Bản dịch
THA -ap409 — Ký Sự về Trưởng Lão Hemaka
Hemakattheraapadāna
BJT 4072Vào lúc bấy giờ, có vị đạo sĩ khổ hạnh tên là Anoma đã tạo lập khu ẩn cư được xây dựng khéo léo ở gần chóp đỉnh của sườn núi và đã sống ở gian nhà rộng bằng lá.
BJT 4073Sự thực hành khổ hạnh của vị ấy đã được thành tựu. Được đạt đến sự thành tựu về các năng lực của bản thân, vị hiền trí có sự nhiệt tâm, cẩn trọng, đang tiến đến bản thể sa-môn của chính mình.
BJT 4074(Vị ấy) tự tin ở giáo lý của mình và rành rẽ về học thuyết của người khác, được nổi tiếng ở trên trời dưới đất và rành rẽ về điềm báo hiệu.
BJT 4075Vị hiền trí không còn sầu muộn, không giết hại, (thọ) chút ít vật thực, không tham lam, hài lòng với việc có hay không có, chứng thiền, thỏa thích về thiền.
BJT 4076Bậc Toàn Giác cao cả, đấng Bi Mẫn, bậc Hiền Trí tên Piyadassī, có ước muốn giúp cho chúng sanh vượt qua, khi ấy Ngài đã lan tỏa với tâm bi mẫn.
BJT 4077Sau khi nhìn thấy người có khả năng giác ngộ, bậc Đại Hiền Trí Piyadassī vẫn đi đến dẫu cho (khoảng cách là) một ngàn vũ trụ, và bậc Hiền Trí giáo giới (người ấy).
BJT 4078Có ý muốn tiếp độ tôi, Ngài đã đi đến khu ẩn cư của tôi. Tôi chưa từng nhìn thấy đấng Chiến Thắng trước đây, và cũng chưa từng được nghe từ bất cứ ai.
BJT 4079Tôi hiểu biết rành rẽ về các điềm báo hiệu, các mộng mị, và các tướng mạo. Tôi được nổi tiếng về thiên văn địa lý và rành rẽ về thuật chiêm tinh.
BJT 4080Tại đó, sau khi lắng nghe đức Phật tôi đây đã làm cho tâm được tịnh tín. Trong khi ăn hoặc trong khi ngồi xuống, tôi thường xuyên nhớ lại.
BJT 4081Khi tôi nhớ lại như vậy, đức Thế Tôn cũng đã tưởng nhớ lại. Trong khi tưởng nhớ đến đức Phật, tôi có được phỉ lạc ngay lập tức.
BJT 4082Và đã xảy ra một lần khác nữa, bậc Đại Hiền Trí đã đi đến gần tôi. Tôi cũng không biết về người đã đi đến: “Vị này là đức Phật, bậc Đại Hiền Trí.”
BJT 4083Bậc Thương Tưởng, đấng Bi Mẫn, bậc Đại Hiền Trí Piyadassī đã tỏ rõ về bản thân rằng: “Ta là đức Phật (ở thế gian) gồm luôn cả chư Thiên.”
BJT 4084Sau khi nhận ra đấng Toàn Giác, bậc Đại Hiền Trí Piyadassī, tôi đã làm cho tâm của chính mình được tịnh tín rồi đã nói lời nói này:
BJT 4085“Những người khác tự ngồi xuống ở ghế đẩu, ghế bành, và các ghế dài. Còn ngài là đấng Toàn Tri, xin ngài hãy ngồi xuống chỗ ngồi bằng châu báu.”
BJT 4086Ngay khi ấy, tôi đã hóa hiện ra chiếc ghế đẩu toàn bộ làm bằng châu báu và đã dâng lên bậc Hiền Trí Piyadassī (chiếc ghế) đã được hóa hiện ra bằng thần thông.
BJT 4087Và khi Ngài đã ngồi xuống trên chiếc ghế đẩu bằng châu báu đã được hóa hiện ra bằng thần thông, tôi đã tức thời dâng đến Ngài trái mận đỏ có kích thước bằng bầu nước.
BJT 4088Sau khi làm cho tôi sanh khởi niềm vui, bậc Đại Hiền Trí đã thọ dụng. Khi ấy, tôi đã làm cho tâm được tịnh tín và đã đảnh lễ bậc Đạo Sư.
BJT 4089Rồi đức Thế Tôn Piyadassī, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu, ngồi ở chỗ ngồi bằng châu báu đã nói lên các lời kệ này:
BJT 4090“Người nào đã dâng cúng Ta chiếc ghế đẩu làm bằng châu báu và trái cây bất tử, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hãy lắng nghe Ta nói.
BJT 4091(Người này) sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên trong bảy mươi bảy kiếp, và sẽ là đấng Chuyển Luân Vương bảy mươi lăm lần.
BJT 4092(Người này) sẽ là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc ba mươi hai lần. Lãnh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.
BJT 4093(Người này) sẽ đạt được nhiều chiếc ghế bành khéo được tạo ra làm bằng vàng, làm bằng bạc, làm bằng hồng ngọc, và luôn cả làm bằng châu báu.
BJT 4094Khi ấy, có vô số chiếc ghế bành sẽ quây quanh con người có được nghiệp phước thiện, ngay cả trong lúc (vị ấy) đang đi kinh hành.
BJT 4095Các ngôi nhà mái nhọn, các tòa lâu đài, và chỗ nằm vô cùng giá trị, sau khi biết được tâm (ước muốn) của người này sẽ được hiện ra ngay khi ấy.
BJT 4096Sáu mươi ngàn con voi loài long tượng được trang hoàng với tất cả các loại trang sức, có chuông vàng, có trang phục với yên cương bằng vàng.
BJT 4097Được cỡi bởi các vị trưởng làng có các bàn tay cầm giáo và móc câu, chúng sẽ hộ tống người này; điều này là quả báu của chiếc ghế bằng châu báu.
BJT 4098Sáu mươi ngàn con ngựa dòng Sindhu thuần chủng là phương tiện vận chuyển nhanh chóng, được trang hoàng với tất cả các loại trang sức.
BJT 4099Được cỡi bởi các vị trưởng làng có mang cung với gươm, chúng cũng sẽ hộ tống người này; điều này là quả báu của chiếc ghế bằng châu báu.
BJT 4100Sáu mươi ngàn cỗ xe được trang hoàng với tất cả các loại trang sức, có các mảnh da báo và cả da hổ được bày biện, có các ngọn cờ được giương cao.
BJT 4101Được cỡi bởi các vị trưởng làng có các tay cầm cung mang áo giáp, chúng sẽ thường xuyên hộ tống người này; điều này là quả báu của chiếc ghế bằng châu báu.
BJT 4102Sáu mươi ngàn con bò cái sữa sẽ sản xuất ra các con bò con và bò đực cao quý; điều này là quả báu của chiếc ghế bằng châu báu.
BJT 4103Mười sáu ngàn phụ nữ được trang điểm với tất cả các loại trang sức, được trang hoàng bằng các loại vải vóc nhiều màu sắc, có các bông tai bằng ngọc trai và ngọc ma-ni.
BJT 4104Có lông mi cong, có nụ cười, có điệu bộ duyên dáng, có eo thon, các nàng sẽ thường xuyên vây quanh người này; điều này là quả báu của chiếc ghế bằng châu báu.
BJT 4105Vào một ngàn tám trăm kiếp, bậc Hữu Nhãn tên là Gotama sau khi hủy diệt điều tăm tối ấy và sẽ trở thành đức Phật ở thế gian.
BJT 4106(Người này) sẽ đi đến chiêm ngưỡng vị (Phật) ấy, sẽ xuất gia, không còn sở hữu gì, sẽ làm hài lòng bậc Đạo Sư, và sẽ vô cùng thỏa thích trong Giáo Pháp.
BJT 4107Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, (người này) sẽ tiêu diệt các phiền não. Sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, (người này) sẽ Niết Bàn không còn lậu hoặc.”
BJT 4108Tôi có sự tinh tấn, có khả năng thực hành các phận sự là điều kiện đưa đến sự an ổn khỏi các điều ràng buộc. Trong khi ước nguyện mục đích tối thượng, tôi sống ở trong Giáo Pháp.
BJT 4109Đây là lần sau cùng của tôi, là kiếp sống cuối cùng trong sự luân chuyển. (Tôi) đã được đoạn tận tất cả các lậu hoặc, giờ đây không còn tái sanh nữa.
BJT 4110Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 4111Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 4112Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Hemaka đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Hemaka là phần thứ bảy.
(Tụng phẩm thứ mười bảy).
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Siddhaṃ tassa tapo kammaṃ, siddhipatto sake bale;
Sakasāmaññavikkanto, ātāpī nipako muni.
His ascetic practice was accomplished; he had attained success through his own power. Valiant in his own asceticism, the sage was ardent and prudent.
Việc thực hành khổ hạnh của vị ấy đã được thành tựu, vị ấy đã đạt được sự thành công về năng lực của riêng mình; vị ấy là người dũng mãnh trong đời sống sa-môn của mình, là bậc ẩn sĩ nhiệt tâm và thận trọng.
185.
185.
185.
‘‘Visārado sasamaye, paravāde ca kovido;
Paṭṭho bhūmantalikkhamhi, uppātamhi ca kovido.
Confident in his own doctrine and skilled in the doctrines of others, he was renowned in matters of the earth and sky, and skilled in portents.
Vị ấy tự tin trong học thuyết của mình, và thông thạo các học thuyết của người khác; vị ấy nổi danh ở trên mặt đất và ở trong không trung, và thông thạo về các điềm báo.
186.
186.
186.
‘‘Vītasoko nirārambho, appāhāro alolupo;
Lābhālābhena santuṭṭho, jhāyī jhānarato muni.
Free from sorrow, steadfast in effort, eating little, not covetous, the sage was content with gain and loss, a meditator who delighted in jhāna.
Vị ấy không còn sầu muộn, kiên trì nỗ lực, ăn uống ít, không tham lam; vị ấy hài lòng với sự được và không được, là bậc ẩn sĩ hành thiền, ưa thích trong thiền định.
187.
187.
187.
‘‘Piyadassī nāma sambuddho, aggo kāruṇiko muni;
Satte tāretukāmo so, karuṇāya pharī tadā.
The Perfectly Enlightened One named Piyadassī, the supreme, compassionate sage, desiring to help beings cross over, at that time pervaded them with compassion.
Bậc Chánh Đẳng Giác tên là Piyadassī, bậc ẩn sĩ tối thượng và bi mẫn; vị ấy mong muốn cứu vớt các chúng sanh, đã lan tỏa lòng bi mẫn vào lúc bấy giờ.
188.
188.
188.
‘‘Bodhaneyyaṃ janaṃ disvā, piyadassī mahāmuni;
Cakkavāḷasahassampi, gantvā ovadate muni.
Seeing people who were ready for enlightenment, the great sage Piyadassī, going even to a thousand world-systems, would instruct them.
Sau khi đã nhìn thấy chúng sanh có thể được giác ngộ, đức Piyadassī, vị Đại Ẩn Sĩ; bậc ẩn sĩ, sau khi đã đi đến cả ngàn thế giới, đã ban lời giáo huấn.
189.
189.
189.
‘‘Mamuddharitukāmo so, mamassamamupāgami;
Na diṭṭho me jino pubbe, na sutopi ca kassaci.
Desiring to uplift me, he approached my hermitage. I had never seen a Conqueror before, nor had I heard from anyone.
Vị ấy mong muốn nâng đỡ ta, đã đi đến am thất của ta. Bậc Chiến Thắng đã không được ta nhìn thấy trước đây, và lời nói của bất cứ ai cũng chưa từng được nghe đến.
190.
190.
190.
‘‘Uppātā supinā mayhaṃ, lakkhaṇā suppakāsitā;
Paṭṭho bhūmantalikkhamhi, nakkhattapadakovido.
Portents, dreams, and signs were very clear to me; I was renowned in matters of the earth and sky, and skilled in the paths of the stars.
“Các điềm báo, các giấc mộng, các tướng hảo của tôi được giải thích rõ ràng. Tôi nổi danh về (kiến thức) mặt đất và bầu trời, là người tinh thông về các vì sao.”
191.
191.
191.
‘‘Sohaṃ buddhassa sutvāna, tattha cittaṃ pasādayiṃ;
Tiṭṭhanto † vā nisinno vā, sarāmi niccakālikaṃ.
Having heard from the Buddha, I placed my confidence in him. Whether standing or sitting, I remembered him constantly.
“Tôi ấy, sau khi nghe (giáo pháp) của đức Phật, đã làm cho tâm được tịnh tín nơi Ngài. Dù đứng hay ngồi, tôi luôn luôn tưởng nhớ đến Ngài.”
192.
192.
192.
‘‘Mayi evaṃ sarantamhi, bhagavāpi anussari;
Buddhaṃ anussarantassa, pīti me hoti tāvade.
While I was thus remembering, the Blessed One also recollected me. As I was recollecting the Buddha, joy arose in me at that very moment.
“Khi tôi đang tưởng nhớ như vậy, đức Thế Tôn cũng tưởng nhớ đến tôi. Đối với tôi, người đang tưởng nhớ đến đức Phật, hỷ lạc liền phát sanh ngay lúc ấy.”
193.
193.
193.
‘‘Kālañca punarāgamma, upesi maṃ mahāmuni;
Sampattepi na jānāmi, ayaṃ buddho mahāmuni.
And again, when the time was right, the great sage approached me. Even when he had arrived, I did not recognize that this great sage was the Buddha.
“Và rồi, bậc Đại Mâu-ni lại đến gặp tôi vào thời điểm thích hợp. Dù Ngài đã đến, tôi vẫn không nhận ra rằng: ‘Vị này là đức Phật, bậc Đại Mâu-ni’.”
194.
194.
194.
‘‘Anukampako kāruṇiko, piyadassī mahāmuni;
Sañjānāpesi attānaṃ, ‘ahaṃ buddho sadevake’.
The compassionate and merciful great sage, Piyadassī, made himself known: ‘I am the Buddha in the world with its gods.’
“Bậc Đại Mâu-ni Piyadassī, đấng từ mẫn và bi mẫn, đã khiến tôi nhận ra Ngài, (phán rằng): ‘Ta là đức Phật trong thế giới cùng với chư Thiên’.”
195.
195.
195.
‘‘Sañjānitvāna sambuddhaṃ, piyadassiṃ mahāmuniṃ;
Sakaṃ cittaṃ pasādetvā, idaṃ vacanamabraviṃ.
Having recognized the Perfectly Enlightened One, the great sage Piyadassī, and having filled my own mind with confidence, I spoke this word:
“Sau khi nhận ra đức Chánh Đẳng Giác, bậc Đại Mâu-ni Piyadassī, tôi đã làm cho tâm mình tịnh tín và thốt lên lời này.”
196.
196.
196.
‘‘‘Aññe † pīṭhe ca pallaṅke, āsandīsu nisīdare;
Tuvampi sabbadassāvī, nisīda ratanāsane’.
‘Others may sit on stools, couches, and chairs; but you, the All-Seeing One, please be seated on this jeweled seat.’
“‘Những người khác ngồi trên ghế đẩu, trên giường dài, và trên các ghế bành. Xin Ngài, bậc Toàn Kiến, cũng hãy ngự trên bảo tọa bằng châu báu này’.”
197.
197.
197.
‘‘Sabbaratanamayaṃ pīṭhaṃ, nimminitvāna tāvade;
Piyadassissa munino, adāsiṃ iddhinimmitaṃ.
Having created at that moment a seat made of all kinds of jewels, I gave that psychically created seat to the sage Piyadassī.
“Ngay lúc ấy, sau khi hóa hiện một chiếc ghế báu làm bằng đủ loại châu báu, tôi đã dâng cúng vật hóa hiện bằng thần thông ấy lên bậc Mâu-ni Piyadassī.”
198.
198.
198.
‘‘Ratane ca nisinnassa, pīṭhake iddhinimmite;
Kumbhamattaṃ jambuphalaṃ, adāsiṃ tāvade ahaṃ.
To him, seated on the jeweled seat created by psychic power, I at that moment gave a rose-apple fruit the size of a pot.
“Và trong khi Ngài đang ngự trên chiếc ghế báu do thần thông hóa hiện, ngay lúc ấy tôi đã dâng cúng một quả táo hồng lớn bằng cái bình.”
199.
199.
199.
‘‘Mama hāsaṃ janetvāna, paribhuñji mahāmuni;
Tadā cittaṃ pasādetvā, satthāraṃ abhivādayiṃ.
Causing joy to arise in me, the great sage partook of it. Then, filling my mind with confidence, I paid homage to the Teacher.
“Bậc Đại Mâu-ni đã làm cho tôi hoan hỷ và thọ dụng (quả ấy). Bấy giờ, tôi làm cho tâm được tịnh tín và đảnh lễ bậc Đạo Sư.”
200.
200.
200.
‘‘Piyadassī tu bhagavā, lokajeṭṭho narāsabho;
Ratanāsanamāsīno, imā gāthā abhāsatha.
The Blessed One Piyadassī, chief of the world, a bull among men, seated on the jeweled seat, spoke these verses:
“Bấy giờ, đức Thế Tôn Piyadassī, bậc Tối Thắng trong thế gian, bậc Ngưu Vương trong loài người, đang ngự trên bảo tọa, đã nói lên những câu kệ này.”
201.
201.
201.
‘‘‘Yo me ratanamayaṃ pīṭhaṃ, amatañca phalaṃ adā;
Tamahaṃ kittayissāmi, suṇātha mama bhāsato.
‘He who gave me a jeweled seat and an ambrosial fruit, I shall praise him. Listen to me as I speak.’
“‘Người nào đã dâng cho ta chiếc ghế báu và quả cây bất tử, ta sẽ tán dương người ấy. Hãy lắng nghe lời ta nói đây.”
202.
202.
202.
‘‘‘Sattasattati kappāni, devaloke ramissati;
Pañcasattatikkhattuñca, cakkavattī bhavissati.
‘For seventy-seven aeons, he will delight in the world of the gods. And seventy-five times, he will be a wheel-turning monarch.’
“‘Trong bảy mươi bảy kiếp, vị ấy sẽ hưởng lạc ở cõi trời. Và bảy mươi lăm lần, vị ấy sẽ trở thành vua Chuyển Luân.”
203.
203.
203.
‘‘‘Dvattiṃsakkhattuṃ devindo, devarajjaṃ karissati;
Padesarajjaṃ vipulaṃ, gaṇanāto asaṅkhiyaṃ.
‘Thirty-two times, as lord of the gods, he will exercise sovereignty in the realm of the gods. His vast regional kingship will be beyond calculation.’
“‘Ba mươi hai lần làm vua cõi trời, vị ấy sẽ cai trị vương quốc của chư thiên. Còn vương quyền rộng lớn ở các địa phương thì không thể đếm xiết.”
204.
204.
204.
‘‘‘Soṇṇamayaṃ rūpimayaṃ, pallaṅkaṃ sukataṃ bahuṃ;
Lohitaṅgamayañceva, lacchati ratanāmayaṃ.
‘He will obtain many well-made couches: of gold, of silver, of ruby, and of various jewels.’
“‘Vị ấy sẽ nhận được nhiều giường dài được làm tinh xảo bằng vàng, bằng bạc, và cả bằng hồng ngọc, bằng châu báu.”
205.
205.
205.
‘‘‘Caṅkamantampi manujaṃ, puññakammasamaṅginaṃ;
Pallaṅkāni anekāni, parivāressare tadā.
‘Even while that person endowed with meritorious kamma is walking, many couches will then surround him.’
“‘Khi con người có phước nghiệp này đang đi kinh hành, ngay cả lúc đó, vô số giường dài cũng sẽ vây quanh vị ấy.”
206.
206.
206.
‘‘‘Kūṭāgārā ca pāsādā, sayanañca mahārahaṃ;
Imassa cittamaññāya, nibbattissanti tāvade.
‘Gabled halls and palaces, and magnificent couches, knowing his thought, will arise at that very moment.’
“‘Các lầu gác, các cung điện, và giường nằm sang trọng, do biết được tâm của vị này, sẽ hiện ra ngay lập tức.”
207.
207.
207.
‘‘‘Saṭṭhi nāgasahassāni, sabbālaṅkārabhūsitā;
Suvaṇṇakacchā mātaṅgā, hemakappanavāsasā †.
‘Sixty thousand elephants, adorned with all ornaments, elephants with golden girths, covered with golden trappings…’
“‘Sáu mươi ngàn con voi, được trang hoàng với tất cả đồ trang sức, những con voi có đai bụng bằng vàng, với yên và vải phủ bằng vàng.”
208.
208.
208.
‘‘‘Ārūḷhā gāmaṇīyehi, tomaraṅkusapāṇibhi;
Imaṃ paricarissanti, ratnapīṭhassidaṃ phalaṃ.
‘…mounted by riders with spears and goads in hand, will attend upon this person. This is the fruit of the jeweled seat.’
“‘(Những con voi ấy) được các quản tượng cỡi, tay cầm lao và móc sắt, sẽ hầu hạ vị này. Đây là quả báu của việc cúng dường ghế báu.”
209.
209.
209.
‘‘‘Saṭṭhi assasahassāni, sabbālaṅkārabhūsitā;
Ājānīyāva jātiyā, sindhavā sīghavāhino.
‘Sixty thousand horses, adorned with all ornaments, thoroughbreds by birth, of the Sindhu breed, swift runners…’
“‘Sáu mươi ngàn con ngựa, được trang hoàng với tất cả đồ trang sức, là giống ngựa thuần chủng, thuộc dòng dõi Sindh, chạy nhanh như gió.”
210.
210.
210.
‘‘‘Ārūḷhā gāmaṇīyehi, illiyācāpadhāribhi;
Tepimaṃ paricarissanti, ratnapīṭhassidaṃ phalaṃ.
Mounted by riders bearing short swords and bows, they will attend upon this person; this is the fruit of the jeweled seat.
“‘Được cưỡi bởi các thủ lĩnh mang theo đoản đao và cung, chúng sẽ hộ tống vị này; đây là quả báu của việc cúng dường ghế bằng ngọc.”
211.
211.
211.
‘‘‘Saṭṭhi rathasahassāni, sabbālaṅkārabhūsitā;
Dīpā athopi veyagghā, sannaddhā ussitaddhajā.
‘Sixty thousand chariots, adorned with all ornaments, draped with leopard and tiger skins, fully equipped, with banners raised…’
“‘Sáu mươi ngàn cỗ xe, được trang hoàng với tất cả đồ trang sức, được bọc bằng da báo và da cọp, được trang bị đầy đủ, cờ xí dựng cao.”
212.
212.
212.
‘‘‘Ārūḷhā gāmaṇīyehi, cāpahatthehi vammibhi;
Parivāressantimaṃ niccaṃ, ratnapīṭhassidaṃ phalaṃ.
Mounted by charioteers with bows in hand and wearing armor, they will constantly surround this person; this is the fruit of the jeweled seat.
“‘Được cưỡi bởi các thủ lĩnh tay cầm cung, mặc áo giáp, họ sẽ luôn vây quanh vị này; đây là quả báu của việc cúng dường ghế bằng ngọc.”
213.
213.
213.
‘‘‘Saṭṭhi dhenusahassāni, dohaññā puṅgavūsabhe;
Vacchake janayissanti, ratnapīṭhassidaṃ phalaṃ.
Sixty thousand milch cows, together with excellent bulls, will bear calves. This is the fruit of the jeweled seat.
“‘Sáu mươi ngàn con bò sữa, cùng với những con bò đực tơ, sẽ sinh ra các con bê. Đây là quả báu của việc cúng dường ghế báu.”
214.
214.
214.
‘‘‘Soḷasitthisahassāni, sabbālaṅkārabhūsitā;
Vicittavatthābharaṇā, āmukkamaṇikuṇḍalā.
Sixteen thousand women, adorned with all ornaments, wearing variegated clothes and jewelry, with jeweled earrings put on.
“‘Mười sáu ngàn người nữ, được trang hoàng với tất cả đồ trang sức, y phục và trang sức lộng lẫy, đeo bông tai bằng ngọc.”
215.
215.
215.
‘‘‘Aḷārapamhā hasulā, susaññā tanumajjhimā;
Parivāressantimaṃ niccaṃ, ratnapīṭhassidaṃ phalaṃ.
With curved eyelashes, smiling, of comely appearance, and with slender waists, they will constantly surround this person; this is the fruit of the jeweled seat.
“‘Những người nữ có lông mi cong, hay tươi cười, có nhận thức tốt và eo thon, sẽ luôn vây quanh vị này; đây là quả báu của việc cúng dường ghế bằng ngọc.”
216.
216.
216.
‘‘‘Aṭṭhārase kappasate, gotamo nāma cakkhumā;
Tamandhakāraṃ vidhamitvā, buddho loke bhavissati.
In eighteen hundred aeons, the one named Gotama, the Possessor of Vision, having dispelled that darkness, will be a Buddha in the world.
“‘Trong một ngàn tám trăm kiếp nữa, bậc Hữu Nhãn tên là Gotama, sau khi xua tan bóng tối dày đặc, sẽ trở thành một vị Phật ở thế gian.”
217.
217.
217.
‘‘‘Tassa dassanamāgamma, pabbajissatikiñcano;
Tosayitvāna satthāraṃ, sāsanebhiramissati.
On account of seeing him, he will go forth without possessions. Having pleased the Teacher, he will delight in the Dispensation.
“‘Nhờ được diện kiến Ngài, vị ấy sẽ xuất gia, trở thành người không còn sở hữu. Sau khi làm bậc Đạo Sư hài lòng, vị ấy sẽ hoan hỷ trong giáo pháp.”
218.
218.
218.
‘‘‘Tassa dhammaṃ suṇitvāna, kilese ghātayissati;
Sabbāsave pariññāya, nibbāyissatināsavo’.
Having heard his Dhamma, he will destroy the defilements. Having fully understood all the taints, he will attain Nibbāna, free from taints.
“‘Sau khi nghe giáo pháp của Ngài, vị ấy sẽ diệt trừ các phiền não. Sau khi liễu tri tất cả các lậu hoặc, vị ấy sẽ đạt đến Niết-bàn, trở thành bậc Vô Lậu’.”
219.
219.
219.
‘‘Vīriyaṃ me dhuradhorayhaṃ, yogakkhemādhivāhanaṃ;
Uttamatthaṃ patthayanto, sāsane viharāmahaṃ.
My energy is a beast of burden, a vehicle that conveys to security from bondage. Aspiring to the highest goal, I dwell in the Dispensation.
“Tinh tấn của tôi như con vật thồ hàng, là cỗ xe đưa đến sự an ổn thoát khỏi các ách phược. Mong cầu mục đích tối thượng, tôi sống trong giáo pháp này.”
220.
220.
220.
‘‘Idaṃ pacchimakaṃ mayhaṃ, carimo vattate bhavo;
Sabbāsavā parikkhīṇā, natthi dāni punabbhavo.
This is my final existence; this is the last life that is occurring. All the taints are utterly destroyed; now there is no renewed existence.
Đây là (thân) cuối cùng của tôi, đây là kiếp sống chót; tất cả các lậu hoặc đã được đoạn tận, nay không còn tái sanh nữa.
221.
221.
221.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
My defilements are burnt… I dwell without taints.
Các phiền não của tôi đã được đốt cháy ... (vân vân) ... tôi sống không còn lậu hoặc.
222.
222.
222.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Indeed, my coming was a good one… the Buddha's Dispensation has been fulfilled.
Sự đến của tôi quả là khéo đến ... (vân vân) ... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
223.
223.
223.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā hemako thero imā gāthāyo abhāsitthāti;
The four analytical knowledges… the Buddha's Dispensation has been fulfilled.’ Thus indeed the venerable elder Hemaka spoke these verses.
Bốn Tuệ Phân Tích ... (vân vân) ... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành. Được biết, trưởng lão Hemaka khả kính đã nói lên những câu kệ này như thế ấy.
Hemakattherassāpadānaṃ sattamaṃ.
The Seventh Apadāna of the Elder Hemaka.
Thiên sự của trưởng lão Hemaka, chương thứ bảy.
Sattarasamaṃ bhāṇavāraṃ.
The Seventeenth Recitation Section.
Phẩm Tụng thứ mười bảy.