Bản dịch
THA -ap411 — Ký Sự về Trưởng Lão Jatukaṇṇi
Jatukaṇṇittheraapadāna
BJT 4165Khi ấy, tôi đã là người con trai của nhà triệu phú ở thành phố Hamsavatī. Tôi được cung ứng và được vây quanh bởi các loại dục lạc.
BJT 4166Khi ấy, những người ghi dấu các căn nhà đã dựng lên ba tòa nhà. Sau khi bước lên tòa nhà, tôi được vây quanh bởi các điệu vũ và lời ca ở tại nơi ấy.
BJT 4167Các loại nhạc cụ kết hợp với (âm thanh của) chũm chọe được biểu diễn cho tôi. Tất cả những người phụ nữ đang nhảy múa hoàn toàn thu hút tâm ý của tôi.
BJT 4168Những vũ công về các điệu vũ velāpika, lāmaṇika, kuñjavāsī, và timajjhika, những người nhào lộn, và những diễn viên hài luôn luôn vây quanh tôi.
BJT 4169Có nhiều nhạc công, những người đánh trống, các diễn viên uốn dẻo, các vũ công, các diễn viên, và ngay cả các kịch sĩ luôn luôn vây quanh tôi.
BJT 4170Các người thợ hớt tóc, các người hầu tắm, các người đầu bếp, các người làm tràng hoa, các người giữ trẻ, các người nhào lộn, các võ sĩ đấu vật, tất cả bọn họ luôn luôn vây quanh tôi.
BJT 4171Trong khi những người này đang đùa giỡn, luyện tập về kỹ xảo, tôi không biết đến ngày và đêm tợ như vị Chúa Trời Inda ở cõi trời Tam Thập.
BJT 4172Những người lữ hành, những người đi đường, tất cả các hành khất, nhiều người bộ hành, trong lúc xin ăn bọn họ thường xuyên đi đến nhà của tôi.
BJT 4173Các Sa-môn và luôn cả các Bà-la-môn là những Phước Điền vô thượng, trong lúc làm tăng trưởng phước báu của tôi, các vị đi đến nhà của tôi.
BJT 4174Các hạng đạo sĩ che một mảnh vải, đạo sĩ che bằng dây leo, các du sĩ ngoại đạo, đạo sĩ có tấm choàng bằng bông hoa, đạo sĩ chống ba cây gậy, đạo sĩ có một chòm tóc, tất cả đều đi đến nhà của tôi.
BJT 4175Các vị đạo lõa thể, các kẻ cướp giật, các người hành pháp trâu bò, các người hành pháp chư Thiên, các người tu hạnh bôi trét bụi và bùn đất (ở cơ thể), những người này đi đến nhà của tôi.
BJT 4176Nhiều vị đạo sĩ nhóm parivattaka, nhóm siddhipatta, nhóm koṇḍapuggaṇika, các đạo sĩ khổ hạnh, và các người tu ở rừng đi đến nhà của tôi.
BJT 4177Những người Oḍḍaka, luôn cả các người Ta-min, các người Sākula, các người Malayālaka, các người Sabara, và cả các người Yonaka nữa đi đến nhà của tôi.
BJT 4178Tất cả những người xứ sở Andhaka, xứ sở Muṇḍaka, xứ sở Kolaka, xứ sở Sānuvindaka, và xứ sở Trung Hoa xa xôi đi đến nhà của tôi.
BJT 4179Các người xứ sở Alasandaka, xứ sở Pallavaka, xứ sở Babbara, xứ sở Bhagga, xứ sở Kārusa, xứ sở Rohita, và xứ sở Cetaputta đi đến nhà của tôi.
BJT 4180Các người xứ sở Mādhuraka, xứ sở Kosalaka, xứ sở Kāsika, xứ sở Hatthiporika, xứ sở Isiṇḍa, luôn cả các người xứ sở Makkala đi đến nhà của tôi.
BJT 4181Các người xứ sở Celāvaka, xứ sở Aramma, xứ sở Okkala, xứ sở Meghala, xứ sở Khuddaka, luôn cả xứ sở Suddaka đi đến nhà của tôi.
BJT 4182Các người xứ sở Rohaṇa, xứ sở Sindhava, xứ sở Citaka, xứ sở Ekakaṇṇika, xứ sở Suraṭṭha, và xứ sở Aparanta đi đến nhà của tôi.
BJT 4183Các người xứ sở Suppāraka, xứ sở Kikumāra, xứ sở Malaya, xứ sở Soṇṇabhūmika, xứ sở Vajjī, và xứ sở Tāra, tất cả bọn họ đi đến nhà của tôi.
BJT 4184Những người làm ống thổi, những người thợ dệt, những người thợ thuộc da, những người thợ mộc, những người thợ rèn, và những người thợ làm đồ gốm đi đến nhà của tôi.
BJT 4185Những người thợ làm ngọc, thợ làm kim khí, thợ kim hoàn, người buôn vải, và thợ làm chì, tất cả đi đến nhà của tôi.
BJT 4186Những người thợ làm tên, thợ tiện gỗ, thợ dệt, và những người làm hương liệu, những người thợ nhuộm, và những người thợ may đi đến nhà của tôi.
BJT 4187Những người buôn dầu, những người vận chuyển gỗ, những người vận chuyển nước, những người đưa tin, những người đầu bếp, và những người bảo quản vật thực đi đến nhà của tôi.
BJT 4188Những người gác cổng, những người hộ vệ, những người canh ngục, những người đổ bỏ rác bông hoa, các nài voi, các quản tượng đi đến nhà của tôi.
BJT 4189Tôi đã dâng đến vị Đại Vương Ānanda là người bị xao lãng. Tôi làm đầy đủ sự thiếu hụt (của đức vua) bằng châu báu có bảy màu sắc.
BJT 4190Những người đã được tôi đề cập đến là những nhóm người có màu da khác nhau. Sau khi biết được tâm của họ, tôi đã làm thỏa mãn họ bằng châu báu.
BJT 4191Trong khi họ đang nói những lời vui vẻ, trong khi những cái trống lớn được vỗ vang lên, trong khi họ đang thổi những chiếc tù và vỏ ốc, tôi sướng vui ở tại ngôi nhà của chính mình.
BJT 41924193. Vào thời điểm ấy, đức Thế Tôn, đấng Lãnh Đạo Padumuttara, bậc Hữu Nhãn ấy, được tháp tùng bởi một trăm ngàn vị tỳ khưu là các bậc Lậu Tận có năng lực, đã ngự đến ở trên đường, trong lúc đang tỏa sáng tất cả các phương tợ như cây đèn chiếu sáng.
BJT 4194Tất cả các chiếc trống lớn được vỗ lên trong khi bậc Lãnh Đạo Thế Gian đang đi. Hào quang của Ngài tỏa ra tợ như ánh mặt trời đã mọc lên cao.
BJT 4195Do ánh hào quang đã đi vào dầu chỉ bằng cánh cửa sổ, ở trong gian nhà ngay lập tức đã có ánh sáng vô cùng bao la.
BJT 4196Sau khi nhìn thấy ánh hào quang của đức Phật, tôi đã nói với đám đông rằng: “Chắc chắn rằng đức Phật tối thượng đã đi đến con đường này.”
BJT 4197Tôi đã cấp tốc bước xuống khỏi tòa nhà và đã đi đến khu phố chợ. Tôi đã đảnh lễ bậc Toàn Giác và đã nói lời nói này:
BJT 4198“Xin đức Phật đấng Lãnh Đạo Padumuttara hãy thương tưởng đến con.” Bậc Hiền Trí ấy đã nhận lời cùng với một trăm ngàn vị có năng lực.
BJT 4199Sau khi thỉnh mời, tôi đã hướng dẫn bậc Toàn Giác đi đến ngôi nhà của mình. Tại nơi ấy, tôi đã làm toại ý bậc Đại Hiền Trí với cơm ăn và nước uống.
BJT 4200Biết được thời điểm đã thọ thực xong của đức Phật tối thượng như thế ấy, tôi đã phục vụ đức Phật tối thượng bằng một trăm khúc tấu nhạc.
BJT 4201Đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, đã ngồi xuống ở trong nhà và đã nói lên những lời kệ này:
BJT 4202“Người nào đã phục vụ Ta bằng các khúc tấu nhạc và đã dâng cúng ta cơm ăn nước uống, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hãy lắng nghe Ta nói.
BJT 4203Sau khi đã có dồi dào về lương thực, với vàng, với thức ăn, người nam này sẽ cho thực hiện bốn châu lục thành một vương quốc.
BJT 4204(Người này) sẽ thọ trì năm giới cấm và sau đó là mười đường lối về (thiện) nghiệp. Sau khi thọ trì và trong lúc hành theo, người này sẽ chỉ dạy hội chúng.
BJT 4205Một trăm ngàn nữ nhân được trang điểm sẽ thường xuyên trình tấu nhạc cụ cho người này; điều này là quả báu của việc phục vụ.
BJT 4206(Người này) sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên trong ba mươi ngàn kiếp, và sẽ là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc sáu mươi bốn lần.
BJT 4207Và (người này) sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương sáu mươi bốn lần. Lãnh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.
BJT 4208Vào một trăm ngàn kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 4209(Người này) sẽ sanh vào bản thể Thiên nhân hay loài người. Người này sẽ có của cải không bị thiếu hụt và sẽ đi đến bản thể loài người.
BJT 4210Sau khi trở thành vị giảng huấn, thông suốt ba tập Vệ-đà, trong lúc tầm cầu mục đích tối thượng, (người này) sẽ đi đó đây ở trái đất này.
BJT 4211Về sau, được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch, người này sẽ xuất gia và sẽ thỏa thích trong Giáo Pháp của đức Thế Tôn Gotama.
BJT 4212Người này sẽ làm hài lòng đấng Toàn Giác Gotama bậc cao quý dòng Sakya, sẽ thiêu đốt các phiền não, và sẽ trở thành vị A-la-hán.”
BJT 4213Giờ đây, tôi sống trong Giáo Pháp của người con trai dòng Sakya không bị hãi sợ, tợ như con cọp chúa ở trong rừng, như là con sư tử vua của loài thú.
BJT 4214Tôi không nhìn thấy sự tái sanh của tôi ở thế giới chư Thiên hoặc ở loài người, ở nơi nghèo khó hoặc ở vào khổ cảnh; điều này là quả báu của việc phục vụ.
BJT 4215Tôi đã được gắn liền với sự độc cư, được an tịnh, không còn mầm mống tái sanh. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 4216Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 4217Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 4218Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Jatukaṇṇi đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Jatukaṇṇi là phần thứ chín.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Tato † pāsādamāruyha, mahābhoge valañjako †;
Tattha naccehi gītehi, paricāremahaṃ tadā.
Then, having ascended the palace, enjoying great wealth, I indulged myself there with dances and songs.
“Sau đó, tôi đã đi lên lâu đài, là người hưởng thụ tài sản to lớn. Vào lúc bấy giờ, ở tại nơi ấy, tôi đã tận hưởng các điệu múa và các bài hát.”
278.
278.
278.
‘‘Tūriyā āhatā mayhaṃ, sammatāḷasamāhitā;
Naccantā † itthiyo sabbā, harantiyeva me mano.
Musical instruments, accompanied by cymbals and rhythm, were played for me; all the dancing women indeed stole away my mind.
“Các nhạc cụ được mang đến cho tôi, hòa cùng với tiếng phèng la và nhịp điệu. Tất cả các phụ nữ đang nhảy múa quả thật đã chiếm đoạt tâm trí của tôi.”
279.
279.
279.
‘‘Celāpikā † lāmaṇikā †, kuñjavāsī timajjhikā †;
Laṅghikā sokajjhāyī ca, parivārenti maṃ sadā.
Attendants, Rāmaṇikas, Kuñjavāsīs and Majjhikās, acrobats and magicians, always surrounded me.
“Các Celāpikā, các Lāmaṇikā, các Kuñjavāsī, các Timajjhikā, các Laṅghikā, và các Sokajjhāyī luôn luôn vây quanh tôi.”
280.
280.
280.
‘‘Vetāḷino kumbhathūnī, naṭā ca naccakā bahū;
Naṭakā nāṭakā ceva, parivārenti maṃ sadā.
Bards, pot-drum beaters, actors and many dancers, performers and masters of drama, always surrounded me.
“Các Vetālina, các Kumbhathūṇī, các vũ công (naṭa), và nhiều vũ công (naccaka), các vũ công nữ (naṭakā), và cả các đạo diễn kịch (nāṭaka) luôn luôn vây quanh tôi.”
281.
281.
281.
‘‘Kappakā nhāpakā sūdā, mālākārā supāsakā †;
Jallā mallā ca te sabbe, parivārenti maṃ sadā.
Barbers, bath attendants, cooks, garland-makers, and attendants; cleaners and wrestlers—all of them always surrounded me.
“Các thợ hớt tóc, các người phục vụ tắm rửa, các đầu bếp, các người làm vòng hoa, các người hầu cận, các Jalla, và các đô vật, tất cả những người ấy luôn luôn vây quanh tôi.”
282.
282.
282.
‘‘Etesu kīḷamānesu, sikkhite katupāsane;
Rattindivaṃ na jānāmi, indova tidasaṅgaṇe.
While these skilled and well-practiced entertainers were sporting, I knew neither day nor night, like Indra in the assembly of the Thirty-three devas.
“Trong khi những người này, là những người đã được huấn luyện và đã thực hành việc hầu cận, đang vui chơi, tôi không biết đến ngày và đêm, giống như vị trời Đế Thích ở giữa hội chúng của chư thiên Ba Mươi Ba.”
283.
283.
283.
‘‘Addhikā pathikā sabbe, yācakā varakā bahū;
Upagacchanti te niccaṃ, bhikkhayantā mamaṃ gharaṃ.
All the long-distance travelers and wayfarers, and many beggars and destitute ones, constantly approached my house, seeking alms.
“Tất cả các lữ khách đường dài, các người đi bộ, nhiều người ăn xin, các người khốn khổ, những người ấy luôn luôn đi đến nhà của tôi trong khi đang xin ăn.”
284.
284.
284.
‘‘Samaṇā brāhmaṇā ceva, puññakkhettā anuttarā;
Vaḍḍhayantā mamaṃ puññaṃ, āgacchanti mamaṃ gharaṃ.
Ascetics and brahmins, who are an unsurpassed field of merit, came to my house, increasing my merit.
“Các vị Sa-môn và cả các vị Bà-la-môn, là thửa ruộng phước báu vô song, trong khi làm gia tăng phước báu cho tôi, các vị ấy đi đến nhà của tôi.”
285.
285.
285.
‘‘Paṭagā † laṭukā † sabbe, nigaṇṭhā pupphasāṭakā;
Tedaṇḍikā ekasikhā, āgacchanti mamaṃ gharaṃ.
All the Paṭagas and Laṭukas, Nigaṇṭhas, flower-dyers, triple-staff bearers, and single top-knot ascetics came to my house.
“Tất cả các Paṭaga, các Laṭuka, các Nigaṇṭha, các Pupphasāṭaka, các Tedaṇḍika, các Ekasikha, (họ) đi đến nhà của tôi.”
286.
286.
286.
‘‘Ājīvakā viluttāvī, godhammā devadhammikā;
Rajojalladharā ete, āgacchanti mamaṃ gharaṃ.
Ājīvakas, plunderers, those who followed the cow-vow, and practitioners of the Deva-dhamma—these wearers of dust and dirt came to my house.
“Các Ājīvaka, các Viluttāvin, các Godhamma, các Devadhammika, những người này là những người mang theo bụi bặm và cáu bẩn, (họ) đi đến nhà của tôi.”
287.
287.
287.
‘‘Parittakā santipattā †, kodhapugganikā † bahū;
Tapassī vanacārī ca, āgacchanti mamaṃ gharaṃ.
Those who make protective charms, those who have attained peace, many Kodhapugganikas, ascetics, and forest-dwelling hermits come to my house.
“Các Parittaka, các người đã đạt được sự an tịnh, nhiều người Kodhapugganika, các vị khổ hạnh, và các người đi trong rừng, (họ) đi đến nhà của tôi.”
288.
288.
288.
‘‘Oḍḍakā damiḷā ceva, sākuḷā malavāḷakā †;
Savarā yonakā ceva, āgacchanti mamaṃ gharaṃ.
Oḍḍakas and Damiḷas, Sākuḷas and Malavāḷakas, Savaras and Yonakas come to my house.
“Các người Oḍḍaka và cả các người Damiḷa, các người Sākuḷa, các người Malavāḷaka, và cả các người Savara, các người Yonaka, (họ) đi đến nhà của tôi.”
289.
289.
289.
‘‘Andhakā muṇḍakā sabbe, koṭalā hanuvindakā †;
Ārāvacīnaraṭṭhā ca, āgacchanti mamaṃ gharaṃ.
Andhakas, all the shaven-headed ones, Koṭalas and Hanuvindakas, and those from the Ārāvacīna country come to my house.
“Tất cả các người Andhaka, các người Muṇḍaka, các người Koṭala, các người Hanuvindaka, và các người ở xứ Ārāvacīna, (họ) đi đến nhà của tôi.”
290.
290.
290.
‘‘Alasandakā † pallavakā, dhammarā niggamānusā †;
Gehikā † cetaputtā ca, āgacchanti mamaṃ gharaṃ.
Alasandakas and Pallavakas, Dhammaras and Nigga people, Gehikas and the people of Ceta come to my house.
“Các người Alasandaka, các người Pallavaka, các người Dhammara, các người ở thị trấn, các người Gehika, và các con trai của xứ Ceta, (họ) đi đến nhà của tôi.”
291.
291.
291.
‘‘Mādhurakā kosalakā, kaliṅgā † hatthiporikā;
Isiṇḍā makkalā ceva, āgacchanti mamaṃ gharaṃ.
People from Mādhura, Kosala, and Kaliṅga, people from Hatthipura, and people from Isiṇḍa and Makkala come to my house.
“Các người Mādhuraka, các người Kosalaka, các người Kaliṅga, các người Hatthiporika, và cả các người Isiṇḍa, các người Makkala, (họ) đi đến nhà của tôi.”
292.
292.
292.
‘‘Celāvakā ārabbhā † ca, oghuḷhā † meghalā bahū;
Khuddakā suddakā ceva, āgacchanti mamaṃ gharaṃ.
Celāvakas and Ārabbhas, Oghuḷhas and many Meghalas, Khuddakas and Suddakas also come to my house.
“Nhiều người Celāvaka và các người Ārabbha, các người Oghuḷha, các người Meghala, và cả các người nhỏ bé, các người trong sạch, (họ) đi đến nhà của tôi.”
293.
293.
293.
‘‘Rohaṇā sindhavā ceva, citakā ekakaṇṇikā;
Suraṭṭhā aparantā ca, āgacchanti mamaṃ gharaṃ.
People from Rohaṇa and Sindhu, Citakas, the one-eared people, people from Suraṭṭha and Aparanta come to my house.
“Các người Rohaṇa và cả các người Sindhava, các người Citaka, các người Ekakaṇṇika, các người Suraṭṭha, và các người Aparanta, (họ) đi đến nhà của tôi.”
294.
294.
294.
‘‘Suppārakā kumārā † ca, mallasovaṇṇabhūmikā †;
Vajjītaṅgā † ca te sabbe, āgacchanti mamaṃ gharaṃ.
People from Suppāraka and Kumāra, people from Malla and Suvaṇṇabhūmi, people from Vajjī and Aṅga—all of them come to my house.
“Các người Suppāraka và các người Kumāra, người Malla và người Suvaṇṇabhūmi, người Vajjī và người Aṅga, tất cả những người ấy đi đến nhà của tôi.”
295.
295.
295.
‘‘Naḷakārā pesakārā, cammakārā ca tacchakā;
Kammārā kumbhakārā ca, āgacchanti mamaṃ gharaṃ.
Reed-makers and weavers, leather-workers and carpenters, smiths and potters come to my house.
“Các người làm giỏ, các thợ dệt, và các thợ thuộc da, các thợ mộc, và các thợ rèn, các thợ gốm, (họ) đi đến nhà của tôi.”
296.
296.
296.
‘‘Maṇikārā lohakārā, soṇṇakārā ca dussikā;
Tipukārā ca te sabbe, āgacchanti mamaṃ gharaṃ.
Jewelers and metalworkers, goldsmiths and cloth merchants, and tin workers—all of them come to my house.
“Các thợ làm ngọc, các thợ kim khí, các thợ vàng, và các người bán vải, và các thợ làm chì, tất cả những người ấy đi đến nhà của tôi.”
297.
297.
297.
‘‘Usukārā bhamakārā, pesakārā ca gandhikā;
Rajakā tunnavāyā ca, āgacchanti mamaṃ gharaṃ.
Arrow-makers and lathe-workers, carvers and perfumers, dyers and tailors come to my house.
“Các thợ làm tên, các thợ tiện, và các thợ dệt, các người bán nước hoa, và các thợ giặt, các thợ may, (họ) đi đến nhà của tôi.”
298.
298.
298.
‘‘Telikā kaṭṭhahārā ca, udahārā ca pessikā;
Sūpikā sūparakkhā ca, āgacchanti mamaṃ gharaṃ.
Oil-pressers and wood-gatherers, water-carriers and servants, cooks and kitchen supervisors come to my house.
“Các người bán dầu, và các người mang củi, và các người mang nước, các người đưa tin, và các người nấu súp, các người giám sát nhà bếp, (họ) đi đến nhà của tôi.”
299.
299.
299.
‘‘Dovārikā anīkaṭṭhā, bandhikā † pupphachaḍḍakā;
Hatthāruhā hatthipālā, āgacchanti mamaṃ gharaṃ.
Gatekeepers and soldiers, prisoners and garbage-collectors, elephant riders and elephant keepers come to my house.
“Các người gác cổng, các người lính, các người cai ngục, các người vứt bỏ hoa, các người cỡi voi, các người quản tượng, (họ) đi đến nhà của tôi.”
300.
300.
300.
‘‘Ānandassa mahārañño †, mamatthassa † adāsahaṃ;
Sattavaṇṇena ratanena, ūnatthaṃ † pūrayāmahaṃ.
To the great king Ānanda, I gave my wealth. With a jewel of seven colors, I replenish what is deficient.
“Tôi đã dâng cúng tài sản của tôi cho đức vua vĩ đại Ānanda. Tôi đã làm cho đầy đủ sự thiếu hụt bằng vật báu có bảy màu sắc.”
301.
301.
301.
‘‘Ye mayā kittitā sabbe, nānāvaṇṇā bahū janā;
Tesāhaṃ cittamaññāya, tappayiṃ ratanenahaṃ.
All those many people of various kinds who have been mentioned by me—having understood their wishes, I satisfied them with jewels.
“Tất cả những người, nhiều người có các loại hình tướng khác nhau, là những người đã được tôi kể ra, sau khi đã biết được tâm của họ, tôi đã làm cho họ được hài lòng bằng vật báu.”
302.
302.
302.
‘‘Vaggūsu bhāsamānāsu, vajjamānāsu bherisu;
Saṅkhesu dhamayantesu, sakagehe ramāmahaṃ.
While the drums, sounding sweetly, were being beaten, and the conches were being blown, I delighted in my own home.
“Trong khi các trống bheri đang được đánh lên, đang phát ra các âm thanh ngọt ngào, trong khi các tù và đang được thổi lên, tôi vui thích ở tại nhà của mình.”
303.
303.
303.
‘‘Bhagavā tamhi samaye, padumuttaranāyako;
Vasīsatasahassehi, parikkhīṇāsavehi so.
At that time, the Blessed One, the Lord Padumuttara, accompanied by one hundred thousand masters whose cankers were destroyed...
“Vào lúc bấy giờ, bậc Thế Tôn, là vị Lãnh Đạo Padumuttara, vị ấy cùng với một trăm ngàn vị đã làm chủ, là những vị đã tận trừ các lậu hoặc.”
304.
304.
304.
‘‘Bhikkhūhi sahito vīthiṃ, paṭipajjittha cakkhumā;
Obhāsento disā sabbā, dīparukkhova jotati.
...together with the monks, proceeded along the street. The One with Vision, illuminating all directions, shines like a great lamp.
Bậc có Mắt Tuệ (Phật) cùng với các vị tỳ khưu đã đi vào con đường; Ngài tỏa sáng, chiếu rọi khắp các phương, giống như cây đèn đang cháy sáng.
305.
305.
305.
‘‘Vajjanti bheriyo sabbā, gacchante lokanāyake;
Pabhā niddhāvate tassa, sataraṃsīva uggato.
As the Leader of the World proceeded, all the drums sounded. His radiance streamed forth, like the risen sun with its hundred rays.
Khi bậc Lãnh Đạo Thế Gian đi, tất cả các trống đều vang lên. Hào quang của Ngài tỏa ra, giống như mặt trời đang mọc.
306.
306.
306.
‘‘Kavāṭantarikāyāpi, paviṭṭhena ca rasminā;
Antogharesu vipulo, āloko āsi tāvade.
By a ray entering even through the crevice of a door, at that moment a vast light arose inside the houses.
Ngay lúc ấy, do tia sáng đi vào ngay cả qua khe cửa, ánh sáng rộng lớn đã hiện ra ở bên trong các ngôi nhà.
307.
307.
307.
‘‘Pabhaṃ disvāna buddhassa, pārisajje avocahaṃ;
Nissaṃsayaṃ buddhaseṭṭho, imaṃ vīthimupāgato.
Having seen the radiance of the Buddha, I said to my attendants: 'Without a doubt, the Supreme Buddha has come to this street.'
Sau khi thấy được hào quang của Đức Phật, tôi đã nói với đoàn tùy tùng: ‘Không còn nghi ngờ gì nữa, bậc Phật Tối Thượng đã đến con đường này.’
308.
308.
308.
‘‘Khippaṃ oruyha pāsādā, agamiṃ antarāpaṇaṃ;
Sambuddhaṃ abhivādetvā, idaṃ vacanamabraviṃ.
Quickly descending from the palace, I went to the market street. Having paid homage to the Fully Enlightened One, I spoke these words:
Tôi đã nhanh chóng đi xuống từ cung điện, đi vào khu chợ. Sau khi đảnh lễ bậc Chánh Đẳng Giác, tôi đã nói lời này:
309.
309.
309.
‘‘‘Anukampatu me buddho, jalajuttamanāyako;
Vasīsatasahassehi, adhivāsesi so muni’.
'May the Buddha, the supreme leader born of a lotus, have compassion on me.' That sage, together with one hundred thousand masters, consented.
‘Xin Đức Phật, bậc Lãnh Đạo Tối Thượng (Padumuttara), hãy rủ lòng thương xót con.’ Vị Ẩn Sĩ ấy cùng với một trăm ngàn vị đã làm chủ các căn đã chấp nhận lời thỉnh mời.
310.
310.
310.
‘‘Nimantetvāna sambuddhaṃ, abhinesiṃ sakaṃ gharaṃ;
Tattha annena pānena, santappesiṃ mahāmuniṃ.
Having invited the Fully Enlightened One, I led him to my own home. There, with food and drink, I satisfied the Great Sage.
Sau khi thỉnh mời bậc Chánh Đẳng Giác, tôi đã đưa Ngài về nhà của mình. Tại đó, tôi đã làm cho bậc Đại Ẩn Sĩ được hài lòng với vật thực và đồ uống.
311.
311.
311.
‘‘Bhuttāviṃ kālamaññāya, buddhaseṭṭhassa tādino;
Sataṅgikena tūriyena, buddhaseṭṭhaṃ upaṭṭhahiṃ.
Knowing the time when the Supreme Buddha, the Such-like One, had finished his meal, I attended upon the Supreme Buddha with a hundred-part musical instrument.
Biết được thời điểm sau khi bậc Phật Tối Thượng, bậc Tādī, đã dùng bữa, tôi đã phục vụ bậc Phật Tối Thượng với nhạc cụ có một trăm bộ phận.
312.
312.
312.
‘‘Padumuttaro lokavidū, āhutīnaṃ paṭiggaho;
Antoghare nisīditvā, imā gāthā abhāsatha.
Padumuttara, the Knower of Worlds, the Recipient of Offerings, having sat down inside the house, spoke these verses:
Đức Padumuttara, bậc Thông Suốt Thế Gian, bậc xứng đáng nhận vật cúng dường, sau khi ngồi xuống trong nhà, đã nói những câu kệ này:
313.
313.
313.
‘‘‘Yo maṃ tūriyehupaṭṭhāsi, annapānañcadāsi me;
Tamahaṃ kittayissāmi, suṇātha mama bhāsato.
'He who attended upon me with musical instruments and gave me food and drink—I shall proclaim his praise. Listen to my words as I speak.'
‘Người nào đã phục vụ ta bằng các nhạc cụ, và đã dâng cúng vật thực, đồ uống cho ta, ta sẽ tán dương người ấy. Các ngươi hãy lắng nghe lời ta nói.’
314.
314.
314.
‘‘‘Pahūtabhakkho hutvāna, sahirañño sabhojano;
Catudīpe ekarajjaṃ, kārayissatiyaṃ naro.
'This man, having abundant food, gold, and possessions, will exercise sole kingship over the four continents.'
‘Người này, với nhiều thức ăn, cùng với vàng bạc và tài sản, sẽ cai trị một vương quốc duy nhất trên bốn châu.’
315.
315.
315.
‘‘‘Pañcasīle samādāya, dasakammapathe tato;
Samādāya pavattento, parisaṃ sikkhāpayissati.
'Having undertaken the five precepts, and then the ten paths of wholesome action, he will establish his assembly in them and train them.'
‘Sau khi thọ trì năm giới, rồi thọ trì và thực hành mười nghiệp đạo thiện, vị ấy sẽ huấn luyện hội chúng.’
316.
316.
316.
‘‘‘Tūriyasatasahassāni, bheriyo samalaṅkatā;
Vajjayissantimaṃ niccaṃ, upaṭṭhānassidaṃ phalaṃ.
'One hundred thousand musical instruments and well-adorned drums will constantly play for this man. This is the fruit of his service.'
‘Một trăm ngàn nhạc cụ, các trống được trang hoàng đẹp đẽ, sẽ luôn được chơi cho người này. Đây là quả của sự phục vụ.’
317.
317.
317.
‘‘‘Tiṃsakappasahassāni, devaloke ramissati;
Catusaṭṭhikkhattuṃ devindo, devarajjaṃ karissati.
'For thirty thousand eons, he will delight in the world of the devas. Sixty-four times he will be the lord of devas, exercising divine kingship.'
‘Trong ba mươi ngàn kiếp, vị ấy sẽ hưởng lạc ở cõi trời. Sáu mươi bốn lần, vị ấy sẽ làm vua trời, cai trị vương quốc của chư thiên.’
318.
318.
318.
‘‘‘Catusaṭṭhikkhattuṃ rājā, cakkavattī bhavissati;
Padesarajjaṃ vipulaṃ, gaṇanāto asaṅkhiyaṃ.
'Sixty-four times he will be a wheel-turning monarch; his regional kingships will be vast and innumerable by count.'
‘Sáu mươi bốn lần, vị ấy sẽ trở thành vua Chuyển Luân Vương. Việc làm vua chư hầu rộng lớn thì không thể đếm xuể.’
319.
319.
319.
‘‘‘Kappasatasahassamhi, okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena, satthā loke bhavissati.
'In one hundred thousand eons from now, one born of the Okkāka clan, Gotama by name and clan, will be the Teacher in the world.'
‘Trong một trăm ngàn kiếp nữa, một vị Đạo Sư sẽ xuất hiện trên thế gian, sinh ra trong dòng dõi Okkāka, có tên là Gotama theo dòng họ.’
320.
320.
320.
‘‘‘Upapajjati yaṃ yoniṃ, devattaṃ atha mānusaṃ;
Anūnabhogo hutvāna, manussattaṃ gamissati.
'In whatever state he is reborn, whether divine or human, he will have undiminished enjoyments, and will eventually attain a human birth.'
‘Dù tái sanh vào cảnh giới nào, dù là cõi trời hay cõi người, vị ấy sẽ có tài sản không thiếu thốn, và (cuối cùng) sẽ đạt đến thân người.’
321.
321.
321.
‘‘‘Ajjhāyako bhavitvāna, tiṇṇaṃ vedāna pāragū;
Uttamatthaṃ gavesanto, carissati mahiṃ imaṃ.
'Having become a student and a master of the three Vedas, seeking the ultimate goal, he will wander this earth.'
‘Vị ấy sẽ trở thành người học thuộc lòng, thông suốt ba bộ kinh Vệ Đà, và sẽ đi khắp mặt đất này để tìm kiếm lợi ích tối thượng.’
322.
322.
322.
‘‘‘So pacchā pabbajitvāna, sukkamūlena codito;
Gotamassa bhagavato, sāsanebhiramissati.
'Later, having gone forth, urged on by his wholesome roots, he will delight in the dispensation of the Blessed One Gotama.'
‘Về sau, người ấy sẽ xuất gia, được thúc đẩy bởi cội rễ thiện lành, và sẽ hoan hỷ trong giáo pháp của Đức Thế Tôn Gotama.’
323.
323.
323.
‘‘‘Ārādhayitvāna sambuddhaṃ, gotamaṃ sakyapuṅgavaṃ;
Kilese jhāpayitvāna, arahāyaṃ bhavissati’.
'Having pleased the Fully Enlightened One, Gotama, the chief of the Sakyans, and having burned up the defilements, this man will become an Arahant.'
‘Sau khi làm hài lòng bậc Chánh Đẳng Giác Gotama, bậc Ngưu Vương của dòng Sakya, và sau khi thiêu đốt các phiền não, người này sẽ trở thành một vị A-la-hán.’
324.
324.
324.
‘‘Vipine byaggharājāva, migarājāva kesarī;
Abhīto viharāmajja, sakyaputtassa sāsane.
Like a tiger king in the forest, like a maned lion, the king of beasts, I dwell today fearless in the dispensation of the Sakyan son.
Giống như vua cọp trong rừng, giống như vua sư tử, chúa của các loài thú, hôm nay tôi sống không sợ hãi trong giáo pháp của người con dòng Sakya.
325.
325.
325.
‘‘Devaloke manusse vā, dalidde duggatimhi vā;
Nibbattiṃ me na passāmi, upaṭṭhānassidaṃ phalaṃ.
I do not see for myself any rebirth in the deva world or the human world, in a poor family or a woeful state. This is the fruit of that service.
Dù ở cõi trời hay cõi người, trong cảnh nghèo khó hay trong cõi dữ, tôi không thấy sự tái sanh của mình (ở đó). Đây là quả của sự phục vụ.
326.
326.
326.
‘‘Vivekamanuyuttomhi, upasanto nirūpadhi;
Nāgova bandhanaṃ chetvā, viharāmi anāsavo.
I am devoted to seclusion, pacified, and without attachments. Like a great elephant that has broken its bonds, I dwell free from taints.
Tôi chuyên tâm vào sự viễn ly, đã tịch tịnh, không còn chấp thủ. Giống như voi chúa phá tan xiềng xích, tôi sống không còn lậu hoặc.
327.
327.
327.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
My defilements are burnt up… I dwell without taints.
Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt… (v.v.)… tôi sống không còn lậu hoặc.
328.
328.
328.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Indeed, my coming was a welcome one… the Buddha’s teaching has been fulfilled.
Thật là thiện lai cho tôi… (v.v.)… giáo pháp của Đức Phật đã được thực hành.
329.
329.
329.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges… the Buddha’s teaching has been fulfilled.
Bốn Tuệ Phân Tích… (v.v.)… giáo pháp của Đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā jatukaṇṇitthero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the venerable Elder Jatukaṇṇi spoke these verses.
Như vậy, quả thật Trưởng lão Jatukaṇṇi đã nói những câu kệ này.
Jatukaṇṇittherassāpadānaṃ navamaṃ.
The ninth Apadāna of the Elder Jatukaṇṇi is finished.
Ký sự về trưởng lão Jatukaṇṇi là thứ chín.