Bản dịch
THA -ap412 — Ký Sự về Trưởng Lão Udena
Udenattheraapadāna
BJT 4219Ở không xa núi Hi-mã-lạp, có ngọn núi tên là Paduma, có khu ẩn cư của tôi đã khéo được xây dựng, có gian nhà rộng bằng lá đã khéo được tạo lập.
BJT 4220Các con sông chảy qua nơi ấy có những bến nước cạn xinh xắn làm thích ý. Các con sông luôn luôn có nước trong, có nước mát, xinh đẹp.
BJT 4221Có các loài cá như là cá pāṭhīna, cá pāvusa, cá valaja, cá muñja, và cá rohita.Những loài cá này thường xuyên sống ở dòng sông, đồng thời làm cho các con sông trở nên rực rỡ.
BJT 4222(Các con sông) được che phủ bởi các cây xoài và cây mận. Tương tợ như thế, có các cây bông hường, cây tilaka, cây bả đậu, cây hoa kèn làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
BJT 4223Các cây aṅkolaka, cây bimbijāla, và cây māyākārīđược trổ hoa, trong khi tỏa ra hương thơm chúng làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
BJT 4224Các cây atimutta, cây sattalika, cây nāga, và cây sālāđược trổ hoa, trong khi tỏa ra hương thơm của cõi trời chúng làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
BJT 4225Các cây kosamba, cây salala, cây nīpa, và cây aṭṭhaṅgakhéo được trổ hoa, trong khi tỏa ra hương thơm của cõi trời chúng làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
BJT 4226Ở khu ẩn cư có nhiều loại trái cây như trái harītaka, trái āmalaka, trái xoài, trái mận đỏ, trái vibhīṭaka, trái táo, trái bhallātaka, và trái billa.
BJT 4227Tại nơi ấy, ở khu ẩn cư của tôi các cây kalamba, cây kandalītrổ hoa, trong khi tỏa ra hương thơm của cõi trời chúng làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
BJT 4228Các cây asokapiṇḍī, cây varī, và cây nimbađược trổ hoa, trong khi tỏa ra hương thơm của cõi trời chúng làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
BJT 4229Các cây punnāga, cây giripunnāga, cây timiraở tại nơi ấy được trổ hoa, trong khi tỏa ra hương thơm của cõi trời chúng làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
BJT 4230Các cây nigguṇḍī, cây sirinigguṇḍī, cây campaở tại nơi này được trổ hoa, trong khi tỏa ra hương thơm của cõi trời chúng làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
BJT 4231Không xa có cái hồ nước được líu lo bởi loài ngỗng đỏ, được che phủ bởi các cây mạn-đà-la, bởi các bông sen xanh và các bông sen đỏ.
BJT 4232Có bến nước cạn xinh xắn làm thích ý, có nước trong, có nước mát, trong vắt tương tợ ngọc pha-lê, (cái hồ nước) làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
BJT 4233Ở tại nơi ấy, có các bông sen xanh, các bông sen trắng, và các bông sen đỏ nở rộ. Được che phủ bởi các cây mạn-đà-la, (cái hồ nước) làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
BJT 4234Có các loại cá như là cá pāṭhīna, cá pāvusa, cá valaja, cá muñja, cá rohita. Và trong khi thơ thẩn ở tại nơi ấy, chúng làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
BJT 4235Có các con cá sấu kumbhīla, cá sấu suṁsumāra, các con rùa, các con gaha, các con rắn, và các con mãng xà làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
BJT 4236Và ở tại nơi ấy có các loài sống ở sông như chim bồ câu, ngỗng trời, ngỗng đỏ, chim le le, chim sáo, chúng làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
BJT 4237Các cây nayita, cây ambagandhī, và cây dừa dại ở tại nơi ấy được trổ hoa, trong khi tỏa ra hương thơm của cõi trời chúng làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
BJT 4238Có các con sư tử, cọp, báo, gấu, chó sói, và linh cẩu, trong khi đi lang thang ở khu rừng bao la chúng làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
BJT 4239Có các vị (đạo sĩ) mang các búi tóc, có y choàng là tấm da dê, trong khi đi lang thang ở khu rừng bao la các vị làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
BJT 4240Các vị này mặc các tấm da dê, cẩn trọng, có hành vi thanh tịnh, có hành trang ít ỏi, tất cả các vị ấy làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
BJT 4241Lúc bấy giờ, các vị đã cầm lấy túi vật dụng rồi đi sâu vào rừng. Trong khi thọ thực các rễ và trái cây, các vị thường xuyên sống ở khu ẩn cư.
BJT 4242Các vị ấy không đem lại củi (và) nước rửa chân. Do năng lực của tất cả các vị (các vật dụng) được tự chúng mang lại.
BJT 4243Có tám mươi bốn ngàn vị ẩn sĩ đã tụ hội ở tại nơi này. Tất cả các vị này là các vị tầm cầu mục đích tối thượng, có thiền chứng.
BJT 4244Là các đạo sĩ khổ hạnh, có sự hành trì Phạm hạnh, đang năng nổ trong việc duy trì sự nhập định, có sự di chuyển ở không trung, tất cả các vị thường xuyên sống ở khu ẩn cư.
BJT 4245Mỗi năm ngày, các vị tụ hội lại, có sự chăm chú, có hành vi thanh tịnh. Sau khi đảnh lễ lẫn nhau, các vị ra đi bằng hướng đối nghịch.
BJT 4246Đấng Chiến Thắng tên Padumuttara là bậc thông suốt về tất cả các pháp. Trong khi hủy diệt điều tăm tối ấy, đấng Chiến Thắng đã tức thời hiện khởi.
BJT 4247Ở lân cận khu ẩn cư của tôi có con Dạ-xoa có đại thần lực. Khi ấy, nó đã thông báo cho tôi về đấng Toàn Giác bậc Lãnh Đạo Padumuttara rằng:
BJT 4248“Thưa ngài, đức Phật bậc Đại Hiền Trí Padumuttara này đã xuất hiện. Ngài hãy mau đi đến và phục vụ bậc Toàn Giác.”
BJT 4249Sau khi lắng nghe lời nói của con Dạ-xoa, khi ấy với tâm ý trong sạch, tôi đã xếp đặt lại khu ẩn cư và đã lìa khỏi khu rừng.
BJT 4250Như là mảnh vải đang bốc cháy, sau khi lìa khỏi khu ẩn cư tôi đã trú ngụ (chỉ) một đêm và đã đi đến gặp đấng Hướng Đạo.
BJT 4251Đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, trong khi công bố về bốn Sự Thật đã thuyết giảng về vị thế Bất Tử.
BJT 4252Sau khi cầm lấy đóa sen khéo được nở rộ, tôi đã đi đến gần bậc Đại Ẩn Sĩ. Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã dâng lên đức Phật.
BJT 4253Sau khi cúng dường bậc Toàn Giác, đấng Lãnh Đạo Padumuttara, tôi đã khoác tấm da dê một bên vai rồi đã ngợi ca đấng Lãnh Đạo Thế Gian rằng:
BJT 4254“ĐấngToàn Giác bậc không còn lậu hoặc sống ở thế gian này với trí tuệ nào, tôi sẽ tán dương trí tuệ ấy. Xin các người hãy lắng nghe tôi nói.
BJT 4255Sau khi cắt đứt dòng chảy luân hồi, Ngài đã giúp cho tất cả chúng sanh vượt qua. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của Ngài, họ vượt qua dòng chảy ái dục.
BJT 4256Bạch đấng Tối Thượng của loài người, Ngài là bậc thầy, là biểu hiệu, là ngọn cờ, là mục đích tối cao, là nơi nương tựa, là sự nâng đỡ, là ngọn đèn của chúng sanh.
BJT 4257Bạch đấng Toàn Tri, cho đến những người được gọi là các bậc Xa Phu có đồ chúng ở trên thế gian, Ngài là đấng Cao Cả, tất cả những người ấy đều được gộp chung lại ở Ngài.
BJT 4258Bạch đấng Toàn Tri, bằng trí tuệ của Ngài, Ngài đã giúp cho nhiều người vượt qua. Sau khi đi đến diện kiến Ngài, họ sẽ được chấm dứt khổ đau.
BJT 4259Bạch đấng Hữu Nhãn, bạch đấng Đại Hiền Trí, những hương thơm nào đã được sanh lên và tỏa ra ở thế gian, không có gì sánh bằng hương thơm ở Phước Điền của Ngài.
BJT 4260Bạch đấng Hữu Nhãn, Ngài giúp cho thoát khỏi sự sanh vào loài thú, địa ngục. Bạch đấng Đại Hiền Trí, Ngài giảng giải về Đạo Lộ an tịnh, không còn tạo tác.”
BJT 4261Đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, đã ngồi xuống ở hội chúng tỳ khưu và đã nói lên những lời kệ này:
BJT 4262“Người nào được tịnh tín đã tự tay mình cúng dường trí tuệ của Ta, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hãy lắng nghe Ta nói.
BJT 4263Người này sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên trong ba mươi ngàn kiếp, và sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương một ngàn lần.”
BJT 4264Tôi đã nhận lãnh điều lợi ích đã được đạt thành một cách tốt đẹp. Sau khi làm hài lòng bậc có sự hành trì tốt đẹp, sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 4265Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 4266Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 4267Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Udena đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Udena là phần thứ mười.
Phần Tóm Lược:
Vị trưởng lão Metteyya, vị Puṇṇaka, vị Mettagū, luôn cả vị Dhotaka, vị Upasīva, vị Nanda, và vị Hemaka là vị thứ bảy ở nơi ấy, vị Todeyya, vị Jatukaṇṇī, và vị Udeno có danh vọng lớn lao. Ở đây là ba trăm câu kệ và thêm vào tám mươi ba câu.
Phẩm Metteyya là phẩm thứ bốn mươi mốt.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Ambajambūhi sañchannā, kareritilakā tathā;
Uddālakā pāṭaliyo, sobhenti mama assamaṃ.
Covered with mango and rose-apple trees, and also with Kareri and Tilaka trees; Uddālaka and Pāṭali trees beautify my hermitage.
Được bao phủ bởi các cây xoài và cây trâm, cùng với các cây kareri và tilaka; các cây uddālaka và pāṭali làm đẹp cho am thất của tôi.
334.
334.
334.
‘‘Aṅkolakā bimbijālā, māyākārī ca pupphitā;
Gandhena upavāyantā, sobhenti mama assamaṃ.
Aṅkola trees, Bimbijāla, and Mālākārī are in bloom; wafting their fragrance, they beautify my hermitage.
Các cây aṅkola, bimbijālā, và māyākārī đang trổ hoa; tỏa ra hương thơm, chúng làm đẹp cho am thất của tôi.
335.
335.
335.
‘‘Atimuttā sattalikā, nāgā sālā ca pupphitā;
Dibbagandhaṃ sampavantā, sobhenti mama assamaṃ.
Atimutta and Sattalikā, Nāga and Sāla trees are in bloom; diffusing a divine fragrance, they beautify my hermitage.
Các cây atimutta, sattalikā, nāga (thiết mộc), và sāla (sala) đang trổ hoa; tỏa ra hương thơm của chư Thiên, chúng làm đẹp cho am thất của tôi.
336.
336.
336.
‘‘Kosambā saḷalā nīpā, aṭṭhaṅgāpi ca pupphitā †;
Dibbagandhaṃ sampavantā, sobhenti mama assamaṃ.
Kosamba, Saḷala, Nimba, and Aṭṭhaṅga trees are also in bloom; diffusing a divine fragrance, they beautify my hermitage.
Các cây kosamba, saḷala, nīpa, và aṭṭhaṅga đang trổ hoa; tỏa ra hương thơm của chư Thiên, chúng làm đẹp cho am thất của tôi.
337.
337.
337.
‘‘Harītakā āmalakā, ambajambuvibhītakā;
Kolā bhallātakā billā, phalāni bahu assame.
Harītaka, Āmalaka, Mango, Rose-apple, and Vibhītaka; Kola, Bhallātaka, and Bela—many are the fruits in my hermitage.
Các loại quả harītaka, āmalaka, xoài, trâm, vibhītaka, kola, bhallātaka, và billa; có nhiều trái cây ở trong am thất.
338.
338.
338.
‘‘Kalambā kandalī tattha, pupphanti mama assame;
Dibbagandhaṃ † sampavantā, sobhenti mama assamaṃ.
Kadamba and Kadalī trees bloom there in my hermitage; diffusing a divine fragrance, they beautify my hermitage.
Tại nơi ấy, trong am thất của tôi, các cây kalamba và kandalī đang trổ hoa; tỏa ra hương thơm của chư Thiên, chúng làm đẹp cho am thất của tôi.
339.
339.
339.
‘‘Asokapiṇḍivārī ca †, nimbarukkhā ca pupphitā;
Dibbagandhaṃ sampavantā, sobhenti mama assamaṃ.
Asokapiṇḍivārī and Nimba trees are in bloom; diffusing a divine fragrance, they beautify my hermitage.
Các cây asoka, piṇḍivārī, và cây nimba đang trổ hoa; tỏa ra hương thơm của chư Thiên, chúng làm đẹp cho am thất của tôi.
340.
340.
340.
‘‘Punnāgā giripunnāgā, timirā tattha pupphitā;
Dibbagandhaṃ sampavantā, sobhenti mama assamaṃ.
Punnāga and Giripunnāga trees, and Timira trees are in bloom there; diffusing a divine fragrance, they beautify my hermitage.
Tại nơi ấy, các cây punnāga, giripunnāga, và timira đang trổ hoa; tỏa ra hương thơm của chư Thiên, chúng làm đẹp cho am thất của tôi.
341.
341.
341.
‘‘Nigguṇḍī sirinigguṇḍī, camparukkhettha pupphitā;
Dibbagandhaṃ sampavantā, sobhenti mama assamaṃ.
Nigguṇḍī, Sirinigguṇḍī, and Campaka trees are in bloom here; diffusing a divine fragrance, they beautify my hermitage.
Tại đây, các cây nigguṇḍī, sirinigguṇḍī, và cây campaka đang trổ hoa; tỏa ra hương thơm của chư Thiên, chúng làm đẹp cho am thất của tôi.
342.
342.
342.
‘‘Avidūre pokkharaṇī, cakkavākūpakūjitā;
Mandālakehi sañchannā, padumuppalakehi ca.
Not far away is a lotus pond, resounding with the calls of ruddy geese, covered with Mandālaka flowers, and with Paduma and Uppala lotuses.
Không xa nơi ấy có một hồ sen, vang tiếng kêu của chim cakkavāka; hồ được bao phủ bởi các loài hoa mandālaka, paduma (sen hồng), và uppala (sen xanh).
343.
343.
343.
‘‘Acchodakā sītajalā, supatitthā manoramā;
Acchā phalikasamānā, sobhenti mama assamaṃ.
With clear, cool water, with good, delightful fords, transparent like crystal, they beautify my hermitage.
Hồ có nước trong, nước mát, có bến nước tốt đẹp, làm vui thích tâm hồn; nước trong tựa như pha lê, làm đẹp cho am thất của tôi.
344.
344.
344.
‘‘Padumā pupphare tattha, puṇḍarīkā ca uppalā;
Mandālakehi sañchannā, sobhenti mama assamaṃ.
Paduma lotuses bloom there, as do Puṇḍarīka and Uppala lotuses; covered with Mandālaka flowers, they beautify my hermitage.
Tại nơi ấy, các hoa sen paduma, puṇḍarīka (sen trắng), và uppala (sen xanh) đang nở; được bao phủ bởi các hoa mandālaka, chúng làm đẹp cho am thất của tôi.
345.
345.
345.
‘‘Pāṭhīnā pāvusā macchā, balajā muñjarohitā;
Vicarantāva te tattha, sobhenti mama assamaṃ.
Pāṭhīna and Pāvusa fish, Balaja and Muñjarohita—moving about there, they beautify my hermitage.
Các loài cá pāṭhīna, pāvusa, balaja, muñjarohita; chúng bơi lội ở nơi ấy, làm đẹp cho am thất của tôi.
346.
346.
346.
‘‘Kumbhīlā susumārā ca, kacchapā ca gahā bahū;
Ogahā ajagarā ca, sobhenti mama assamaṃ.
Crocodiles and porpoises, turtles and many alligators; water-dwellers and pythons also beautify my hermitage.
Có nhiều cá sấu, cá heo, và rùa; cũng có nhiều trăn có thể nuốt chửng (con mồi), chúng làm đẹp cho am thất của tôi.
347.
347.
347.
‘‘Pārevatā ravihaṃsā, cakkavākā nadīcarā;
Dindibhā sāḷikā cettha, sobhenti mama assamaṃ.
Pigeons and swans, ruddy geese and river-faring birds, Dindibha birds and mynas are here, and they beautify my hermitage.
Tại đây có các loài chim bồ câu, ngỗng trời, cakkavāka, chim sống ở sông, chim dindibha, và chim sáo; chúng làm đẹp cho am thất của tôi.
348.
348.
348.
‘‘Nayitā ambagandhī ca, ketakā tattha pupphitā;
Dibbagandhaṃ sampavantā, sobhenti mama assamaṃ.
Nayitā and Ambagandhī creepers, and Ketaka trees are in bloom there; diffusing a divine fragrance, they beautify my hermitage.
Tại nơi ấy, các cây nayitā, ambagandhī, và ketaka đang trổ hoa; tỏa ra hương thơm của chư Thiên, chúng làm đẹp cho am thất của tôi.
349.
349.
349.
‘‘Sīhā byagghā ca dīpī ca, acchakokataracchakā;
Anusañcarantā pavane, sobhenti mama assamaṃ.
Lions, tigers, and leopards, bears, wolves, and hyenas—wandering through the forest, they beautify my hermitage.
Các loài sư tử, cọp, và báo; gấu, sói, và linh cẩu; đi lang thang trong rừng, chúng làm đẹp cho am thất của tôi.
350.
350.
350.
‘‘Jaṭābhārena bharitā, ajinuttaravāsanā;
Anusañcarantā pavane, sobhenti mama assamaṃ.
Ascetics, burdened by the weight of their matted hair, wearing upper garments of hide, wander through the forest and beautify my hermitage.
Các vị (ẩn sĩ) mang gánh nặng là búi tóc bện, mặc da thú làm y phục bên ngoài; đi lang thang trong rừng, họ làm đẹp cho am thất của tôi.
351.
351.
351.
‘‘Ajinānidharā ete, nipakā santavuttino;
Appāhārāva te sabbe, sobhenti mama assamaṃ.
These hermits, wearing black deerskins, mature with discriminating knowledge, possessing peaceful conduct, and having little food—all of them adorn my hermitage.
Những vị này mặc y phục bằng da thú, là bậc hiền trí, có lối sống thanh tịnh; tất cả các vị ấy ăn uống rất ít, làm đẹp cho am thất của tôi.
352.
352.
352.
‘‘Khāribhāraṃ gahetvāna, ajjhogayha vanaṃ tadā;
Mūlaphalāni bhuñjantā, vasanti assame tadā.
Having taken up the load of a hermit's requisites, they then entered the forest; eating roots and fruits, they dwelt in the hermitage at that time.
Vào lúc ấy, sau khi mang theo quang gánh, đi sâu vào trong rừng; ăn các loại củ và trái cây, họ sống trong am thất vào lúc ấy.
353.
353.
353.
‘‘Na te dāruṃ āharanti, udakaṃ pādadhovanaṃ;
Sabbesaṃ ānubhāvena, sayamevāharīyati.
They do not bring firewood, nor drinking water, nor water for washing the feet; by the spiritual power of them all, it is brought by itself.
Họ không mang về củi, nước uống, hay nước rửa chân; nhờ vào oai lực của tất cả các vị ấy, những thứ ấy tự động được mang đến.
354.
354.
354.
‘‘Cullāsītisahassāni, isayettha samāgatā;
Sabbeva jhāyino ete, uttamatthagavesakā.
Eighty-four thousand seers have assembled here; all of them are absorbed in jhāna, seekers of the highest benefit.
Tám mươi bốn ngàn vị ẩn sĩ đã tụ hội tại đây; tất cả những vị này đều là những người hành thiền, những người tìm cầu mục đích tối thượng.
355.
355.
355.
‘‘Tapassino brahmacārī, codentā appanāva te;
Ambarāvacarā sabbe, vasanti assame tadā.
They are ascetics, living the holy life, urging one another towards absorption; all of them travel through the sky and dwell in the hermitage at that time.
Họ là những người khổ hạnh, sống đời phạm hạnh, thúc đẩy việc nhập định; tất cả họ đều có thể đi lại trên không trung, họ sống trong am thất vào lúc ấy.
356.
356.
356.
‘‘Pañcāhaṃ sannipatanti, ekaggā santavuttino;
Aññoññaṃ abhivādetvā, pakkamanti disāmukhā.
Once every five days they assemble, unified in mind, possessing peaceful conduct; having paid homage to one another, they depart towards the various directions.
Cứ mỗi năm ngày, họ lại tụ họp, với tâm nhất điểm, có lối sống thanh tịnh; sau khi đảnh lễ lẫn nhau, họ khởi hành đi về các phương hướng.
357.
357.
357.
‘‘Padumuttaro nāma jino, sabbadhammāna pāragū;
Tamandhakāraṃ vidhamaṃ, uppajji tāvade jino.
The Victor named Padumuttara, who has gone to the far shore of all dhammas, dispelling that darkness of delusion, arose at that very moment as the Victor.
Bậc Toàn Giác tên là Padumuttara, bậc đã đi đến bờ kia của tất cả các pháp; xua tan bóng tối ấy, bậc Toàn Giác đã xuất hiện vào lúc bấy giờ.
358.
358.
358.
‘‘Mama assamasāmantā, yakkho āsi mahiddhiko;
So me saṃsittha sambuddhaṃ, jalajuttamanāyakaṃ.
Near my hermitage, there was a yakkha of great power. He informed me about the Perfectly Enlightened One, the supreme leader, the lotus-like one.
Gần am thất của tôi, có một vị dạ-xoa có đại thần lực; vị ấy đã báo cho tôi biết về bậc Chánh Đẳng Giác, vị lãnh đạo tối thượng sinh từ hoa sen.
359.
359.
359.
‘‘Esa buddho samuppanno, padumuttaro mahāmuni;
Khippaṃ gantvāna sambuddhaṃ, payirūpāsa mārisa.
This Buddha has arisen, Padumuttara, the great sage. Go quickly and attend upon the Perfectly Enlightened One, O hermit.
‘Vị Phật này đã xuất hiện, ngài là Padumuttara, bậc Đại Ẩn Sĩ. Này bạn, hãy nhanh chóng đi đến và phụng sự bậc Chánh Đẳng Giác.’
360.
360.
360.
‘‘Yakkhassa vacanaṃ sutvā, vippasannena cetasā;
Assamaṃ saṃsāmetvāna, nikkhamiṃ vipinā tadā.
Having heard the yakkha's word, with a very serene mind, I set the hermitage in order and then departed from the forest.
Sau khi nghe lời của vị dạ-xoa, với tâm vô cùng trong sạch; tôi đã dọn dẹp am thất và rời khỏi khu rừng vào lúc ấy.
361.
361.
361.
‘‘Ceḷeva ḍayhamānamhi, nikkhamitvāna assamā;
Ekarattiṃ nivāsetvā †, upagacchiṃ vināyakaṃ.
Like one whose clothes are on fire, having departed from the hermitage and having stayed for one night, I approached the Guide.
Giống như người bị cháy áo, tôi đã rời khỏi am thất, sau khi ở lại một đêm, tôi đã đi đến đấng Dẫn Đạo.
362.
362.
362.
‘‘Padumuttaro lokavidū, āhutīnaṃ paṭiggaho;
Catusaccaṃ pakāsento, desesi amataṃ padaṃ.
Padumuttara, the knower of the world, the worthy recipient of offerings, illuminating the Four Truths, taught the deathless state.
Đức Phật Padumuttara, bậc Thông Suốt Thế Gian, bậc Xứng Đáng Thọ Lãnh các vật cúng dường, trong khi tuyên thuyết Tứ Đế, Ngài đã thuyết giảng về trạng thái bất tử.
363.
363.
363.
‘‘Suphullaṃ padumaṃ gayha, upagantvā mahesino;
Pasannacitto sumano, buddhassa abhiropayiṃ.
Having taken a fully blossomed lotus and having approached the Great Sage, with a devoted and joyful mind, I offered it up to the Buddha.
Sau khi cầm lấy đóa hoa sen nở rộ, tôi đã đi đến bậc Đại Thánh. Với tâm ý trong sạch và hoan hỷ, tôi đã dâng cúng lên đức Phật.
364.
364.
364.
‘‘Pūjayitvāna sambuddhaṃ, jalajuttamanāyakaṃ;
Ekaṃsaṃ ajinaṃ katvā, santhaviṃ lokanāyakaṃ.
Having worshipped the Perfectly Enlightened One, the supreme leader Padumuttara, and having placed the black deerskin over one shoulder, I praised the Leader of the World.
Sau khi đã cúng dường đấng Chánh Đẳng Giác, bậc Lãnh Đạo Tối Thượng sanh từ nước, tôi đã vắt tấm da thú qua một bên vai và đã tán dương đấng Lãnh Đạo Thế Gian.
365.
365.
365.
‘‘Yena ñāṇena sambuddho, vasatīha anāsavo;
Taṃ ñāṇaṃ kittayissāmi, suṇātha mama bhāsato.
‘By which knowledge the Perfectly Enlightened One dwells here without taints, that knowledge I shall praise. Listen to my words as I speak.
Với trí tuệ nào mà đấng Chánh Đẳng Giác trú ngụ ở nơi đây không còn lậu hoặc, tôi sẽ tán dương trí tuệ ấy. Xin hãy lắng nghe lời của tôi đang nói đây.
366.
366.
366.
‘‘‘Saṃsārasotaṃ chinditvā, tāresi sabbapāṇinaṃ;
Tava dhammaṃ suṇitvāna, taṇhāsotaṃ taranti te.
‘Having cut the stream of saṃsāra, you have ferried all beings across. Having heard your Dhamma, they cross the stream of craving.
Ngài đã cắt đứt dòng chảy luân hồi, đã cứu vớt tất cả chúng sanh. Sau khi nghe được Pháp của Ngài, họ đã vượt qua dòng chảy ái dục.
367.
367.
367.
‘‘‘Tuvaṃ satthā ca ketu ca, dhajo yūpo ca pāṇinaṃ;
Parāyaṇo patiṭṭhā ca, dīpo ca dvipaduttama †.
‘You are the teacher and the banner, the flag and the sacrificial post for beings; the final resort and the support, the island of refuge, and the supreme among bipeds.
Ngài là bậc Đạo Sư, là ngọn cờ hiệu, là lá cờ, là cột tế đàn của chúng sanh; là nơi nương tựa, là chỗ tựa vững chắc, là hòn đảo, ôi bậc Tối Thượng giữa các loài hai chân.
368.
368.
368.
‘‘‘Yāvatā gaṇino loke, satthavāhā pavuccare;
Tuvaṃ aggosi sabbaññu, tava antogadhāva te.
‘Whatever group leaders there are in the world, who are called caravan leaders, you, O All-Knowing One, are the foremost; they are all included within you.
Bất cứ vị giáo chủ nào ở thế gian được gọi là người dẫn đường, Ngài là bậc Tối Thượng, ôi đấng Toàn Tri, tất cả họ đều nằm trong phạm vi (trí tuệ) của Ngài.
369.
369.
369.
‘‘‘Tava ñāṇena sabbaññu, tāresi janataṃ bahuṃ;
Tava dassanamāgamma, dukkhassantaṃ karissare.
‘By your knowledge, O All-Knowing One, you have ferried many people across. On account of seeing you, they will make an end of suffering.
Với trí tuệ của Ngài, ôi đấng Toàn Tri, Ngài đã cứu vớt nhiều chúng sanh. Nhờ được diện kiến Ngài, họ sẽ chấm dứt khổ đau.
370.
370.
370.
‘‘‘Ye kecime gandhajātā, loke vāyanti cakkhuma;
Tava gandhasamo natthi, puññakkhette mahāmune’.
‘Whatever kinds of fragrances waft in the world, O One with Vision, there is none equal to your fragrance, O Great Sage, O Field of Merit.’
Bất cứ loại hương thơm nào thoảng bay trong thế gian, ôi bậc có Tuệ Nhãn, không có hương thơm nào sánh bằng hương (giới đức) của Ngài, ôi bậc Đại ẩn sĩ, bậc Ruộng Phước.
371.
371.
371.
‘‘‘Tiracchānayoniṃ nirayaṃ, parimocesi † cakkhuma;
Asaṅkhataṃ padaṃ santaṃ, desesi † tvaṃ mahāmune’.
‘Liberate them from the animal realm and from hell, O One with Vision. Teach the unconditioned, peaceful state, O Great Sage.’
Ngài đã giải thoát (chúng sanh) khỏi cảnh giới súc sanh và địa ngục, ôi bậc có Tuệ Nhãn. Ngài đã thuyết giảng về trạng thái vô vi, an tịnh, ôi bậc Đại ẩn sĩ.
372.
372.
372.
‘‘Padumuttaro lokavidū, āhutīnaṃ paṭiggaho;
Bhikkhusaṅghe nisīditvā, imā gāthā abhāsatha.
Padumuttara, the knower of the world, the worthy recipient of offerings, having sat down amidst the community of monks, spoke these verses.
Đức Phật Padumuttara, bậc Thông Suốt Thế Gian, bậc Xứng Đáng Thọ Lãnh các vật cúng dường, sau khi ngồi xuống giữa chúng Tỳ khưu, Ngài đã nói lên những câu kệ này.
373.
373.
373.
‘‘‘Yo me ñāṇaṃ apūjesi, pasanno sehi pāṇibhi;
Tamahaṃ kittayissāmi, suṇātha mama bhāsato.
‘Whoever, being devoted, worshipped my knowledge with his own hands, him I shall proclaim. Listen to me as I speak.
Người nào đã cúng dường trí tuệ của ta, với tâm trong sạch, bằng chính đôi tay của mình, ta sẽ tuyên dương về người ấy. Hãy lắng nghe lời của ta đang nói đây.
374.
374.
374.
‘‘‘Tiṃsakappasahassāni, devaloke ramissati;
Sahassakkhattuṃ rājā ca, cakkavattī bhavissati’.
‘For thirty thousand kappas, he will delight in the deva world. A thousand times he will be a wheel-turning king.’
Trong ba mươi ngàn kiếp, người ấy sẽ hưởng lạc ở cõi trời. Một ngàn lần, người ấy sẽ là vị vua Chuyển Luân Vương.
375.
375.
375.
‘‘Suladdhalābhaṃ laddhomhi, tosayitvāna subbataṃ;
Sabbāsave pariññāya, viharāmi anāsavo.
A good gain indeed has been obtained by me, having pleased the one of good vows. Having fully understood all the taints, I dwell without taints.
Tôi đã nhận được lợi lộc tốt đẹp, sau khi làm hài lòng bậc có Thiện Thệ. Sau khi đã liễu tri tất cả lậu hoặc, tôi trú ngụ không còn lậu hoặc.
376.
376.
376.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
My defilements are burned… (etc.)… I dwell without taints.
Các phiền não của tôi đã được đốt cháy... (vân vân)... tôi trú ngụ không còn lậu hoặc.
377.
377.
377.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Indeed, my coming was a good coming… (etc.)… the Buddha’s teaching has been done.
Sự đến của tôi thật là khéo đến... (vân vân)... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
378.
378.
378.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges… (etc.)… the Buddha’s teaching has been done.”
Bốn Tuệ Phân Tích... (vân vân)... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā udeno thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Udena spoke these verses.
Như vậy, quả thật Trưởng lão Udena khả kính đã nói lên những câu kệ này.
Udenattherassāpadānaṃ dasamaṃ.
The tenth Apadāna of the Elder Udena.
Phẩm Hạnh Cảnh của Trưởng lão Udena, phần thứ mười.
The Metteyya Vagga, the forty-first.
Phẩm Metteyya, phần thứ bốn mươi mốt.
Tassuddānaṃ –
The summary:
Phần tóm lược của phẩm ấy:
Metteyyo puṇṇako thero, mettagū dhotakopi ca;
Upasivo ca nando ca, hemako sattamo tahiṃ.
Metteyya, the Elder Puṇṇaka, Mettagū, and Dhotaka; Upasiva, Nanda, and Hemaka, the seventh therein.
Trưởng lão Metteyya, Puṇṇaka, Mettagū, và cả Dhotaka, Upasiva và Nanda, và Hemaka là vị thứ bảy trong phẩm ấy.
Todeyyo jatukaṇṇī ca, udeno ca mahāyaso;
Tīṇi gāthāsatānettha, asīti tīṇi cuttariṃ.
Todeyya and Jatukaṇṇī, and Udena of great fame; here there are three hundred and eighty-three verses.
Todeyya và Jatukaṇṇī, và Udena có danh tiếng lớn. Ở đây có ba trăm tám mươi ba câu kệ.