Bản dịch
THA -ap406 — Ký Sự về Trưởng Lão Dhotaka
Dhotakattheraapadāna
BJT 3963Tu viện tên là Sobhita đã khéo được tạo lập ở cạnh bờ sông Gaṅgā. Đức Phật Padumuttara, đấng Lãnh Đạo Thế Gian, cư ngụ tại nơi ấy.
BJT 3964Như là vị (Chúa Trời) Inda với chư Thiên cõi Đạo Lợi, đức Thế Tôn đã ngồi xuống ở tại nơi ấy phía trước đám người tợ như con sư tử không bị hãi sợ.
BJT 3965Tôi là vị Bà-la-môn sống ở thành phố Haṁsavatī có tên là Chaḷaṅga. Tôi là vị đại hiền trí có tên như thế.
BJT 3966Khi ấy, có một ngàn tám trăm người theo tôi. Được tháp tùng bởi những người học trò ấy, tôi đã đi đến bờ sông Gaṅgā.
BJT 3967Tại nơi ấy, tôi đã nhìn thấy các vị sa-môn không giả dối, có các tội lỗi đã được gội rửa, đang băng qua sông Bhāgīrathī. Tôi đã tức thời suy nghĩ như vầy:
BJT 3968“Những người con trai có danh tiếng lớn lao này của đức Phật trong khi sáng chiều băng qua (sông) khiến bản thân bị khó khăn, bản thân của họ bị hành hạ.
BJT 3969Đức Phật được gọi là vị Cao Cả của thế gian luôn cả chư Thiên, (vậy mà) ta không có hành động cúng dường là việc làm trong sạch con đường đi đến các cảnh giới tái sanh.
BJT 3970Hay là ta nên cho thực hiện cây cầu ở sông Gaṅgā (dâng) đến đức Phật Tối Thượng? Sau khi cho thực hiện việc làm này, ta (sẽ) vượt qua sự hiện hữu này.”
BJT 3971Trong khi tin tưởng rằng: “Hành động được làm sẽ có (kết quả) dồi dào cho ta,” tôi đã bố thí một trăm ngàn và đã cho xây dựng cây cầu.
BJT 3972Sau khi đã cho xây dựng cây cầu ấy, tôi đã đi đến đấng Lãnh Đạo Thế Gian. Sau khi chắp tay lên ở đầu, tôi đã nói lời nói này:
BJT 3973“Bạch đấng Đại Hiền Trí, cây cầu lớn này đã được làm hết một trăm ngàn và đã được con bảo làm vì lợi ích của Ngài, xin Ngài thọ nhận.”
BJT 3974Đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, đã ngồi xuống ở hội chúng tỳ khưu và đã nói lên những lời kệ này:
BJT 3975“Người nào được tịnh tín đã bảo thực hiện cây cầu cho Ta với các bàn tay của mình, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hãy lắng nghe Ta nói.
BJT 3976Dẫu cho bị rơi xuống từ vực thẳm, từ ngọn núi, hoặc từ thân cây, thậm chí bị chết đi, người này sẽ đạt được vị thế; điều này là quả báu của việc dâng cúng cây cầu.
BJT 3977Các kẻ thù không áp chế được, ví như cơn gió không áp chế được cây đa có mạng rễ đã được phát triển; điều này là quả báu của việc dâng cúng cây cầu.
BJT 3978Các kẻ cướp không áp chế người này, các vị Sát-đế-lỵ không khinh bỉ, người này thoát khỏi tất cả kẻ thù; điều này là quả báu của việc dâng cúng cây cầu.
BJT 3979Khi hiện diện ở ngoài trời (và) bị thiêu đốt bởi sức nóng dữ dội, (do) được gắn liền với nghiệp phước thiện, các cảm thọ sẽ không có.
BJT 3980Ở thế giới chư Thiên hoặc ở loài người, sau khi biết được ước muốn của người ấy, phương tiện di chuyển bằng voi sẽ được hóa hiện ra, sẽ được tạo ra ngay lập tức.
BJT 3981Một ngàn con ngựa giống Sindhu có tốc độ của gió là phương tiện di chuyển nhanh chóng sẽ đi đến sáng chiều; điều này là quả báu của việc dâng cúng cây cầu.
BJT 3982Sau khi đi đến bản thể nhân loại, người này sẽ được sung sướng. Ngay cả ở đây cũng sẽ có phương tiện di chuyển bằng voi cho chính con người ấy.
BJT 3983Vào một trăm ngàn kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 3984Là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, (người này) sẽ biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc và sẽ Niết Bàn không còn lậu hoặc.”
BJT 3985Ôi việc làm của tôi đã được thực hiện tốt đẹp đến vị (Phật) tên Padumuttara! Sau khi thể hiện sự tôn kính đến vị ấy, tôi đã đạt đến sự diệt tận các lậu hoặc.
BJT 3986Có tính khẳng quyết về sự nỗ lực, tôi được an tịnh, không còn mầm mống tái sanh. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 3987Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 3988Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch, tất cả các lậu hoặc đã được đoạn tận, giờ đây không còn tái sanh nữa.
BJT 3989Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Dhotakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Dhotaka là phần thứ tư.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Gaṅgā bhāgīrathī nāma, himavantā pabhāvitā †;
Haṃsavatiyā dvārena, anusandati tāvade.
The river Ganges, named Bhāgīrathī, originating from the Himavanta, at that time flows through the gate of Haṃsavatī.
“Vào lúc bấy giờ, sông Gaṅgā tên là Bhāgīrathī, bắt nguồn từ núi Himavanta, chảy ngang qua cổng thành Haṃsavatī.
73.
73.
73.
‘‘Sobhito nāma ārāmo, gaṅgākūle sumāpito;
Tattha padumuttaro buddho, vasate lokanāyako.
A monastery named Sobhita was well-created on the bank of the Ganges; there the Buddha Padumuttara, the leader of the world, resides.
“Ngôi tự viện tên là Sobhita đã được khéo xây dựng ở trên bờ sông Gaṅgā. Ở nơi ấy, đức Phật Padumuttara, bậc Lãnh đạo thế gian, đang ngự.
74.
74.
74.
‘‘Tidasehi yathā indo, manujehi purakkhato;
Nisīdi tattha bhagavā, asambhītova kesarī.
Just as Indra is honored by the gods, so was he by humans; there the Blessed One sat, fearless like a lion.
“Giống như vị trời Đế-thích (được vây quanh) bởi các vị trời ở cõi Ba Mươi Ba, (đức Phật) được loài người kính ngưỡng. Ở nơi ấy, đức Thế Tôn đã ngự tọa, giống như con sư tử không hề sợ hãi.
75.
75.
75.
‘‘Nagare haṃsavatiyā, vasāmi † brāhmaṇo ahaṃ;
Chaḷaṅgo nāma nāmena, evaṃnāmo mahāmuni.
O Great Sage, in the city of Haṃsavatī, I lived as a brahmin. By name, I was called Chaḷaṅga.
“Thưa bậc Đại ẩn sĩ, tôi là vị Bà-la-môn sống ở thành phố Haṃsavatī. Về danh tánh, tôi có tên là Chaḷaṅga.
76.
76.
76.
‘‘Aṭṭhārasa sissasatā, parivārenti maṃ tadā;
Tehi sissehi samito, gaṅgātīraṃ upāgamiṃ.
Eighteen hundred disciples surrounded me then; accompanied by those disciples, I approached the bank of the Ganges.
“Vào lúc bấy giờ, một ngàn tám trăm người đệ tử đã vây quanh tôi. Cùng với các đệ tử ấy, tôi đã đi đến bờ sông Gaṅgā.
77.
77.
77.
‘‘Tatthaddasāsiṃ samaṇe, nikkuhe dhotapāpake;
Bhāgīrathiṃ tarantehaṃ †, evaṃ cintesi tāvade.
There I saw ascetics, free from deceit, with their evils washed away, crossing the Bhāgīrathī. Seeing them, I thought thus at that moment.
“Ở nơi ấy, tôi đã nhìn thấy các vị Sa-môn không còn kiêu mạn, đã gột rửa các điều ác, đang vượt qua sông Bhāgīrathī. Vào lúc bấy giờ, tôi đã suy nghĩ như sau:
78.
78.
78.
‘‘Sāyaṃ pātaṃ † tarantāme, buddhaputtā mahāyasā;
Vihesayanti attānaṃ, tesaṃ attā vihaññati.
Crossing in the evening and morning, these sons of the Buddha of great renown weary themselves; their bodies are afflicted.
“Những vị Phật tử có danh tiếng lớn này, trong khi qua lại vào buổi sáng và buổi chiều, đang làm cho tự thân mệt nhọc; thân của các vị ấy bị mệt mỏi.
79.
79.
79.
‘‘Sadevakassa lokassa, buddho aggo pavuccati;
Natthi me dakkhiṇe kāraṃ, gatimaggavisodhanaṃ.
The Buddha is called the foremost in the world with its devas. I have no meritorious deed done for one worthy of offerings, which purifies the path to one's destination.
“Đức Phật được gọi là bậc Tối thượng của thế gian cùng với chư Thiên. Đối với tôi, không có việc làm nào (dâng đến) bậc Xứng đáng cúng dường, (việc làm) thanh lọc con đường đi đến các cõi.
80.
80.
80.
‘‘Yaṃnūna buddhaseṭṭhassa, setuṃ gaṅgāya kāraye;
Kārāpetvā imaṃ kammaṃ †, santarāmi imaṃ bhavaṃ.
What if I were to have a bridge made over the Ganges for the best of Buddhas? Having had this work done, I shall cross over this existence.
“Chắc chắn rằng ta nên cho làm cây cầu bắc qua sông Gaṅgā dâng lên đấng Phật Tối Thượng. Sau khi đã cho thực hiện việc làm này, ta sẽ vượt qua được kiếp sống này.”
81.
81.
81.
‘‘Satasahassaṃ datvāna, setuṃ kārāpayiṃ ahaṃ;
Saddahanto kataṃ kāraṃ, vipulaṃ me bhavissati.
Having given one hundred thousand, I had a bridge made. Having faith in the deed that was done, my reward will be abundant.
“Sau khi đã bỏ ra một trăm ngàn, tôi đã cho làm cây cầu. Do tin tưởng vào việc làm đã được thực hiện, quả báu to lớn sẽ đến với tôi.”
82.
82.
82.
‘‘Kārāpetvāna taṃ setuṃ, upesiṃ lokanāyakaṃ;
Sirasi añjaliṃ katvā, imaṃ vacanamabraviṃ.
Having had that bridge made, I approached the Leader of the World. Placing my joined hands on my head, I spoke this word.
“Sau khi đã cho làm cây cầu ấy, tôi đã đi đến đấng Lãnh Đạo Thế Gian. Sau khi đã chắp tay trên đầu, tôi đã nói lên lời này:”
83.
83.
83.
‘‘‘Satasahassassa vayaṃ †, datvā † kārāpito mayā;
Tavatthāya mahāsetu, paṭiggaṇha mahāmune.
Having given the expense of one hundred thousand, a great bridge was caused to be made by me for your sake. O Great Sage, please accept it.
“‘Sau khi đã bỏ ra chi phí một trăm ngàn, cây cầu lớn đã được con cho làm vì lợi ích của ngài. Xin bậc Đại ẩn sĩ hãy thọ nhận.’”
84.
84.
84.
‘‘‘Padumuttaro lokavidū, āhutīnaṃ paṭiggaho;
Bhikkhusaṅghe nisīditvā, imā gāthā abhāsatha.
Padumuttara, the Knower of the World, the Recipient of Offerings, having sat down in the assembly of monks, spoke these verses.
“‘Đức Phật Padumuttara, bậc Thông Suốt Thế Gian, bậc xứng đáng thọ nhận các vật cúng dường, sau khi đã ngồi xuống giữa chúng Tỳ khưu, đã nói lên những câu kệ này:”
85.
85.
85.
‘‘‘Yo me setuṃ akāresi, pasanno sehi pāṇibhi;
Tamahaṃ kittayissāmi, suṇātha mama bhāsato.
He who, being devout, had a bridge made for me with his own hands—I shall proclaim him. Listen to my words as I speak.
“‘Vị nào có lòng tịnh tín nơi ta, đã dùng đôi tay của mình để cho làm cây cầu, ta sẽ tán dương vị ấy. Các ngươi hãy lắng nghe lời của ta đang nói đây.”
(Setudānaānisaṃso)
(The Benefit of Giving a Bridge)
(Phước báu của việc bố thí cây cầu)
86.
86.
86.
‘‘‘Darito pabbatato vā, rukkhato patitopiyaṃ;
Cutopi lacchatī ṭhānaṃ, setudānassidaṃ phalaṃ.
Even if this person has fallen from a chasm, a mountain, or a tree, or even having passed away, he will obtain a good destination. This is the fruit of the gift of a bridge.
“‘Vị này dù có bị té ngã từ khe núi, từ ngọn núi, hay từ trên cây, hoặc sau khi chết đi cũng sẽ đạt được nơi an trú. Đây là quả báu của việc bố thí cây cầu.”
87.
87.
87.
‘‘‘Virūḷhamūlasantānaṃ, nigrodhamiva māluto;
Amittā nappasahanti, setudānassidaṃ phalaṃ.
Just as the wind cannot overpower a banyan tree with a continuous network of grown roots, so enemies cannot overpower him. This is the fruit of the gift of a bridge.
“‘Giống như ngọn gió không thể khuất phục được cây đa với bộ rễ đã phát triển, các kẻ thù cũng không thể khuất phục được vị ấy. Đây là quả báu của việc bố thí cây cầu.”
88.
88.
88.
‘‘‘Nāssa corā pasahanti, nātimaññanti khattiyā;
Sabbe tarissatāmitte, setudānassidaṃ phalaṃ.
Thieves will not overpower him, nobles will not slight him; he will overcome all enemies. This is the fruit of the gift of a bridge.
“‘Đối với vị ấy, các kẻ trộm không thể khuất phục được, các vị vua chúa không khinh thường. Vị ấy sẽ vượt qua được tất cả kẻ thù. Đây là quả báu của việc bố thí cây cầu.”
89.
89.
89.
‘‘‘Abbhokāsagataṃ santaṃ, kaṭhinātapatāpitaṃ;
Puññakammena saṃyuttaṃ, na bhavissati vedanā †.
For one endowed with meritorious kamma who is in an open space, even when afflicted by harsh sunlight, there will be no suffering.
“‘Vị ấy đang ở ngoài trời, bị thiêu đốt bởi ánh nắng gay gắt, nhưng do hợp thành cùng với nghiệp phước thiện, sự khổ thọ sẽ không khởi lên.”
90.
90.
90.
‘‘‘Devaloke manusse vā, hatthiyānaṃ sunimmitaṃ;
Tassa saṅkappamaññāya, nibbattissati tāvade.
In the deva world or among humans, a well-created elephant vehicle will arise at that moment, having known his intention.
“‘Hoặc ở cõi trời, hoặc ở cõi người, sau khi biết được ý định của vị ấy, cỗ xe voi được khéo tạo ra sẽ hiện khởi ngay lập tức.”
91.
91.
91.
‘‘‘Sahassassā vātajavā, sindhavā sīghavāhanā;
Sāyaṃ pātaṃ upessanti, setudānassidaṃ phalaṃ.
A thousand horses, swift as the wind, of the Sindhu breed, that carry swiftly, will approach in the evening and morning. This is the fruit of the gift of a bridge.
“‘Một ngàn con ngựa giống Sindhu, tốc độ như gió, di chuyển nhanh chóng, sẽ đến hầu cận vào buổi chiều và buổi sáng. Đây là quả báu của việc bố thí cây cầu.”
92.
92.
92.
‘‘‘Āgantvāna manussattaṃ, sukhitoyaṃ bhavissati;
Vehāsaṃ † manujasseva, hatthiyānaṃ bhavissati.
Having come to the human state, this person will be happy. Even as a human, he will have an elephant vehicle that travels through the sky.
“‘Sau khi đã đến với kiếp người, vị này sẽ được an lạc. Ngay khi còn là con người, cỗ xe voi đi trên không trung sẽ được thành tựu.”
93.
93.
93.
‘‘‘Kappasatasahassamhi, okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena, satthā loke bhavissati.
In one hundred thousand kappas, a Teacher will arise in the world, born in the Okkāka clan, named Gotama by clan name.
“‘Trong một trăm ngàn đại kiếp, vị xuất thân từ dòng dõi Okkāka, có tên là Gotama theo họ tộc, sẽ là bậc Đạo Sư ở thế gian.”
94.
94.
94.
‘‘‘Tassa dhammesu dāyādo, oraso dhammanimmito;
Sabbāsave pariññāya, nibbāyissatināsavo’.
An heir to his Dhamma, a true son created by the Dhamma, having fully understood all the taints, he will attain Nibbāna without taints.
“‘Vị ấy sẽ là người thừa tự trong các Pháp của vị ấy, là người con đích thực do Pháp tạo ra. Sau khi đã liễu tri tất cả các lậu hoặc, vị ấy sẽ tịch duyệt Niết-bàn, là bậc vô lậu.’”
95.
95.
95.
‘‘Aho me sukataṃ kammaṃ, jalajuttamanāmake;
Tattha kāraṃ karitvāna, pattohaṃ āsavakkhayaṃ.
Ah, my kamma was well done for the Jalajuttama! Having paid homage to him, I have attained the destruction of the taints.
“Ôi, nghiệp lành thay đã được tôi thực hiện đối với đấng Tối Thượng trong loài hoa sen, bậc Vô Song! Sau khi đã thực hiện sự tôn kính ở nơi ấy, tôi đã đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc.”
96.
96.
96.
‘‘Padhānaṃ pahitattomhi, upasanto nirūpadhi;
Nāgova bandhanaṃ chetvā, viharāmi anāsavo.
I am one with a mind directed towards striving, pacified, without attachments. Like a great elephant having broken its bonds, I dwell without taints.
“Tôi là người có tâm đã được hướng đến sự tinh tấn, là người đã được an tịnh, không còn phiền não. Giống như con voi lớn đã cắt đứt các dây trói buộc, tôi sống không còn lậu hoặc.”
97.
97.
97.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
My defilements are burned... (etc.)... I dwell without taints.
“Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt … (như trên) … tôi sống không còn lậu hoặc.”
98.
98.
98.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Indeed, my coming was a good coming... (etc.)... the Buddha's teaching has been fulfilled.
“Sự quang lâm của tôi quả thật là khéo đến … (như trên) … lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
99.
99.
99.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, the eight liberations, and the six supernormal powers have been realized by me; the teaching of the Buddha has been fulfilled.
“Bốn Tuệ Phân Tích … (như trên) … lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā dhotako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the venerable Elder Dhotaka spoke these verses.
Như vậy, quả thật Trưởng lão Dhotaka đáng kính đã nói lên những câu kệ này.
Dhotakattherassāpadānaṃ catutthaṃ.
The Fourth Apadāna of the Elder Dhotaka is concluded.
Phần Thí Dụ về Trưởng lão Dhotaka là phần thứ tư.