Bản dịch
THA -ap410 — Ký Sự về Trưởng Lão Todeyya
Todeyyattheraapadāna
BJT 4113Lúc bấy giờ, ở kinh thành Ketumatī có đức vua tên Vijaya, là vị anh hùng, được hội đủ sức lực, đã cư ngụ ở tại thành phố.
BJT 4114Khi vị vua ấy bị xao lãng, những kẻ lục lâm đã nổi dậy. Khi ấy, những điều tội lỗi và các sự phóng đãng nữa đã tàn phá hoại xứ sở.
BJT 4115Vào lúc biên thùy bị rối loạn, vị thuần hóa kẻ thù (đức vua) đã lập tức cho tập trung các binh lính luôn cả các nhân viên quân đội, và khi ấy đã lên án kẻ thù.
BJT 4116Lúc bấy giờ, các nài voi, các lính ngự lâm, các bậc anh hùng, đội quân áo giáp da, các cung thủ, và các thủ lãnh, tất cả đã tập trung lại.
BJT 4117Lúc bấy giờ, các người đầu bếp, các thợ hớt tóc, các người hầu tắm, các người làm tràng hoa, các vị anh hùng thắng trận, tất cả đã tập trung lại.
BJT 4118Lúc bấy giờ, các người tay có cầm dao, tay có cầm cung, có áo giáp, các võ sĩ thắng trận, tất cả đã tập trung lại.
BJT 4119Lúc bấy giờ, các con voi mātaṅga(đến tuổi) bị tiết dục ở ba nơi được sáu mươi tuổi có sự trang sức với các chuông vàng, tất cả đã tập trung lại.
BJT 4120Lúc bấy giờ, các dũng sĩ đã được huấn luyện, có sức chịu đựng sự lạnh, sự nóng, và sự mang vác các vật thối tha, tất cả đã tập trung lại.
BJT 4121Lúc bấy giờ, có tiếng tù và vỏ ốc, tiếng trống lớn, và tiếng trống trầm. Trong lúc đang giải trí với những tiếng trống này, tất cả bọn họ đã tập trung lại.
BJT 4122Lúc bấy giờ, trong khi đánh đập nhau, trong khi làm cho nhau té ngã bằng các chĩa ba các cây trượng và bùa chú, bằng các áo giáp và các mũi thương, tất cả đã tập trung lại.
BJT 4123Lúc bấy giờ, là kẻ chiến thắng vị vua ấy đã không lắng nghe kẻ bại trận về bất cứ điều gì và đã làm sáu chục ngàn sanh mạng phải khiếp đảm ở nơi cọc nhọn.
BJT 4124Những con người (ấy) đã thốt ra lời rằng: “Ôi, vị vua bất nhân! Đối với kẻ đang bị nung nấu ở địa ngục thì khi nào sẽ là sự kết thúc?”
BJT 4125Khi ấy, trong lúc trằn trọc ở trên giường, tôi (như là) nằm ở địa ngục, cả ngày lẫn đêm tôi không ngủ. Với cây cọc nhọn họ làm cho tôi hoảng sợ.
BJT 4126(Tôi đã suy nghĩ rằng): “Được gì với sự chểnh mảng, với vương quốc, với xe cộ, và với binh lực? Chúng không phải là để bám víu, chúng luôn luôn làm tôi hãi sợ.
BJT 4127Được gì cho tôi với các người con trai, với các người vợ, và với toàn bộ vương quốc? Hay là ta nên xuất gia, ta nên làm trong sạch đạo lộ tái sanh?”
BJT 41284129. Không mong mỏi việc lai vãng ở chiến trường, vào địa vị, tôi đã từ bỏ sáu mươi ngàn con voi loài long tượng được trang hoàng với tất cả các loại trang sức, có chuông vàng, có trang phục yên cương bằng vàng, được cỡi bởi các vị trưởng làng có các bàn tay cầm giáo và móc câu. Bị nóng nảy bởi hành động của chính mình, tôi đã ra đi vào đời sống không gia đình.
BJT 41304131. (Tôi đã từ bỏ) sáu mươi ngàn con ngựa dòng Sindhu thuần chủng, là phương tiện vận chuyển nhanh chóng, được trang hoàng với tất cả các loại trang sức, được cỡi bởi các vị trưởng làng có các bàn tay cầm cung mang áo giáp. Sau khi buông bỏ tất cả các thứ ấy, tôi đã ra đi vào đời sống không gia đình.
BJT 4132(Tôi đã từ bỏ) sáu mươi ngàn cỗ xe được trang hoàng với tất cả các loại trang sức, có các mảnh da báo và cả da hổ được bày biện, có các ngọn cờ được giương cao. Sau khi bảo đem đi tất cả các thứ ấy, tôi đã xuất gia vào đời sống không gia đình.
BJT 4133(Tôi đã từ bỏ) sáu mươi ngàn con bò cái, tất cả đều mang bầu sữa. Sau khi quăng bỏ luôn cả lũ bò cái, tôi đã xuất gia vào đời sống không gia đình.
BJT 4134(Tôi đã từ bỏ) sáu mươi ngàn phụ nữ được trang điểm với tất cả các loại trang sức, được trang hoàng bằng các loại vải vóc nhiều màu sắc, có các bông tai bằng ngọc trai và ngọc ma-ni.
BJT 4135Các nàng có lông mi cong, có nụ cười, có điệu bộ duyên dáng, có eo thon. Tôi đã từ bỏ các nàng đang khóc lóc và đã xuất gia vào đời sống không gia đình.
BJT 4136(Tôi đã từ bỏ) sáu mươi ngàn ngôi làng có đầy đủ tất cả. Sau khi quăng bỏ vương quốc ấy, tôi đã xuất gia vào đời sống không gia đình.
BJT 4137Sau khi rời khỏi thành phố, tôi đã đi đến núi Hy-mã-lạp. Tôi đã tạo lập khu ẩn cư ở bờ sông Bhāgīrathī.
BJT 4138Sau khi xây dựng gian nhà rộng bằng lá, tôi đã xây dựng ngôi nhà thờ lửa. Có sự nỗ lực tinh tấn, có tính khẳng quyết, tôi sống ở khu ẩn cư của tôi.
BJT 4139Và trong lúc tham thiền ở mái che, ở gốc cây, hoặc ở ngôi nhà trống vắng, tuy nhiên sự run sợ của tôi là không được biết đến, tôi không nhìn thấy sự kinh hoàng và hãi sợ.
BJT 4140Đấng Toàn Giác tên Sumedha, bậc Cao Cả, đấng Bi Mẫn, bậc Hiền Trí, trong khi chói sáng với ánh sáng trí tuệ đã lập tức hiện khởi ở thế gian.
BJT 4141Ở lân cận khu ẩn cư của tôi có con Dạ-xoa có đại thần lực, khi ấy đã thông báo cho tôi về đức Phật tối thượng đã hiện khởi:
BJT 4142“Đức Phật bậc Hữu Nhãn tên Sumedha đã hiện khởi ở thế gian. Ngài giúp cho tất cả loài người vượt qua. Ngài cũng sẽ giúp cho ngươi vượt qua.”
BJT 4143Sau khi lắng nghe lời nói của con Dạ-xoa, ngay khi ấy sự chấn động đã xuất hiện (ở tôi). Trong lúc suy nghĩ “Đức Phật! Đức Phật!” tôi đã xếp đặt lại khu ẩn cư.
BJT 4144Và sau khi quăng bỏ lửa củi, tôi đã tự sắp xếp thảm trải. Sau khi lễ bái khu ẩn cư, tôi đã rời khỏi khu rừng.
BJT 4145Sau khi cầm lấy trầm hương từ khu rừng ấy, trong khi tìm kiếm vị Trời của chư Thiên từ làng này đến làng khác, từ thành phố này đến thành phố khác, tôi đã đi đến gần bậc Hướng Đạo.
BJT 4146Vào thời điểm ấy, đức Thế Tôn, bậc Lãnh Đạo Thế Gian Sumedha, trong khi công bố về bốn Sự Thật (đã) giác ngộ nhiều người.
BJT 4147Sau khi đã chắp tay lên và đặt trầm hương ở trên đầu, tôi đã đảnh lễ đấng Toàn Giác và đã nói lên những lời kệ này:
BJT 4148“Trong khi hoa nhài đang nở rộ, (hương thơm) tỏa ra vùng lân cận. Bạch đấng Anh Hùng, Ngài tỏa ra khắp mọi phương với hương thơm của đức hạnh.
BJT 4149Trong khi các loài hoa campaka, hoa mù u, hoa atimuttaka, hoa dứa dại, hoa sālā đang nở rộ, (hương thơm) tỏa ra theo chiều gió.
BJT 4150Bạch đấng Đại Hùng, bậc Trưởng Thượng của thế gian, vị có danh tiếng vĩ đại, sau khi nghe được danh thơm của Ngài, con từ núi Hi-mã-lạp đã đi đến nơi đây, con xin cúng dường Ngài.”
BJT 4151Tôi đã thoa trầm hương cao quý lên đấng Lãnh Đạo Thế Gian Sumedha. Sau khi làm cho tâm của mình được tịnh tín, ngay khi ấy tôi đã đứng yên lặng.
BJT 4152Đức Thế Tôn tên Sumedha, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu đã ngồi xuống ở hội chúng tỳ khưu và đã nói lên những lời kệ này:
BJT 4153“Người nào đã ca tụng về đức hạnh của Ta và đã cúng dường trầm hương, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hãy lắng nghe Ta nói.
BJT 4154(Người này) sẽ là người cao quý, thẳng thắn, có sự huy hoàng, có ngôn từ được (người khác) thâu nhận, có hào quang trong hai mươi lăm kiếp.
BJT 4155Người này sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên trong hai ngàn sáu trăm kiếp, và sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương một ngàn lần.
BJT 4156(Người này) sẽ là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc ba mươi ba lần. Lãnh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.
BJT 4157Mệnh chung từ nơi ấy, người này sẽ đi đến bản thể nhân loại, được gắn liền với nghiệp phước thiện, sẽ là thân quyến của Phạm Thiên.
BJT 4158(Sẽ có) người Bà-la-môn tên Bāvarī là vị giảng huấn, thông thạo về chú thuật, thông suốt ba tập Vệ-đà, hội đủ ba tướng mạo.
BJT 4159Sau khi trở thành đệ tử của vị ấy, (người này) sẽ thông thạo về chú thuật và sẽ đi đến với đấng Toàn Giác Gotama, bậc cao quý dòng Sakya.
BJT 4160Người này sẽ hỏi các câu hỏi khôn khéo, sẽ tu tập Đạo Lộ, sẽ biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, và sẽ Niết Bàn không còn lậu hoặc.”
BJT 4161Ba loại lửa (tham sân si) của tôi đã được dập tắt, tất cả các hữu đã được xóa sạch, sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 4162Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 4163Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 4164Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Todeyya đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Todeyya là phần thứ tám.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Rājā ajitañjayo † nāma, ketumatīpuruttame;
Sūro vikkamasampanno, puramajjhāvasī tadā.
A king named Ajitañjaya, brave and endowed with prowess, then dwelt in Ketumatī, the best of cities.
Khi ấy, ở tại đô thành Ketumatī cao quý, có vị vua tên là Ajitañjaya, là người dũng mãnh, có đầy đủ sự oai hùng, đã trị vì đô thành.
225.
225.
225.
‘‘Tassa rañño pamattassa, aṭaviyo samuṭṭhahuṃ;
Otārā † tuṇḍikā ceva, raṭṭhaṃ viddhaṃsayuṃ tadā.
When that king was heedless, forest brigands arose; and thieves, finding opportunity, then destroyed the kingdom.
Trong lúc vị vua ấy đang dể duôi, các toán giặc rừng đã nổi lên; và khi ấy, các kẻ trộm cướp đã có cơ hội và đã tàn phá xứ sở.
226.
226.
226.
‘‘Paccante kupite khippaṃ, sannipātesirindamo;
Bhaṭe ceva balatthe ca, ariṃ niggāhayi tadā.
When the border was troubled, the subduer of foes quickly assembled soldiers and army chiefs; he then subdued the enemy.
Khi vùng biên giới bị khuấy động, vị vua chế ngự kẻ thù đã nhanh chóng tập hợp các binh lính và các tướng lãnh; khi ấy, ngài đã đàn áp kẻ thù.
227.
227.
227.
‘‘Hatthārohā anīkaṭṭhā, sūrā ca cammayodhino;
Dhanuggahā ca uggā ca, sabbe sannipatuṃ tadā.
Elephant-riders and cavalrymen, brave men and shield-bearing warriors, archers and prominent princes—all assembled then.
Khi ấy, các nài voi, các kỵ binh, các dũng sĩ, các chiến binh mang khiên da, các cung thủ, và các vương tử lỗi lạc, tất cả đã tập hợp lại.
228.
228.
228.
‘‘Āḷārikā ca kappakā, nhāpakā mālakārakā;
Sūrā vijitasaṅgāmā, sabbe sannipatuṃ tadā.
Cooks and barbers, bath attendants and garland-makers, brave men victorious in battle—all assembled then.
Khi ấy, các đầu bếp, các thợ hớt tóc, các người phục vụ tắm rửa, các người kết hoa, các dũng sĩ đã chiến thắng trong trận mạc, tất cả đã tập hợp lại.
229.
229.
229.
‘‘Khaggahatthā ca purisā, cāpahatthā ca vammino;
Luddā vijitasaṅgāmā, sabbe sannipatuṃ tadā.
Men with swords in hand, and men with bows in hand wearing armor, fierce men victorious in battle—all assembled then.
Khi ấy, những người nam tay cầm gươm, những người mang giáp tay cầm cung, những người tàn bạo đã chiến thắng trong trận mạc, tất cả đã tập hợp lại.
230.
230.
230.
‘‘Tidhāpabhinnā mātaṅgā, kuñjarā saṭṭhihāyanā;
Suvaṇṇakacchālaṅkārā, sabbe sannipatuṃ tadā.
Elephants in rut in three places, tuskers sixty years of age, adorned with golden trappings—all assembled then.
Khi ấy, các con voi mātaṅga, các con voi kuñjara sáu mươi tuổi đang trong thời kỳ động cỡn ở ba nơi, được trang hoàng bằng dây đai bằng vàng, tất cả đã tập hợp lại.
231.
231.
231.
‘‘Khamā sītassa uṇhassa, ukkāruharaṇassa ca;
Yodhājīvā katakammā, sabbe sannipatuṃ tadā.
Tolerant of cold and heat, and of bearing burdens, professional soldiers who had done their duty—all assembled then.
Khi ấy, những người có thể chịu đựng được lạnh và nóng, và sự mang vác các ngọn đuốc, những người sống bằng nghề chiến đấu, những người đã được huấn luyện, tất cả đã tập hợp lại.
232.
232.
232.
‘‘Saṅkhasaddaṃ bherisaddaṃ, atho utuja † saddakaṃ;
Etehi te hāsayantā, sabbe sannipatuṃ tadā.
With the sound of conches, the sound of drums, and also the sound of seasonal instruments, they, being joyful, all assembled then.
Khi ấy, với tiếng tù và, tiếng trống trận, và cả tiếng nhạc cụ utuja, tất cả bọn họ đã tập hợp lại trong khi đang làm cho (nhau) phấn khởi.
233.
233.
233.
‘‘Tisūlakontimantehi † ca;
Koṭṭentānaṃ nipātentā †, sabbe sannipatuṃ tadā.
With tridents, lances, and spells, striking and felling, all assembled then.
Khi ấy, những người có thể đánh ngã những kẻ đang đâm chém bằng đinh ba, bằng lao, bằng bùa chú, và bằng áo giáp và giáo dài, tất cả đã tập hợp lại.
234.
234.
234.
‘‘Kimevātinisāmetvā †, sarājā ajitañjayo †;
Saṭṭhi pāṇasahassāni, sūle uttāsayiṃ tadā.
Having ascertained this, that King Ajitañjaya—I—then had sixty thousand living beings impaled on stakes.
Khi ấy, sau khi đã xem xét, ta là vua Ajitañjaya đã cho đóng cọc sáu mươi ngàn sinh linh.
235.
235.
235.
‘‘Saddaṃ mānusakākaṃsu, aho rājā adhammiko;
Niraye paccamānassa, kadā anto bhavissati.
The people made a cry: ‘Alas, the king is unrighteous! For one being cooked in hell, when will there be an end?’
Loài người đã cất tiếng: ‘Ôi, vị vua thật bất chính! Khi bị thiêu đốt ở địa ngục, bao giờ mới có sự kết thúc?’
236.
236.
236.
‘‘Sayanehaṃ tuvaṭṭento, passāmi niraye tadā;
Na supāmi divārattiṃ, sūlena tajjayanti maṃ.
As I lie tossing and turning in my bed, I then see myself in hell. I do not sleep day or night; they torment me with a stake.
Trong khi đang trằn trọc trên giường ngủ, khi ấy ta thấy (mình) ở địa ngục. Ta không ngủ được cả ngày lẫn đêm, họ dùng cọc nhọn để đe dọa ta.
237.
237.
237.
‘‘Kiṃ pamādena rajjena, vāhanena balena ca;
Na te pahonti dhāretuṃ, tāpayanti † mamaṃ sadā.
What benefit is there in heedless kingship, in mounts, and in forces? They are not able to support me; they always torment me.
Ích lợi gì với vương quyền dể duôi, với các phương tiện đi lại, và với quân đội? Chúng không thể bảo vệ được ta, chúng luôn làm cho ta bị dằn vặt.
238.
238.
238.
‘‘Kiṃ me puttehi dārehi, rajjena sakalena ca;
Yaṃnūna pabbajeyyāhaṃ, gatimaggaṃ visodhaye.
What benefit to me are sons, wives, or the entire kingdom? Indeed, I shall go forth; I shall purify the path to my destination.
Ích lợi gì cho ta với các con trai, với các người vợ, và với toàn thể vương quốc? Chắc chắn rằng ta nên đi xuất gia, ta sẽ làm trong sạch con đường đi (đến các cõi).
239.
239.
239.
‘‘Saṭṭhi nāgasahassāni, sabbālaṅkārabhūsite;
Suvaṇṇakacche mātaṅge, hemakappanavāsase.
Sixty thousand elephants, adorned with all ornaments, great-limbed, with golden girths, and furnished with golden harnesses.
Sáu mươi ngàn con voi, được trang hoàng với tất cả đồ trang sức, những con voi mātaṅga có dây đai bằng vàng, được phủ lên mình yên cụ bằng vàng.
240.
240.
240.
‘‘Ārūḷhe gāmaṇīyehi, tomaraṅkusapāṇibhi;
Saṅgāmāvacare ṭhāne, anapekkho vihāyahaṃ;
Sakakammena santatto, nikkhamiṃ anagāriyaṃ.
Mounted by warriors with spears and goads in hand; having abandoned them in the place frequented for battle, I, being unconcerned and scorched by my own karma, went forth into the homeless life.
Được các tướng lãnh tay cầm giáo và móc sắt cỡi lên, (những con voi ấy) ở tại nơi chiến trường, ta đã từ bỏ chúng không luyến tiếc. Bị dằn vặt bởi nghiệp của chính mình, ta đã đi đến đời sống không nhà.
241.
241.
241.
‘‘Saṭṭhi assasahassāni, sabbālaṅkārabhūsite;
Ājānīyeva jātiyā, sindhave sīghavāhane.
Sixty thousand horses, adorned with all ornaments, of thoroughbred stock by birth, of the Sindh breed, and swift carriers.
Sáu mươi ngàn con ngựa, được trang hoàng với tất cả đồ trang sức, thuộc dòng dõi thuần chủng, giống ngựa Sindhu, có tốc độ nhanh.
242.
242.
242.
‘‘Ārūḷhe gāmaṇīyehi, cāpahatthehi vammibhi;
Pahāretvāna † te sabbe, nikkhamiṃ anagāriyaṃ.
Mounted by warriors with bows in hand and wearing armor; having abandoned all of them, I went forth into the homeless life.
Được các tướng lãnh tay cầm cung và mặc áo giáp cỡi lên, sau khi đã từ bỏ tất cả chúng, ta đã đi đến đời sống không nhà.
243.
243.
243.
‘‘Saṭṭhi rathasahassāni, sabbālaṅkārabhūsite;
Dīpe athopi veyagghe, sannaddhe ussitaddhaje;
Te sabbe parihāretvā †, pabbajiṃ anagāriyaṃ.
Sixty thousand chariots, adorned with all ornaments, covered with leopard and tiger skins, armored, with banners raised; having abandoned all of them, I went forth into the homeless life.
Sáu mươi ngàn cỗ xe, được trang hoàng với tất cả đồ trang sức, được bọc bằng da báo và da cọp, được trang bị đầy đủ, có cờ xí dựng lên; sau khi đã từ bỏ tất cả chúng, ta đã xuất gia vào đời sống không nhà.
244.
244.
244.
‘‘Saṭṭhi dhenusahassāni, sabbā kaṃsūpadhāraṇā;
Tāyopi † chaḍḍayitvāna, pabbajiṃ anagāriyaṃ.
Sixty thousand milch cows, all with golden milking pails; having abandoned them also, I went forth into the homeless life.
Sáu mươi ngàn con bò sữa, tất cả đều có thùng vắt sữa bằng đồng; sau khi đã vứt bỏ cả chúng, ta đã xuất gia vào đời sống không nhà.
245.
245.
245.
‘‘Saṭṭhi itthisahassāni, sabbālaṅkārabhūsitā;
Vicittavatthābharaṇā, āmukkamaṇikuṇḍalā.
Sixty thousand women, adorned with all ornaments, with variegated clothes and jewels, wearing jeweled earrings.
Sáu mươi ngàn người nữ, được trang điểm với tất cả đồ trang sức, có y phục và trang sức đa dạng, đeo bông tai bằng ngọc.
246.
246.
246.
‘‘Aḷārapamhā hasulā, susaññā tanumajjhimā;
Tā hitvā kandamānāyo, pabbajiṃ anagāriyaṃ.
With curved eyelashes, prone to smiling, well-proportioned, and slender-waisted; having left them while they were weeping, I went forth into the homeless life.
Có lông mi cong, hay tươi cười, có thân hình cân đối, có eo lưng thon thả; sau khi đã từ bỏ họ trong lúc đang than khóc, ta đã xuất gia vào đời sống không nhà.
247.
247.
247.
‘‘Saṭṭhi gāmasahassāni, paripuṇṇāni sabbaso;
Chaḍḍayitvāna taṃ rajjaṃ, pabbajiṃ anagāriyaṃ.
Having abandoned sixty thousand villages, complete in every way, and that kingdom, I went forth into the homeless life.
Sáu mươi ngàn ngôi làng, hoàn toàn sung túc; từ bỏ vương quốc ấy, tôi đã xuất gia, sống đời không nhà.
248.
248.
248.
‘‘Nagarā nikkhamitvāna, himavantamupāgamiṃ;
Bhāgīrathīnadītīre, assamaṃ māpayiṃ ahaṃ.
Having gone out from the city, I approached the Himālaya; on the bank of the Bhāgīrathī river, I had a hermitage created.
Rời khỏi thành phố, tôi đã đi đến Hy-mã-lạp sơn; trên bờ sông Bhāgīrathī, tôi đã dựng lên một am thất.
249.
249.
249.
‘‘Paṇṇasālaṃ karitvāna, agyāgāraṃ akāsahaṃ;
Āraddhavīriyo pahitatto, vasāmi assame ahaṃ.
Having made a leaf-hut and a fire-house, with energy aroused and mind directed, I dwell in the hermitage.
Sau khi làm một túp lều lá, tôi đã làm một nhà lửa; với nghị lực tinh tấn, tâm hướng đến mục tiêu, tôi sống trong am thất.
250.
250.
250.
‘‘Maṇḍape rukkhamūle vā, suññāgāre ca jhāyato;
Na tu vijjati tāso me, na passe bhayabheravaṃ.
For me, meditating in a pavilion, at the root of a tree, or in an empty dwelling, there is no terror, nor do I see anything fearsome or dreadful.
Dù ở trong lều, dưới gốc cây, hay nơi vắng vẻ, đối với tôi là người thiền định, không có sự sợ hãi nào tồn tại, tôi không thấy điều gì kinh hoàng hay khủng khiếp.
251.
251.
251.
‘‘Sumedho nāma sambuddho, aggo kāruṇiko muni;
Ñāṇālokena jotanto, loke uppajji tāvade.
At that time, the Perfectly Enlightened One named Sumedha, the supreme, compassionate Sage, arose in the world, shining with the light of knowledge.
Bậc Chánh Đẳng Giác tên là Sumedha, vị Thánh tối thượng, đầy lòng bi mẫn; tỏa sáng với ánh sáng trí tuệ, Ngài đã xuất hiện trên thế gian vào lúc ấy.
252.
252.
252.
‘‘Mama assamasāmantā, yakkho āsi mahiddhiko;
Buddhaseṭṭhamhi uppanne, ārocesi mamaṃ tadā.
Near my hermitage there was a yakkha of great power; when the Best of Buddhas arose, he then informed me.
Gần am thất của tôi, có một dạ-xoa đầy quyền năng; khi bậc Tối Thắng Giác Ngộ xuất hiện, vị ấy đã báo cho tôi biết vào lúc đó.
253.
253.
253.
‘‘Buddho loke samuppanno, sumedho nāma cakkhumā;
Tāreti janataṃ sabbaṃ, tampi so tārayissati.
A Buddha has arisen in the world, named Sumedha, the One with Vision. He saves all people; he will save you also.
Đức Phật đã xuất hiện trên thế gian, tên là Sumedha, bậc có Thiên nhãn; Ngài cứu độ tất cả chúng sanh, và Ngài cũng sẽ cứu độ ông.
254.
254.
254.
‘‘Yakkhassa vacanaṃ sutvā, saṃviggo āsi tāvade;
Buddho buddhoti cintento, assamaṃ paṭisāmayiṃ.
Having heard the yakkha's words, I was immediately stirred. Thinking, 'A Buddha! A Buddha!', I set my hermitage in order.
Nghe lời của dạ-xoa, tôi liền cảm thấy chấn động; suy niệm 'Phật, Phật', tôi đã thu dọn am thất của mình.
255.
255.
255.
‘‘Aggidāruñca chaḍḍetvā, saṃsāmetvāna santhataṃ;
Assamaṃ abhivanditvā, nikkhamiṃ vipinā ahaṃ.
Having abandoned the firewood for the fire-ritual and having put away the ground-covering, after paying homage to the hermitage, I went forth from the forest.
Từ bỏ củi lửa cúng dường, và dọn dẹp tấm lót; đảnh lễ am thất, tôi đã rời khỏi khu rừng.
256.
256.
256.
‘‘Tato candanamādāya, gāmā gāmaṃ purā puraṃ;
Devadevaṃ gavesanto, upagacchiṃ vināyakaṃ.
Then, taking sandalwood, I went from village to village and from town to town; seeking the God of gods, I approached the Leader.
Từ đó, mang theo gỗ chiên-đàn, tôi đi từ làng này sang làng khác, từ thành phố này sang thành phố khác; tìm kiếm bậc Thiên Nhân Sư, tôi đã đến gần bậc Đạo Sư.
257.
257.
257.
‘‘Bhagavā tamhi samaye, sumedho lokanāyako;
Catusaccaṃ pakāsento, bodheti janataṃ bahuṃ.
At that time the Blessed One, Sumedha, the World-Leader, proclaiming the Four Truths, was awakening many people.
Vào thời điểm đó, Đức Thế Tôn Sumedha, bậc Lãnh Đạo thế gian; đang thuyết giảng Tứ Diệu Đế, Ngài đã làm cho nhiều chúng sanh giác ngộ.
258.
258.
258.
‘‘Añjaliṃ paggahetvāna, sīse katvāna candanaṃ;
Sambuddhaṃ abhivādetvā, imā gāthā abhāsahaṃ.
Having raised my joined palms in reverence, having placed the sandalwood on my head, and having paid homage to the Perfectly Enlightened One, I spoke these verses:
Chắp tay lại, đặt gỗ chiên-đàn lên đầu; đảnh lễ bậc Chánh Đẳng Giác, tôi đã nói lên những vần kệ này.
259.
259.
259.
‘‘‘Vassike pupphamānamhi, santike upavāyati;
Tvaṃ vīra guṇagandhena, disā sabbā pavāyasi.
When the jasmine blooms, its fragrance wafts nearby; but you, O Hero, with the fragrance of your virtue, are fragrant in all directions.
Khi hoa lài nở, hương thơm chỉ lan tỏa gần đó; còn Ngài, bậc Anh Hùng, với hương thơm đức hạnh, Ngài tỏa ngát khắp mọi phương.
260.
260.
260.
‘‘‘Campake nāgavanike, atimuttakaketake;
Sālesu pupphamānesu, anuvātaṃ pavāyati.
When the campaka, the ironwood flower, the atimuttaka, the ketaka, and the sāla trees are in bloom, their fragrance wafts downwind.
Hoa ngọc lan, hoa vương túc, hoa atimuttaka và ketaka; khi những cây sala trổ hoa, hương thơm chỉ bay theo chiều gió.
261.
261.
261.
‘‘‘Tava gandhaṃ suṇitvāna, himavantā idhāgamiṃ;
Pūjemi taṃ mahāvīra, lokajeṭṭha mahāyasa’.
Having heard of your fragrance, I came here from the Himālaya. I honor you, O Great Hero, Eldest in the World, One of Great Fame.
Nghe được hương thơm của Ngài, con đã từ Hy-mã-lạp sơn đến đây; con xin cúng dường Ngài, bậc Đại Hùng, bậc Tối Thắng trong đời, bậc Đại Danh Vọng.
262.
262.
262.
‘‘Varacandanenānulimpiṃ, sumedhaṃ lokanāyakaṃ;
Sakaṃ cittaṃ pasādetvā, tuṇhī aṭṭhāsi tāvade.
I anointed Sumedha, the World-Leader, with excellent sandalwood; having gladdened my own mind, I stood silently at that moment.
Tôi đã xoa ướp gỗ chiên-đàn hảo hạng lên đức Sumedha, bậc Lãnh Đạo thế gian; làm cho tâm mình hoan hỷ, tôi đã đứng im lặng vào lúc ấy.
263.
263.
263.
‘‘Sumedho nāma bhagavā, lokajeṭṭho narāsabho;
Bhikkhusaṅghe nisīditvā, imā gāthā abhāsatha.
The Blessed One named Sumedha, Eldest in the World, Bull among Men, having sat down in the Saṅgha of bhikkhus, spoke these verses:
Đức Thế Tôn tên là Sumedha, bậc Tối Thắng trong đời, bậc Ngưu Vương trong loài người; ngồi giữa Tăng đoàn, Ngài đã nói lên những vần kệ này.
264.
264.
264.
‘‘‘Yo me guṇe pakittesi, candanañca apūjayi;
Tamahaṃ kittayissāmi, suṇātha mama bhāsato.
He who has extolled my virtues and honored me with sandalwood, I shall now declare it concerning him. Listen to me as I speak.
Người nào đã tán thán đức hạnh của ta, và đã cúng dường gỗ chiên-đàn; ta sẽ tuyên thuyết về người ấy, hãy lắng nghe lời ta nói.
265.
265.
265.
‘‘‘Ādeyyavākyavacano, brahmā uju patāpavā;
Pañcavīsatikappāni, sappabhāso bhavissati.
One whose words are authoritative, upright, and powerful, he will be a radiant Brahmā for twenty-five kappas.
Với lời nói đáng tin cậy, là một vị Phạm thiên, ngay thẳng, và đầy uy lực; trong hai mươi lăm kiếp, vị ấy sẽ là người có hào quang rực rỡ.
266.
266.
266.
‘‘‘Chabbīsatikappasate, devaloke ramissati;
Sahassakkhattuṃ rājā ca, cakkavattī bhavissati.
For twenty-six hundred kappas, he will delight in the world of the devas; and a thousand times he will be a king, a wheel-turning monarch.
Trong hai ngàn sáu trăm kiếp, vị ấy sẽ hưởng lạc ở cõi trời; và một ngàn lần, vị ấy sẽ trở thành vua Chuyển Luân Vương.
267.
267.
267.
‘‘‘Tettiṃsakkhattuṃ devindo, devarajjaṃ karissati;
Padesarajjaṃ vipulaṃ, gaṇanāto asaṅkhiyaṃ.
Thirty-three times he will be the ruler of the devas and will exercise sovereignty over the deva realm; his regional kingship will be vast, innumerable by count.
Ba mươi ba lần làm vua cõi trời, vị ấy sẽ cai quản vương quốc của chư thiên; và những lần làm vua chư hầu rộng lớn thì không thể đếm xuể.
268.
268.
268.
‘‘‘Tato cutoyaṃ manujo, manussattaṃ gamissati;
Puññakammena saṃyutto, brahmabandhu bhavissati.
Passing away from there, this man will go to the human state; endowed with meritorious kamma, he will be of brahmin lineage.
Sau khi mạng chung từ đó, người này sẽ tái sanh làm người; do nghiệp phước thiện, vị ấy sẽ thuộc dòng dõi Bà-la-môn.
269.
269.
269.
‘‘‘Ajjhāyako mantadharo, tiṇṇaṃ vedāna pāragū;
Tilakkhaṇena sampanno, bāvarī nāma brāhmaṇo.
A reciter and bearer of mantras, one who has mastered the three Vedas, endowed with the three characteristics, he will be a brahmin named Bāvarī.
Sẽ có một vị Bà-la-môn tên là Bāvarī, người chuyên tụng đọc và ghi nhớ các câu thần chú, thông suốt ba bộ Vệ-đà, và có đủ ba tướng tốt.
270.
270.
270.
‘‘‘Tassa sisso bhavitvāna, hessati mantapāragū;
Upagantvāna sambuddhaṃ, gotamaṃ sakyapuṅgavaṃ.
Having become his disciple, he will be one who has mastered the mantras. Having approached the Perfectly Enlightened One, Gotama, the bull among the Sakyans—
Trở thành đệ tử của vị ấy, người này sẽ là bậc thông suốt các câu thần chú; và sẽ đến gần bậc Chánh Đẳng Giác, đức Gotama, bậc Tối Thắng của dòng họ Thích-ca.
271.
271.
271.
‘‘‘Pucchitvā nipuṇe pañhe, bhāvayitvāna añjasaṃ †;
Sabbāsave pariññāya, viharissatināsavo’.
Having asked subtle questions and having developed the path, fully understanding all the taints, he will dwell taintless.
Sau khi hỏi những câu hỏi vi tế, và tu tập con đường chân chánh; sau khi liễu tri tất cả các lậu hoặc, vị ấy sẽ sống không còn lậu hoặc.
272.
272.
272.
‘‘Tividhaggi nibbutā mayhaṃ, bhavā sabbe samūhatā;
Sabbāsave pariññāya, viharāmi anāsavo.
My threefold fire is extinguished, all states of existence are uprooted; having fully understood all the taints, I dwell taintless.
Ba ngọn lửa của tôi đã được dập tắt, tất cả các hữu đã được nhổ sạch; sau khi liễu tri tất cả các lậu hoặc, tôi sống không còn lậu hoặc.
273.
273.
273.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
My defilements are burnt... I dwell taintless.
Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt... (v.v.)... tôi sống không còn lậu hoặc.
274.
274.
274.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Indeed, my coming was a good one... the Buddha’s teaching has been fulfilled.
Sự đến của tôi thật là thiện lai... (v.v.)... lời dạy của Đức Phật đã được thực hành.
275.
275.
275.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges... the Buddha’s teaching has been fulfilled.
Bốn Tuệ Phân Tích... (v.v.)... lời dạy của Đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā todeyyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the venerable Elder Todeyya spoke these verses.
Như vậy, quả thật Trưởng lão Todeyya đáng kính đã nói những vần kệ này.
Todeyyattherassāpadānaṃ aṭṭhamaṃ.
The eighth Apadāna of the Elder Todeyya is concluded.
Kết thúc thiên sự thứ tám về trưởng lão Todeyya.