Bản dịch
THA -ap407 — Ký Sự về Trưởng Lão Upasiva
5 Upasivattheraapadāna
BJT 3990Ở không xa núi Hi-mã-lạp, có ngọn núi tên là Anoma, có khu ẩn cư của tôi đã khéo được xây dựng, có gian nhà rộng bằng lá đã khéo được tạo lập.
BJT 3991Và con sông chảy qua nơi ấy có bến nước cạn xinh xắn làm thích ý. Và dọc theo bến nước cạn ấy, có nhiều sen hồng sen xanh mọc lên.
BJT 3992Có các loài cá như là cá pāṭhīna, cá pāvusa, cá valaja, cá muñja, và cá rohita. Con sông nhỏ, chứa đầy dẫy những cá và rùa, luôn luôn trôi chảy.
BJT 3993Ở nơi ấy, các loài hoa timira, hoa asoka, hoa khuddamālaka, hoa nguyệt quế, hoa nguyệt quế núi đã được nở rộ tỏa hương đến khu ẩn cư của tôi.
BJT 3994Ở nơi ấy, loài hoa kūṭajavà các rừng hoa nhài được nở rộ. Ở nơi ấy, có nhiều cây sālā, cây salala, và cây campakađược nở rộ.
BJT 3995Các loài cây ajjuna, cây atimutta, và cây mahānāmađược nở rộ, và loài cây asanacó hương thơm ngọt ngào, chúng nở rộ hoa ở khu ẩn cư của tôi.
BJT 3996Các loại cây uddālaka, cây pāṭalika, cây yūthika, cây piyaṅguka, và cây bimbijālakabao phủ ở xung quanh nửa do-tuần.
BJT 3997Ở nơi ấy, có nhiều loại cây mātaṅgava, cây sattali, cây pāṭalī, cây sinduvāraka, cây aṅkolaka,và cây tālakūṭađược nở rộ hoa.
BJT 3998Ở nơi ấy, có nhiều cây cánh kiến trắng nở rộ hoa ở khu ẩn cư của tôi. Trong khi những cây này đang nở rộ hoa, nhiều cây trở nên rực rỡ. Khu ẩn cư của tôi tỏa ra với hương thơm ấy ở xung quanh.
BJT 3999Và có những loại trái cây ngọt như trái harītaka, trái āmalaka, trái xoài, trái mận đỏ, trái vibhīṭaka, trái táo, trái bhallātaka, và trái billa.
BJT 4000Và ở nơi ấy có những loại trái cây như trái tinduka, trái piyāla, trái cam thảo, trái kāsumārī, trái mít, trái sa-kê, trái chuối, trái badarī.
BJT 4001Ở nơi ấy, có nhiều trái cây ambāṭakavà trái cây vallikāra. Các cây bījapūravà cây sapāriyađược kết trái ở khu ẩn cư của tôi.
BJT 4002Từ nơi ấy có nhiều trái cây như trái āḷaka, trái isimugga, và trái modabao phủ, đã chín tới và trĩu nặng. Và có các trái cây như trái vả và trái sung.
BJT 4003Ở nơi ấy, có nhiều trái ớt, trái tiêu, trái đa, trái táo rừng, trái sung, và trái pāriyađã chín một phần.
BJT 4004Và có nhiều loại cây này và loại cây khác đã kết trái ở khu ẩn cư của tôi. Cũng có nhiều cây có bông hoa đã đơm hoa ở khu ẩn cư của tôi.
BJT 4005Các loài thảo mộc như là āluva, kaḷamba, bilālī, takkala, ālaka, luôn cả tālakađều được tìm thấy ở khu ẩn cư của tôi.
BJT 4006Ở không xa khu ẩn cư của tôi (đã) có hồ nước thiên nhiên rộng lớn, có nước trong, có nước mát, có bến nước cạn xinh xắn, làm thích ý.
BJT 4007Ở nơi ấy, có nhiều sen hồng, sen xanh, kết hợp với sen trắng, được che phủ bởi những cây mạn-đà-la, tỏa ra với nhiều hương thơm khác loại.
BJT 4008Có những đóa sen hồng đang tượng hình, các đóa hoa khác nở hoa có tua nhụy, có nhiều đóa có các cánh hoa rũ xuống trở thành những gương sen.
BJT 4009Có mật tiết ra từ củ sen, có sữa và bơ lỏng từ các rễ và ngó sen, chúng tỏa ra nhiều hương thơm khác loại (hòa quyện) với hương thơm ấy ở xung quanh.
BJT 4010Có nhiều bông súng trắng và mùi thơm của xoài thoảng qua được nhận biết. Ở kế bờ hồ nước thiên nhiên, có nhiều cây dừa dại được đơm bông.
BJT 4011Có các cây bandhujīvakhéo nở rộ hoa và các cây setavārīcó hương thơm ngát. Có các con cá sấu loại kumbhīla, loại suṁsumāra, và loại gahaka được sanh ra ở tại nơi ấy.
BJT 4012Có nhiều mãng xà là loài thú kiếm mồi trong hồ nước thiên nhiên ở tại nơi ấy. Và có các loài cá pāṭhīna, cá pāvusa, cá valaja, cá muñja, và cá rohita.
BJT 4013Có đầy dẫy các loài cá, các con rùa, và các con rái cá nữa. Và có các con chim bồ câu, các con ngỗng trời, các con gà rừng, và các loài sống ở sông.
BJT 4014Có nhiều chim le le, ngỗng đỏ, chim campaka, chim jīvajīvaka, chim kalandaka, chim ưng, chim diều hâu, và chim uddhara.
BJT 4015Có nhiều chim koṭṭhaka, chim sukapota, loài cua, loài bò rừng, loài thú kāreṇī, và loài thú tilakasống nương nhờ hồ nước ấy.
BJT 4016Các con sư tử, cọp, báo, gấu, chó sói, linh cẩu, các loài khỉ, và luôn cả loài kim-sỉ-điểu được nhìn thấy ở khu ẩn cư của tôi.
BJT 4017Trong khi ngửi các hương thơm ấy, trong khi ăn các thứ trái cây (ấy), và trong khi uống nước có hương thơm (ấy), tôi sống ở khu ẩn cư của tôi.
BJT 4018Có các con sơn dương, nai, heo rừng, hươu, các loài có dáng vóc nhỏ bé, và luôn cả các con đom đóm có ánh sáng sống ở khu ẩn cư của tôi.
BJT 4019Ở nơi ấy có nhiều chim thiên nga, chim cò, chim công, chim sáo, chim cu, chim mañjarikā, chim cú mèo, và chim gõ kiến.
BJT 4020Có nhiều loài yêu tinh, loài người khổng lồ, và luôn cả loài quỉ sứ, loài quỷ dữ, loài nhân điểu, và luôn cả các loài bò sát sống ở khu ẩn cư của tôi.
BJT 4021Có nhiều vị ẩn sĩ có đại oai lực, có tâm thanh tịnh, được định tĩnh, tất cả đều mang bầu nước, có y choàng là tấm da dê, các vị mang búi tóc rối ấy sống ở khu ẩn cư của tôi.
BJT 4022Và (các vị ấy) nhìn với khoảng cách của cán cày, cẩn trọng, có hành vi thanh tịnh, hài lòng với việc có hay không có, sống ở khu ẩn cư của tôi.
BJT 4023Được hỗ trợ bởi các năng lực của bản thân, các vị ấy luôn luôn di chuyển ở không trung (vừa đi) vừa phất phơ bộ y phục vỏ cây vừa kềm giữ tấm y da dê.
BJT 4024Các vị ấy không mang theo nước, củi gỗ, hoặc củi nhóm lửa, và các vị ấy đã tự thân đạt được (các thứ ấy), điều này là quả báu của phép kỳ diệu.
BJT 4025Sau khi nhận lấy cái máng bằng kim loại, các vị ấy sống ở giữa rừng ví như những con voi dòng long tượng, tợ như con sư tử không bị hãi sợ.
BJT 4026Một số vị đi đến Tây Ngưu Hóa Châu, một số vị khác đi đến Đông Thắng Thần Châu, và một số vị khác đi đến Bắc Câu Lưu Châu tùy theo năng lực của tự thân. Sau khi mang lại vật thực từ các nơi ấy, các vị thọ thực chung.
BJT 4027Khi ấy, trong lúc tất cả các vị có oai lực nổi bật như thế ấy đang ra đi, khu rừng được rộn ràng bởi âm thanh bộ y bằng da dê của (các vị).
BJT 4028“Bạch đấng Đại Hiền Trí, các vị như thế ấy là những người học trò có sự khổ hạnh nổi bậc của con. Được tùy tùng bởi các vị ấy, con sống ở khu ẩn cư của con.
BJT 4029Được hoan hỷ với việc làm của bản thân, các vị này đã cùng nhau tụ hội, và cũng đã được huấn luyện. Là những người có sự mong mỏi về việc làm của bản thân, có giới hạnh, cẩn trọng, rành rẽ về các pháp vô lượng tâm, họ đã làm con hài lòng.”
BJT 4030Đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, bậc Hướng Đạo sau khi nhận biết thời điểm đã đi đến.
BJT 4031Sau khi đi đến, đấng Toàn Giác, bậc Hiền Trí, vị có sự nhiệt tâm, cẩn trọng, đã ôm lấy bình bát, rồi đấng Toàn Giác đã đến gần tôi để khất thực.
BJT 4032Khi đấng Đại Hùng, bậc Lãnh Đạo Padumuttara đã đi đến, tôi đã sắp xếp tấm thảm cỏ và đã rải rắc bằng các bông hoa sālā.
BJT 4033Tôi đã thỉnh đấng Toàn Giác ngồi xuống. Trở nên mừng rỡ, với tâm ý đã được kích động, tôi đã mau chóng leo lên ngọn núi và đã thâu nhặt gỗ trầm hương.
BJT 4034Sau khi hái trái mít có kích thước bằng bầu nước, có hương thơm cõi trời, tôi đã đặt ở trên vai rồi đã đi đến gần đấng Hướng Đạo.
BJT 4035Sau khi đã dâng trái cây đến đức Phật, tôi đã thoa trầm hương. Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã đảnh lễ đức Phật tối thượng.
BJT 4036Đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, đã ngồi xuống ở giữa những vị ẩn sĩ và đã nói những lời kệ này:
BJT 4037“Người nào đã dâng cúng trái cây, trầm hương, và chỗ ngồi đến Ta, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hãy lắng nghe Ta nói.
BJT 4038Cho dầu ở làng hoặc ở rừng, ở các sườn núi hoặc ở các hang động, vật thực sẽ hiện ra đúng theo tâm (ước muốn) của người này.
BJT 4039Được sanh lên ở thế giới chư Thiên hoặc ở loài người, người nam này sẽ làm toại ý nhóm tùy tùng với các thức ăn và với các loại vải vóc.
BJT 4040Chốn nào được sanh lên là bản thể Thiên nhân hay loài người, sau khi có được của cải không bị suy suyển, người nam này sẽ luân hồi.
BJT 4041Người này sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên trong ba mươi ngàn kiếp, và sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương một ngàn lần.
BJT 4042Và người này sẽ cai quản Thiên quốc bảy mươi mốt lần. Lãnh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.
BJT 4043Vào một trăm ngàn kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 4044Là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, (người này) sẽ biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc và sẽ sống không còn lậu hoặc.”
BJT 4045Điều lợi ích được thành tựu một cách tốt đẹp đã được thành tựu đến tôi, là việc tôi đã được nhìn thấy đấng Lãnh Đạo, tôi đã thành tựu tam minh, tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
BJT 4046Cho dầu ở làng hoặc ở rừng, ở các sườn núi hoặc ở các hang động, sau khi biết được tâm của tôi vật thực luôn luôn hiện đến cho tôi.
BJT 4047Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 4048Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 4049Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Upasiva đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Upasiva là phần thứ năm.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Timirā pupphitā tattha, asokā khuddamālakā;
Punnāgā giripunnāgā, sampavanti mamassamaṃ.
Timira trees are in bloom there, as are Asoka trees and small flowering plants; Punnāga and Giripunnāga trees make my hermitage fragrant.
“Ở nơi ấy, các cây timira, asoka, khuddamālaka, punnāga, và giripunnāga đang trổ hoa, tỏa hương thơm ngát đến am thất của tôi.”
104.
104.
104.
‘‘Kuṭajā pupphitā tattha, tiṇasūlavanāni ca;
Sālā ca saḷalā tattha, campakā pupphitā bahū.
Kuṭaja trees are in bloom there, and groves of Tiṇasūla; Sāla and Saḷala trees are there, and many Campaka trees are in bloom.
“Ở nơi ấy, các cây kuṭaja đang trổ hoa, và các khu rừng tiṇasūla cũng vậy. Ở nơi ấy, các cây sāla, saḷala, và nhiều cây campaka đang trổ hoa.”
105.
105.
105.
‘‘Ajjunā atimuttā ca, mahānāmā ca pupphitā;
Asanā madhugandhī ca, pupphitā te mamassame.
Ajjuna, Atimuttaka, and Mahānāma trees are in bloom; Asana trees and those with honey-like fragrance—these are in bloom in my hermitage.
“Các cây ajjuna, atimutta, và mahānāma đang trổ hoa. Các cây asana và madhugandhī, những cây ấy đang trổ hoa ở tại am thất của tôi.”
106.
106.
106.
‘‘Uddālakā pāṭalikā, yūthikā ca piyaṅgukā;
Bimbijālakasañchannā, samantā aḍḍhayojanaṃ.
There are Uddālaka, Pāṭalikā, Yūthikā, and Piyaṅgukā trees; covered with Bimbijāla flowers, they extend for half a yojana all around.
Các loại cây ngô thù du, cây gòn gai, cây lài trâu, và cây lăng tiêu; được bao phủ bởi những giàn hoa bimbijāla, trong phạm vi nửa do-tuần khắp bốn phía.
107.
107.
107.
‘‘Mātaggārā † sattaliyo, pāṭalī sinduvārakā;
Aṅkolakā bahū tattha, tālakuṭṭhi † ca pupphitā;
Seleyyakā bahū tattha, pupphitā mama assame.
Mātaggara, Sattali, Pāṭalī, and Sinduvārakā trees are there; many Aṅkolaka and Tālakuṭṭhi trees are in bloom; many Seleyyaka plants are also in bloom there in my hermitage.
Các loại cây mātaggara, cây thất diệp, cây gòn gai, cây ô rô nước; ở nơi ấy có nhiều cây ankolaka, và cây gạo cũng đang trổ hoa. Ở nơi ấy, tại am thất của ta, nhiều loài địa y cũng đang trổ hoa.
108.
108.
108.
‘‘Etesu pupphajātesu †, sobhanti pādapā bahū;
Samantā tena gandhena, vāyate mama assamo.
Among these flowering species, many trees are resplendent; all around, my hermitage is fragrant with that scent.
Khi những cây này trổ hoa, nhiều cây cối trở nên lộng lẫy. Với hương thơm ấy, am thất của ta tỏa ngát khắp bốn phía.
109.
109.
109.
‘‘Harītakā āmalakā, ambajambuvibhītakā †;
Kolā bhallātakā billā, phārusakaphalāni ca.
There are Harīṭaka, Āmalaka, mango, rose-apple, and Vibhīṭaka trees; Kola, Bhallātaka, and Billa fruits, and Phārusaka fruits as well.
Các loại cây kha tử, cây me rừng, cây xoài, cây trâm, cây bàng; cây táo ta, cây sơn, cây mộc qua, và các loại quả phārusaka.
110.
110.
110.
‘‘Tindukā ca piyālā ca, madhukā kāsumārayo;
Labujā panasā tattha, kadalī badarīphalā †.
Tinduka, Piyāla, Madhuka, and Kāsumāraya trees are there; Labuja and Panasa trees, Kadalī and Badarī fruits.
Cây thị và cây bồ quân, cây vú bò, cây kāsumāraya; ở nơi ấy có cây mít rừng, cây mít, cây chuối, và quả táo.
111.
111.
111.
‘‘Ambāṭakā bahū tattha, vallikāraphalāni ca;
Bījapūrasapāriyo †, phalitā mama assame.
Many Ambāṭaka trees are there, and fruits from vines; citron and other such trees bear fruit in my hermitage.
Ở nơi ấy có nhiều cây cóc, và các loại quả dưa; cây thanh yên và cây chanh sai quả tại am thất của ta.
112.
112.
112.
‘‘Āḷakā isimuggā ca, tato modaphalā bahū;
Avaṭā pakkabharitā †, pilakkhudumbarāni ca.
There are Āḷaka and Isimugga plants, and then many Modaphalā fruits; Avaṭa trees filled with ripe fruit, and Pilakkhu and Udumbara trees.
Các loại đậu rồng và đậu ẩn sĩ, rồi nhiều quả modaphala; các cây avaṭa trĩu quả chín, và các cây sung pilakkhu và udumbara.
113.
113.
113.
‘‘Pipphilī marīcā tattha, nigrodhā ca kapitthanā;
Udumbarakā bahavo, kaṇḍupaṇṇā ca hariyo †.
Pippalī and Marica plants are there, Nigrodha and Kapitthana trees; many Udumbara trees, and many green Kaṇḍupaṇṇa plants.
Ở nơi ấy có cây tiêu lốt, cây tiêu, cây đa và cây thị; nhiều cây sung, và các cây kaṇḍupaṇṇa xanh tươi.
114.
114.
114.
‘‘Ete caññe ca bahavo, phalitā assame mama;
Puppharukkhāpi bahavo, pupphitā mama assame.
These and many other trees bear fruit in my hermitage; many flowering trees, too, are in bloom in my hermitage.
Những cây này và nhiều cây khác đang sai quả tại am thất của ta; nhiều cây hoa cũng đang trổ hoa tại am thất của ta.
115.
115.
115.
‘‘Āluvā ca kaḷambā ca, biḷālī takkalāni ca;
Ālakā tālakā ceva, vijjanti assame mama.
Āluva and Kaḷamba yams, Biḷālī and Takkalā roots, Ālaka plants and Tālaka palms are found in my hermitage.
Các loại khoai sọ và rau muống, khoai môn và cây takkala; củ āḷaka và cây thốt nốt, hiện hữu tại am thất của ta.
116.
116.
116.
‘‘Assamassāvidūre me, mahājātassaro ahu;
Acchodako sītajalo, supatittho manoramo.
Not far from my hermitage there was a great natural lake; with clear, cool water, it was delightful, with excellent bathing places.
Không xa am thất của ta, có một hồ lớn tên Jātassara; nước trong vắt, mát lạnh, có bến nước tốt, và làm vui lòng.
117.
117.
117.
‘‘Padumuppalā bahū tattha, puṇḍarīkasamāyutā;
Mandālakehi sañchannā, nānāgandhasameritā.
Many lotuses and water lilies were there, along with white lotuses; it was covered with Mandālaka flowers, wafting various fragrances.
Ở nơi ấy có nhiều hoa sen hồng và sen xanh, cùng với hoa sen trắng; được bao phủ bởi những cây mandālaka, tỏa ra nhiều hương thơm khác nhau.
118.
118.
118.
‘‘Gabbhaṃ gaṇhanti padumā, aññe pupphanti kesarī;
Opupphapattā tiṭṭhanti, padumākaṇṇikā bahū.
Some lotuses are forming buds, others bloom showing their stamens; some stand with petals fallen away, and many stand as mere pericaps.
Những đóa sen hồng đang còn là nụ, những đóa khác nở bung nhị; những đóa khác đứng đó với cánh đã rụng, nhiều đóa sen chỉ còn lại đài sen.
119.
119.
119.
‘‘Madhu bhisamhā savati, khīraṃ sappi mulāḷibhi;
Samantā tena gandhena, nānāgandhasameritā.
Honey flows from the lotus stalks, milk and ghee from the lotus roots; all around, wafted by that scent, are various fragrances.
Mật ngọt chảy ra từ ngó sen, sữa và bơ lỏng từ củ sen; khắp bốn phía tỏa ra hương thơm ấy, cùng nhiều hương thơm khác nhau.
120.
120.
120.
‘‘Kumudā ambagandhi ca, nayitā dissare bahū;
Jātassarassānukūlaṃ, ketakā pupphitā bahū.
Many Kumuda lotuses and flowers with the scent of mango are seen; along the bank of the Jātassara lake, many Ketaka trees are in bloom.
Nhiều hoa súng và những cây hoa hương xoài được nhìn thấy; dọc theo bờ hồ Jātassara, nhiều cây dứa dại đang trổ hoa.
121.
121.
121.
‘‘Suphullā bandhujīvā ca, setavārī sugandhikā;
Kumbhilā susumārā ca, gahakā tattha jāyare.
Bandhujīva flowers are in full bloom, and the Setavārī plants are fragrant; seizing crocodiles and alligators are born there.
Cây bông trang nở rộ, và rong rêu tỏa hương thơm; cá sấu và cá heo sông, những loài bắt mồi, được sinh ra ở nơi ấy.
122.
122.
122.
‘‘Uggāhakā ajagarā, tattha jātassare bahū;
Pāṭhīnā pāvusā macchā, balajā muñjarohitā.
Many seizing pythons are in that Jātassara lake; there are Pāṭhīnā, Pāvusā, Balajā, and Muñjarohitā fish.
Những con trăn bắt mồi, có nhiều trong hồ Jātassara ấy; các loài cá như cá thác lác, cá lăng, cá sặc, cá trôi và cá mè.
123.
123.
123.
‘‘Macchakacchapasañchannā, atho papaṭakāhi † ca;
Pārevatā ravihaṃsā, kukutthā † ca nadīcarā.
It is teeming with fish and turtles, and also with water-moss; doves, geese, cormorants, and other river birds are there.
(Hồ) được bao phủ bởi cá và rùa, và cả thằn lằn bay nữa; chim bồ câu, ngỗng trời, chim bìm bịp, và chim bói cá.
124.
124.
124.
‘‘Dindibhā † cakkavākā ca, pampakā jīvajīvakā;
Kalandakā ukkusā ca, senakā uddharā bahū.
There are Dindibha birds, Cakkavāka ducks, Pampaka birds, and Jīvajīvaka pheasants; Kalandaka squirrels, ospreys, and many swift hawks.
Chim dindibha và vịt trời, chim pampaka, chim đa đa; sóc, chim ó, và nhiều chim ưng vồ mồi.
125.
125.
125.
‘‘Koṭṭhakā sukapotā ca, tuliyā camarā bahū;
Kāreniyo † ca tilakā †, upajīvanti taṃ saraṃ.
Koṭṭhaka birds, young parrots, Tuliyā fish, and many Camarā yaks; Kāreniya birds and Tilaka birds subsist on that lake.
Chim gõ kiến và vẹt con, sóc bay, bò Tây Tạng có nhiều; chim kāreniya và chim tilaka, sống nhờ vào hồ ấy.
126.
126.
126.
‘‘Sīhā byagghā ca dīpī ca, acchakokataracchakā;
Vānarā kinnarā ceva, dissanti mama assame.
Lions, tigers, and leopards, bears, wolves, and hyenas; monkeys and kinnaras as well are seen in my hermitage.
Sư tử, cọp và báo, gấu, sói và linh cẩu; khỉ và cả khẩn-na-la, được nhìn thấy tại am thất của ta.
127.
127.
127.
‘‘Tāni gandhāni ghāyanto, bhakkhayanto phalānahaṃ;
Gandhodakaṃ pivanto ca, vasāmi mama assame.
Inhaling those scents, eating fruits, and drinking scented water, I dwell in my hermitage.
Ngửi những hương thơm ấy, ta ăn những trái cây; và uống nước thơm, ta sống tại am thất của ta.
128.
128.
128.
‘‘Eṇīmigā varāhā ca, pasadā khuddarūpakā;
Aggikā jotikā ceva, vasanti mama assame.
Eṇī deer and boars, and small-formed spotted deer; fire-worshippers and astrologers as well dwell in my hermitage.
Các loài nai và heo rừng, hoẵng có hình dáng nhỏ; những người thờ lửa và các nhà chiêm tinh, sống tại am thất của ta.
129.
129.
129.
‘‘Haṃsā koñcā mayūrā ca, sālikāpi ca kokilā;
Majjārikā † bahū tattha, kosikā poṭṭhasīsakā.
Swans, cranes, and peacocks, myna birds and cuckoos; many cats are there, owls, and woodpeckers.
Ngỗng, sếu và công, chim sáo và chim tu hú; ở nơi ấy có nhiều mèo, cú, và chim gõ kiến.
130.
130.
130.
‘‘Pisācā dānavā ceva, kumbhaṇḍā rakkhasā bahū;
Garuḷā pannagā ceva, vasanti mama assame.
Pisācas and dānavas, kumbhaṇḍas and many rakkhasas; garuḍas and nāgas as well dwell in my hermitage.
Tỳ-xá-xà và đà-nava, cưu-bàn-trà, nhiều la-sát; kim sí điểu và cả loài rồng, sống tại am thất của ta.
131.
131.
131.
‘‘Mahānubhāvā isayo, santacittā samāhitā;
Kamaṇḍaludharā sabbe, ajinuttaravāsanā;
Jaṭābhārabharitāva †, vasanti mama assame.
Sages of great power, with peaceful and concentrated minds, all carrying water pots, wearing upper garments of antelope skin, and bearing the burden of matted hair, dwell in my hermitage.
Các vị ẩn sĩ có đại oai lực, tâm an tịnh, tâm định tĩnh; tất cả đều mang bình nước, mặc da thú làm áo choàng; mang gánh nặng là tóc bện, sống tại am thất của ta.
132.
132.
132.
‘‘Yugamattañca pekkhantā, nipakā santavuttino;
Lābhālābhena santuṭṭhā, vasanti mama assame.
Looking just a yoke's length ahead, prudent, of peaceful conduct; content with gain and loss, they dwell in my hermitage.
Chỉ nhìn một tầm ách, các vị có trí tuệ, có lối sống an tịnh; hài lòng với được và không được, các vị sống tại am thất của ta.
133.
133.
133.
‘‘Vākacīraṃ dhunantā te, phoṭentājinacammakaṃ;
Sabalehi upatthaddhā, gacchanti ambare tadā.
Shaking their bark garments, snapping their deer-skin cloaks, supported by their own powers, they then go through the sky.
Các vị ấy giũ y vỏ cây, đập tấm da thú; được hỗ trợ bởi năng lực của chính mình, khi ấy các vị đi trên hư không.
134.
134.
134.
‘‘Na te dakaṃ āharanti, kaṭṭhaṃ vā aggidārukaṃ;
Sayañca upasampannā, pāṭihīrassidaṃ phalaṃ.
They do not bring water, nor firewood, nor wood for the fire-offering; things are provided for them automatically. This is the fruit of miraculous power.
Các vị ấy không mang nước, hoặc củi, hoặc củi để cúng dường lửa; mọi thứ tự nó được thành tựu, đây là quả của thần thông.
135.
135.
135.
‘‘Lohadoṇiṃ gahetvāna, vanamajjhe vasanti te;
Kuñjarāva mahānāgā, asambhītāva kesarī.
Having taken a metal bowl, they dwell in the middle of the forest, like great tusked elephants, like unfrightened lions.
Cầm lấy bát đồng, các vị ấy sống giữa rừng; như những con voi chúa, như những con sư tử không sợ hãi.
136.
136.
136.
‘‘Aññe gacchanti goyānaṃ, aññe pubbavidehakaṃ †;
Aññe ca uttarakuruṃ, sakaṃ balamavassitā †.
Some go to Goyāna, others to Pubbavideha, and others to Uttarakuru, relying on their own power.
“Các vị khác đi đến châu Goyāna (Tây Ngưu Hóa Châu), các vị khác đi đến châu Pubbavideha (Đông Thắng Thần Châu). Và các vị khác đi đến châu Uttarakuru (Bắc Câu Lư Châu), (tất cả) đều nương tựa vào năng lực của chính mình.”
137.
137.
137.
‘‘Tato piṇḍaṃ āharitvā, paribhuñjanti ekato;
Sabbesaṃ pakkamantānaṃ, uggatejāna tādinaṃ.
Having brought alms-food from there, they all eat together—those who have journeyed forth, those of sharp power, those of such-like nature.
“Sau khi đã mang vật thực khất thực từ nơi ấy về, (các vị ấy) cùng nhau thọ dụng chung. (Đó là việc của) tất cả các vị đã đi xa, những vị có uy lực mạnh mẽ, những bậc như thế.”
138.
138.
138.
‘‘Ajinacammasaddena, vanaṃ saddāyate tadā;
Edisā te mahāvīra, sissā uggatapā mama.
By the sound of the antelope-skin garments, the forest then resounds; of such a kind, O Great Hero, are my disciples of sharp ascetic practice.
“Vào lúc ấy, khu rừng vang dội bởi tiếng của da và y da thú. Hỡi bậc Đại Anh Hùng, các đệ tử của tôi là những người có khổ hạnh cao tột, họ là những người như thế.”
139.
139.
139.
‘‘Parivuto ahaṃ tehi, vasāmi mama assame;
Tositā sakakammena, vinītāpi samāgatā.
Surrounded by them, I dwell in my hermitage. Delighted by their own actions, disciplined, they have assembled.
“Tôi được các vị ấy vây quanh, sống ở trong am thất của tôi. Các vị đệ tử đã được huấn luyện, hoan hỷ với phận sự của mình, cũng đã tụ hội lại.”
140.
140.
140.
‘‘Ārādhayiṃsu maṃ ete, sakakammābhilāsino;
Sīlavanto ca nipakā, appamaññāsu kovidā.
These have pleased me, delighting in their own tasks, virtuous and prudent, skilled in the immeasurables.
“Những vị này đã làm tôi hài lòng, là những vị mong muốn phận sự của mình, là những vị có giới hạnh, là những bậc hiền trí, và là những vị thông thạo về các Vô Lượng Tâm.”
141.
141.
141.
‘‘Padumuttaro lokavidū, āhutīnaṃ paṭiggaho;
Samayaṃ saṃviditvāna, upagacchi vināyako.
Padumuttara, the Knower of the World, worthy recipient of offerings, the Leader, having understood the time, approached.
“Đức Phật Padumuttara, bậc Toàn Giác, bậc xứng đáng nhận vật cúng dường, bậc Lãnh Đạo, sau khi biết được thời điểm thích hợp đã ngự đến.”
142.
142.
142.
‘‘Upagantvāna sambuddho, ātāpī nipako muni;
Pattaṃ paggayha sambuddho, bhikkhāya mamupāgami.
The Fully Enlightened One—ardent, prudent, the sage—having approached, held up his bowl and came to me for alms.
“Bậc Chánh Đẳng Giác, bậc tinh cần, bậc hiền trí, bậc Mâu-ni, sau khi ngự đến, bậc Chánh Đẳng Giác đã nâng bát lên và đi đến gần tôi để khất thực.”
143.
143.
143.
‘‘Upāgataṃ mahāvīraṃ, jalajuttamanāyakaṃ;
Tiṇasantharaṃ † paññāpetvā, sālapupphehi okiriṃ.
For the Great Hero who had approached, the supreme leader, best of the water-born, I prepared a grass spread and scattered sāla flowers upon it.
“Đối với bậc Đại Anh Hùng, bậc Lãnh Đạo Tối Thượng như hoa sen đã ngự đến, tôi đã chuẩn bị một tấm lót bằng cỏ và đã rải lên trên những bông hoa sāla.”
144.
144.
144.
‘‘Nisādetvāna † sambuddhaṃ, haṭṭho saṃviggamānaso;
Khippaṃ pabbatamāruyha, agaḷuṃ † aggahiṃ ahaṃ.
Having seated the Fully Enlightened One, joyful and with a mind stirred by awe, I quickly climbed the mountain and took aloe wood.
“Sau khi thỉnh bậc Chánh Đẳng Giác an tọa, với tâm hoan hỷ và xúc động, tôi đã nhanh chóng trèo lên núi và đã lấy được trầm hương.”
145.
145.
145.
‘‘Kumbhamattaṃ gahetvāna, panasaṃ devagandhikaṃ;
Khandhe āropayitvāna, upagacchiṃ vināyakaṃ.
Taking a pot-sized jackfruit with a divine fragrance, and placing it on my shoulder, I approached the Leader.
“Sau khi lấy được quả mít có hương trời, to bằng cái lu, và sau khi đặt lên vai, tôi đã đi đến gần bậc Lãnh Đạo.”
146.
146.
146.
‘‘Phalaṃ buddhassa datvāna, agaḷuṃ anulimpahaṃ;
Pasannacitto sumano, buddhaseṭṭhaṃ avandihaṃ.
Having given the fruit to the Buddha, I anointed him with aloe wood. With a serene and joyful mind, I paid homage to the best of Buddhas.
“Sau khi dâng trái cây lên Đức Phật, tôi đã xức trầm hương. Với tâm trong sạch và ý hoan hỷ, tôi đã đảnh lễ bậc Tối Thắng Giác.”
147.
147.
147.
‘‘Padumuttaro lokavidū, āhutīnaṃ paṭiggaho;
Isimajjhe nisīditvā, imā gāthā abhāsatha.
Padumuttara, the Knower of the World, worthy recipient of offerings, having sat down in the midst of the sages, spoke these verses:
“Đức Phật Padumuttara, bậc Toàn Giác, bậc xứng đáng nhận vật cúng dường, sau khi an tọa giữa các vị ẩn sĩ, đã nói lên những câu kệ này.”
148.
148.
148.
‘‘‘Yo me phalañca agaḷuṃ, āsanañca adāsi me;
Tamahaṃ kittayissāmi, suṇātha mama bhāsato.
‘Whoever gave me fruit and aloe wood, and also a seat; I shall proclaim his praise. Listen to me as I speak.
“‘Vị nào đã dâng cúng đến ta trái cây, trầm hương, và chỗ ngồi, ta sẽ tán dương vị ấy. Các ngươi hãy lắng nghe lời của ta đang nói đây.’”
149.
149.
149.
‘‘‘Gāme vā yadi vāraññe, pabbhāresu guhāsu vā;
Imassa cittamaññāya, nibbattissati bhojanaṃ.
‘Whether in a village or in the forest, in mountain clefts or in caves, in accordance with his thought, food will arise for him.
“‘Dầu ở trong làng hay ở trong rừng, ở sườn núi hay ở hang động, vật thực sẽ phát sanh do biết được tâm của vị này.’”
150.
150.
150.
‘‘‘Devaloke manusse vā, upapanno ayaṃ naro;
Bhojanehi ca vatthehi, parisaṃ tappayissati.
‘Whether in the deva world or the human world, having been reborn, this person will satisfy the assembly with food and with clothes.
“‘Người này, khi sanh vào cõi trời hay cõi người, sẽ làm cho hội chúng thỏa mãn với các vật thực và y phục.’”
151.
151.
151.
‘‘‘Upapajjati yaṃ yoniṃ, devattaṃ atha mānusaṃ;
Akkhobhabhogo hutvāna, saṃsarissatiyaṃ naro.
‘Whatever womb he is reborn into, whether divine or human, having inexhaustible wealth, this person will wander through saṃsāra.
“‘Dù sanh vào bất cứ thai sanh nào, làm thân chư thiên hay làm thân người, người này sẽ có được tài sản không thể bị xâm phạm và sẽ luân hồi (trong các cảnh giới tốt đẹp).’”
152.
152.
152.
‘‘‘Tiṃsakappasahassāni, devaloke ramissati;
Sahassakkhattuṃ rājā ca, cakkavattī bhavissati.
‘For thirty thousand kappas, he will delight in the deva world; a thousand times he will be a wheel-turning king.
“‘Trong ba mươi ngàn kiếp, vị ấy sẽ hưởng lạc ở cõi trời. Và một ngàn lần, vị ấy sẽ là vị vua Chuyển Luân Thánh Vương.’”
153.
153.
153.
‘‘‘Ekasattatikkhattuñca, devarajjaṃ karissati;
Padesarajjaṃ vipulaṃ, gaṇanāto asaṅkhiyaṃ.
‘And seventy-one times he will exercise sovereignty over the devas; and his regional kingship will be vast, beyond counting.
“‘Và bảy mươi mốt lần, vị ấy sẽ làm vua cõi trời. (Còn) vương quốc rộng lớn ở các địa phương thì không thể đếm được về số lượng.’”
154.
154.
154.
‘‘‘Kappasatasahassamhi, okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena, satthā loke bhavissati.
‘In one hundred thousand kappas from now, one born in the Okkāka clan, Gotama by name, will be the Teacher in the world.
“‘Vào một trăm ngàn kiếp (kể từ nay), một vị Đạo Sư sẽ xuất hiện ở thế gian, sanh ra trong dòng dõi Okkāka, có danh xưng là Gotama theo họ tộc.’”
155.
155.
155.
‘‘‘Tassa dhammesu dāyādo, oraso dhammanimmito †;
Sabbāsave pariññāya, viharissatināsavo’.
‘He will be an heir in his Dhamma, a legitimate son created by the Dhamma. Having fully understood all the cankers, he will dwell without cankers.’
“‘(Vị ấy) sẽ là người thừa tự trong Giáo Pháp của vị ấy, là người con đích thực, do Pháp hóa sanh. Sau khi liễu tri tất cả các lậu hoặc, vị ấy sẽ sống không còn lậu hoặc.’”
156.
156.
156.
‘‘Suladdhalābho laddho me, yohaṃ addakkhiṃ nāyakaṃ;
Tisso vijjā anuppattā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
A gain well-gained has been gained by me, for I beheld the Leader. The three knowledges have been attained; the Buddha’s teaching has been done.
“Lợi lộc tốt đẹp đã được tôi đạt được, vì tôi đã được thấy bậc Lãnh Đạo. Ba Minh đã được chứng đắc, lời dạy của Đức Phật đã được thực hành.”
157.
157.
157.
‘‘Gāme vā yadi vāraññe, pabbhāresu guhāsu vā;
Mama saṅkappamaññāya, bhojanaṃ hoti me sadā.
Whether in a village or in the wilderness, on mountain slopes or in caves, knowing my intention, food always arises for me.
“Dầu ở trong làng hay ở trong rừng, ở sườn núi hay ở hang động, vật thực luôn luôn phát sanh cho tôi do biết được ý định của tôi.”
158.
158.
158.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
My defilements are burnt up... I dwell without taints.
“Các phiền não của tôi đã được đốt sạch… (vân vân)… tôi sống không còn lậu hoặc.”
159.
159.
159.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Indeed, my coming was a good coming... the Buddha’s teaching has been done.
“Sự đến của tôi thật là khéo đến… (vân vân)… lời dạy của Đức Phật đã được thực hành.”
160.
160.
160.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges... the Buddha’s teaching has been done.”
“Bốn Tuệ Phân Tích… (vân vân)… lời dạy của Đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā upasīvo † thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Upasīva spoke these verses.
Như vậy, quả thật Trưởng lão Upasīva đã nói những câu kệ này.
Upasīvattherassāpadānaṃ pañcamaṃ.
The fifth Apadāna of Elder Upasīva.
Phần Thí Dụ về Trưởng lão Upasīva, chương thứ năm.