quả nhiên, đức Phật tối thượng bậc Hữu Nhãn (đã) thuyết giảng Giáo Pháp.
BJT 4276Đấng Toàn Giác tên Sumedha, vị thọ nhận các vật hiến cúng, đã ngồi xuống ở hội chúng chư Thiên và đã nói lên những lời kệ này:
BJT 4277“Người nào đã duy trì mái che được che phủ bằng bông hoa sālā cho Ta suốt bảy ngày, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hãy lắng nghe Ta nói.
BJT 4278Dầu trở thành vị Thiên nhân hay nhân loại, (người này) sẽ có làn da màu vàng chói, sẽ có của cải dồi dào, sẽ có sự thọ hưởng các dục lạc.
BJT 4279Sáu mươi ngàn con voi loài long tượng được trang hoàng với tất cả các loại trang sức, có chuông vàng, có trang phục yên cương bằng vàng.
BJT 4280Được cỡi bởi các vị trưởng làng có các bàn tay cầm giáo và móc câu, chúng sẽ đi đến phục vụ người nam này sáng chiều. Được hộ tống bởi những con long tượng ấy, người nam này sẽ vui sướng.
BJT 4281Sáu mươi ngàn con ngựa dòng Sindhu với sự sanh ra được thuần chủng, là phương tiện vận chuyển nhanh chóng, được trang hoàng với tất cả các loại trang sức.
BJT 4282Được cỡi bởi các vị trưởng làng có mang cung với gươm, chúng sẽ thường xuyên hộ tống tôi; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 4283Sáu mươi ngàn cỗ xe được trang hoàng với tất cả các loại trang sức, có các mảnh da báo và cả da hổ được bày biện, có các ngọn cờ được giương cao.
BJT 4284Được cỡi bởi các vị trưởng làng có các tay cầm cung mang áo giáp, chúng sẽ thường xuyên hộ tống tôi; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 4285Sẽ luôn luôn hiện hữu sáu mươi ngàn ngôi làng có đầy đủ tất cả, có tài sản và lúa gạo dồi dào, được thành công tốt đẹp về mọi mặt; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 4286Các con voi, các con ngựa, các cỗ xe, các binh lính và quân đội gồm bốn binh chủng sẽ thường xuyên hộ tống người này; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 4287(Người này) sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên trong một ngàn tám trăm kiếp, và sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương một ngàn lần.
BJT 4288Và (người này) sẽ cai quản Thiên quốc ba trăm lần. Lãnh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.
BJT 4289Vào ba mươi ngàn kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 4290Là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, (người này) sẽ biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc và sẽ sống không còn lậu hoặc.”
BJT 4291Tôi đã nhìn thấy đấng Lãnh Đạo Thế Gian cách đây ba mươi ngàn kiếp, trong khoảng thời gian này tôi đã tầm cầu vị thế Bất Tử.
BJT 4292Điều lợi ích cho tôi đã được tôi đạt thành một cách tốt đẹp là tôi đã hiểu được Giáo Pháp, tam minh đã được thành tựu, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
BJT 4293Bạch đấng Siêu Nhân, con kính lễ Ngài! Bạch đấng Tối Thượng Nhân, con kính lễ Ngài! Sau khi tán dương trí tuệ của Ngài, con đã đạt được vị thế Bất Động.
BJT 4294Nơi chốn nào tôi đi tái sanh dầu là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, tôi đều được sung sướng ở tất cả các nơi, là quả báu của tôi về việc tán dương trí tuệ.
BJT 4295Lần sau cùng này của tôi là sự hiện hữu cuối cùng trong sự luân chuyển. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 4296Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 4297Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 4298Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Bhaddāli đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Bhaddāli là phần thứ nhất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
1. Bhaddālittheraapadānaṃ
1. The Apadāna of the Elder Bhaddāli
1. Phẩm Hạnh Cảnh của Trưởng lão Bhaddāli
1.
1.
1.
‘‘Sumedho nāma sambuddho, aggo kāruṇiko muni;
Vivekakāmo lokaggo, himavantamupāgami.
The Perfectly Enlightened One named Sumedha, the foremost, the compassionate sage, supreme in the world and desiring solitude, approached the Himavanta.
Đấng Chánh Đẳng Giác tên là Sumedha, bậc Tối Thượng, bậc Bi Mẫn, bậc Ẩn Sĩ, bậc Tối Thắng trong thế gian, vì mong muốn sự độc cư, đã đi đến dãy Hy-mã-lạp.
2.
2.
2.
‘‘Ajjhogāhetvā himavaṃ, sumedho lokanāyako;
Pallaṅkaṃ ābhujitvāna, nisīdi purisuttamo.
Having entered the Himavanta, Sumedha, the leader of the world, the supreme among men, sat down cross-legged.
Sau khi đi vào dãy Hy-mã-lạp, đức Sumedha, bậc Lãnh Đạo Thế Gian, bậc Tối Thượng Nhân, đã ngồi xuống trong thế kiết-già.
3.
3.
3.
‘‘Samādhiṃ so samāpanno, sumedho lokanāyako;
Sattarattindivaṃ buddho, nisīdi purisuttamo.
That Buddha, Sumedha, the leader of the world, the supreme among men, having entered meditative attainment, sat for seven days and nights.
Vị ấy đã nhập định, đức Sumedha, bậc Lãnh Đạo Thế Gian, bậc Tối Thượng Nhân, đức Phật đã ngồi như thế trong bảy ngày bảy đêm.
4.
4.
4.
‘‘Khāribhāraṃ † gahetvāna, vanamajjhogahiṃ ahaṃ;
Tatthaddasāsiṃ sambuddhaṃ, oghatiṇṇamanāsavaṃ.
Taking up the carrying-pole with its load, I entered the forest. There I saw the Perfectly Enlightened One, who had crossed over the flood and was free from taints.
Tôi đã mang theo gánh hành trang của đạo sĩ và đi vào rừng. Ở đó, tôi đã nhìn thấy đấng Chánh Đẳng Giác, bậc đã vượt qua bộc lưu, bậc không còn lậu hoặc.
5.
5.
5.
‘‘Sammajjaniṃ gahetvāna, sammajjitvāna assamaṃ;
Catudaṇḍe ṭhapetvāna, akāsiṃ maṇḍapaṃ tadā.
Taking a broom and sweeping the hermitage, having set up four posts, I then made a pavilion.
Khi ấy, sau khi đã lấy chổi, sau khi đã quét dọn tịnh xá, sau khi đã dựng lên bốn cây cột, tôi đã làm cái lều.
6.
6.
6.
‘‘Sālapupphaṃ āharitvā, maṇḍapaṃ chādayiṃ ahaṃ;
Pasannacitto sumano, abhivandiṃ tathāgataṃ.
Having brought sāla flowers, I roofed the pavilion. With a confident mind and joyful heart, I paid homage to the Tathāgata.
Tôi đã mang đến hoa sa-la, đã lợp cái lều. Với tâm tịnh tín, với tâm hoan hỷ, tôi đã đảnh lễ đấng Như Lai.
7.
7.
7.
‘‘Yaṃ vadanti sumedhoti, bhūripaññaṃ sumedhasaṃ;
Bhikkhusaṅghe nisīditvā, imā gāthā abhāsatha.
He whom they call ‘Sumedha,’ one of vast wisdom, of good wisdom—having sat amidst the community of monks, he spoke these verses.
Vị nào được gọi là Sumedha, bậc có trí tuệ rộng lớn, bậc có trí tuệ tốt đẹp, sau khi ngự tọa giữa chúng Tỳ khưu, Ngài đã nói lên những câu kệ này.
8.
8.
8.
‘‘‘Buddhassa giramaññāya, sabbe devā samāgamuṃ;
Asaṃsayaṃ buddhaseṭṭho, dhammaṃ deseti cakkhumā.
Having understood the Buddha’s utterance, all the devas assembled, thinking: ‘Without a doubt, the supreme Buddha, the one with vision, teaches the Dhamma.’
‘Sau khi biết được lời nói của đức Phật, tất cả chư Thiên đã tụ hội. Không còn nghi ngờ gì nữa, bậc Phật Tối Thắng, bậc có năm loại nhãn, đang thuyết giảng Chánh Pháp.’
9.
9.
9.
‘‘‘Sumedho nāma sambuddho, āhutīnaṃ paṭiggaho;
Devasaṅghe nisīditvā, imā gāthā abhāsatha.
The Perfectly Enlightened One named Sumedha, worthy recipient of offerings, having sat in the assembly of devas, spoke these verses.
‘Đức Chánh Đẳng Giác tên là Sumedha, bậc xứng đáng thọ nhận các vật cúng dường, sau khi ngự tọa giữa chúng chư Thiên, Ngài đã nói lên những câu kệ này.’
10.
10.
10.
‘‘‘Yo me sattāhaṃ maṇḍapaṃ, dhārayī sālachāditaṃ;
Tamahaṃ kittayissāmi, suṇātha mama bhāsato.
‘He who for seven days maintained for me the pavilion roofed with sāla flowers, him I shall proclaim. Listen to me as I speak.
‘Người nào đã dâng cúng cho ta cái lều được lợp bằng hoa sa-la trong suốt bảy ngày, ta sẽ thọ ký về người ấy. Các ngươi hãy lắng nghe lời của ta đang nói đây.’
11.
11.
11.
‘‘‘Devabhūto manusso vā, hemavaṇṇo bhavissati;
Pahūtabhogo hutvāna, kāmabhogī bhavissati.
‘Whether he becomes a deva or a human, he will have a golden complexion. Having become one of great possessions, he will be an enjoyer of sensual pleasures.
‘Dù là chư Thiên hay là người, vị ấy sẽ có sắc da vàng ròng. Sau khi có được nhiều tài sản, vị ấy sẽ là người hưởng thụ các dục lạc.’
12.
12.
12.
‘‘‘Saṭṭhi nāgasahassāni, sabbālaṅkārabhūsitā;
Suvaṇṇakacchā mātaṅgā, hemakappanavāsasā.
‘Sixty thousand elephants, adorned with all ornaments, with golden girths, great beasts, covered with golden trappings and cloths.
‘Sáu mươi ngàn con voi, được trang hoàng với tất cả đồ trang sức, những con voi lớn có dây đai bằng vàng, được phủ bằng đồ trang sức bằng vàng.
13.
13.
13.
‘‘‘Ārūḷhā gāmaṇīyehi, tomaraṅkusapāṇibhi;
Sāyaṃ pāto † upaṭṭhānaṃ, āgamissantimaṃ naraṃ;
‘Mounted by warriors with spears and goads in hand, they will come to attend upon this man in the evening and the morning.
‘Được cưỡi bởi những người quản tượng, tay cầm lao và móc sắt, sẽ đến với người này để phục vụ vào buổi sáng và buổi chiều;
Tehi nāgehi parivuto, ramissati ayaṃ naro.
Surrounded by those elephants, this man will find delight.
Người này, được vây quanh bởi những con voi ấy, sẽ được vui hưởng.’
14.
14.
14.
‘‘‘Saṭṭhi assasahassāni, sabbālaṅkārabhūsitā;
Ājānīyāva jātiyā, sindhavā sīghavāhino.
‘Sixty thousand horses, adorned with all ornaments, thoroughbreds by birth, of the Sindh breed, swift carriers.
‘Sáu mươi ngàn con ngựa, được trang hoàng với tất cả đồ trang sức, thuộc dòng dõi thuần chủng, giống ngựa Sindh, chạy nhanh.
15.
15.
15.
‘‘‘Ārūḷhā gāmaṇīyehi, illiyācāpadhāribhi;
Parivāressantimaṃ niccaṃ, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
‘Mounted by warriors bearing swords and bows, they will always surround this man. This is the fruit of worshipping the Buddha.
‘Được cưỡi bởi những kỵ sĩ, tay cầm cung tên, sẽ luôn luôn vây quanh người này. Đây là quả báu của việc cúng dường đức Phật.’
16.
16.
16.
‘‘‘Saṭṭhi rathasahassāni, sabbālaṅkārabhūsitā;
Dīpā athopi veyagghā, sannaddhā ussitaddhajā.
‘Sixty thousand chariots, adorned with all ornaments, covered with leopard and tiger skins, fully equipped, with banners raised.
‘Sáu mươi ngàn cỗ xe, được trang hoàng với tất cả đồ trang sức, được bọc da báo và da cọp, được trang bị đầy đủ, có cờ xí được dựng lên.
17.
17.
17.
‘‘‘Ārūḷhā gāmaṇīyehi, cāpahatthehi vammibhi;
Parivāressantimaṃ niccaṃ, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Sixty thousand chariots, mounted by warriors with bows in hand and wearing armor, will always surround this man. This is the fruit of worshipping the Buddha.
‘Được điều khiển bởi những người đánh xe, tay cầm cung, mình mặc áo giáp, sẽ luôn luôn vây quanh người này. Đây là quả báu của việc cúng dường đức Phật.’
18.
18.
18.
‘‘‘Saṭṭhi gāmasahassāni, paripuṇṇāni sabbaso;
Pahūtadhanadhaññāni, susamiddhāni sabbaso;
Sadā pātubhavissanti, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Sixty thousand villages, complete in every way, with abundant wealth and grain, highly prosperous in every way, will always manifest. This is the fruit of worshipping the Buddha.
‘Sáu mươi ngàn ngôi làng, hoàn toàn sung túc, có nhiều của cải và lúa gạo, hoàn toàn thịnh vượng, sẽ luôn luôn xuất hiện. Đây là quả báu của việc cúng dường đức Phật.’
19.
19.
19.
‘‘‘Hatthī assā rathā pattī, senā ca caturaṅginī;
Parivāressantimaṃ niccaṃ, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Elephants, horses, chariots, and infantry—the four-division army—will always surround this man. This is the fruit of worshipping the Buddha.
‘Quân đội gồm bốn binh chủng: tượng binh, kỵ binh, xa binh, và bộ binh sẽ luôn luôn vây quanh người này. Đây là quả báu của việc cúng dường đức Phật.’
20.
20.
20.
‘‘‘Aṭṭhārase kappasate, devaloke ramissati;
Sahassakkhattuṃ rājā ca, cakkavattī bhavissati.
For eighteen hundred aeons he will delight in the deva world. A thousand times he will be a wheel-turning king.
‘Trong một ngàn tám trăm đại kiếp, vị ấy sẽ vui hưởng ở cõi trời. Và một ngàn lần, vị ấy sẽ là vị vua Chuyển Luân Vương.’
21.
21.
21.
‘‘‘Satānaṃ tīṇikkhattuñca, devarajjaṃ karissati;
Padesarajjaṃ vipulaṃ, gaṇanāto asaṅkhiyaṃ.
Three hundred times he will exercise sovereignty over the devas. His sovereignty as a regional king over a vast domain will be uncountable.
‘Và ba trăm lần, vị ấy sẽ làm vua cõi trời. Còn làm vua các xứ nhỏ rộng lớn thì không thể đếm được về số lượng.’
22.
22.
22.
‘‘‘Tiṃsakappasahassamhi, okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena, satthā loke bhavissati.
In thirty thousand aeons, born into the Okkāka clan, a Teacher named Gotama by clan will arise in the world.
‘Trong ba mươi ngàn đại kiếp, một vị sanh ra trong dòng dõi Okkāka, có tên tộc là Gotama, bậc Đạo Sư sẽ xuất hiện trên thế gian.’
23.
23.
23.
‘‘‘Tassa dhammesu dāyādo, oraso dhammanimmito;
Sabbāsave pariññāya, viharissatināsavo’.
He will be an heir to his Dhamma, a legitimate son created by the Dhamma. Having fully comprehended all the taints, he will dwell free from taints.
‘Vị ấy sẽ là người thừa tự Chánh Pháp của Ngài, là người con chân chánh, được sanh ra từ Chánh Pháp. Sau khi liễu tri tất cả các lậu hoặc, vị ấy sẽ trú ngụ trong trạng thái vô lậu.’
24.
24.
24.
‘‘Tiṃsakappasahassamhi, addasaṃ lokanāyakaṃ;
Etthantaramupādāya, gavesiṃ amataṃ padaṃ.
Thirty thousand aeons ago, I saw the Leader of the World. From that time onwards, I sought the deathless state.
Trong ba mươi ngàn đại kiếp, tôi đã thấy bậc Lãnh Đạo thế gian. Kể từ đó, tôi đã tìm cầu trạng thái bất tử.
25.
25.
25.
‘‘Lābhā mayhaṃ suladdhaṃ me, yamahaññāsi sāsanaṃ;
Tisso vijjā anuppattā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
A gain it is for me, well-gained it is by me, that I have come to know the Teaching. The three knowledges have been attained; the Buddha’s Dispensation has been fulfilled.
Thật là lợi ích cho tôi, thật là khéo được cho tôi, việc tôi đã biết được giáo pháp này. Ba minh đã được chứng đắc, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
26.
26.
26.
‘‘Namo te purisājañña, namo te purisuttama;
Tava ñāṇaṃ pakittetvā, pattomhi acalaṃ padaṃ.
Homage to you, O thoroughbred of men! Homage to you, O supreme among men! Having praised your knowledge, I have attained the unshakeable state.
Xin đảnh lễ Ngài, bậc Trượng Phu Điều Ngự. Xin đảnh lễ Ngài, bậc Tối Thượng Nhân. Sau khi đã tán dương trí tuệ của Ngài, con đã đạt đến trạng thái bất động.
27.
27.
27.
‘‘Yaṃ yaṃ yonupapajjāmi, devattaṃ atha mānusaṃ;
Sabbattha sukhito homi, phalaṃ me ñāṇakittane.
Whatever existence I am reborn into, whether divine or human, everywhere I am happy. This is the fruit for me of praising his knowledge.
Dù con sanh vào bất cứ cảnh giới nào, hoặc là chư Thiên hay là loài người, ở mọi nơi con đều được an lạc. Đây là quả báu của con trong việc tán dương trí tuệ (của Ngài).
28.
28.
28.
‘‘Idaṃ pacchimakaṃ mayhaṃ, carimo vattate bhavo;
Nāgova bandhanaṃ chetvā, viharāmi anāsavo.
This is my last existence; my final becoming is occurring. Like a great elephant having broken its bonds, I dwell without taints.
Đây là (thân) cuối cùng của tôi, kiếp sống cuối cùng đang diễn ra. Giống như con voi chúa cắt đứt các dây trói, tôi trú ngụ không còn lậu hoặc.
29.
29.
29.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ, bhavā sabbe samūhatā;
Nāgova bandhanaṃ chetvā, viharāmi anāsavo.
My defilements have been burned up; all states of existence have been uprooted. Like a great elephant having broken its bonds, I dwell without taints.
Các phiền não của tôi đã được đốt cháy, tất cả các kiếp hữu đã được nhổ sạch. Giống như con voi chúa cắt đứt các dây trói, tôi trú ngụ không còn lậu hoặc.
30.
30.
30.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi, mama buddhassa santike;
Tisso vijjā anuppattā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Indeed, my coming into the presence of the Buddha was a welcome one. The three knowledges have been attained; the Buddha’s Dispensation has been fulfilled.
Thật vậy, sự đến của tôi đã là sự đến tốt đẹp, (sự đến) gần bên đức Phật của tôi. Ba minh đã được chứng đắc, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
31.
31.
31.
‘‘Paṭisambhidā catasso, vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, these eight liberations, and the six supernormal knowledges have been realized; the Buddha’s Dispensation has been fulfilled.
Bốn Tuệ Phân Tích, và tám giải thoát này, sáu thắng trí đã được chứng ngộ. Lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā bhaddālitthero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus the Venerable Elder Bhaddāli spoke these verses.
Như vậy, quả thật Trưởng lão Bhaddāli đã nói lên những câu kệ này.
Bhaddālittherassāpadānaṃ paṭhamaṃ.
The First Apadāna of the Elder Bhaddāli.
Thiên truyện thứ nhất về Trưởng lão Bhaddāli.