Bản dịch
THA -ap405 — Ký Sự về Trưởng Lão Mettagū
Mettaguttheraapadāna
BJT 3935Ở không xa núi Hi-mã-lạp, có ngọn núi tên là Asoka. Tại nơi ấy, khu ẩn cư của tôi đã được hóa hiện ra bởi vị trời Vissakamma.
BJT 3936Bậc Toàn Giác cao cả, đấng Đại Bi, bậc Hiền Trí tên Sumedha vào buổi sáng sau khi mặc y đã đi đến tôi để khất thực.
BJT 3937Khi bậc Lãnh Đạo Thế Gian, đấng Đại Hùng Sumedha đi đến, tôi đã nhận lấy bình bát của đấng Thiện Thệ và đã chứa đầy với bơ lỏng và dầu ăn.
BJT 3938Sau khi đã dâng cúng đức Phật tối thượng, bậc Lãnh Đạo Thế Gian Sumedha, tôi đã chắp tay lên và đã khởi lên niềm vui dào dạt:
BJT 3939“Do sự bố thí bơ lỏng này và do các nguyện lực của tác ý, dầu trở thành vị Thiên nhân hay là loài người, mong sao cho tôi đạt được sự an lạc sung mãn.
BJT 3940Mong sao cho tôi lánh xa chốn đọa đày trong khi luân hồi cõi này cõi khác. Mong sao cho tôi khẳng định được tâm về điều ấy và đạt được vị thế Bất Động.”
BJT 3941“Này người Bà-la-môn, điều lợi ích cho ngươi đã được ngươi đạt thành một cách tốt đẹp, là việc ngươi đã nhìn thấy Ta. Sau khi đi đến gặp Ta, ngươi sẽ trở thành vị A-la-hán.
BJT 3942Sau khi đạt đến thành công lớn, ngươi hãy tự tin, chớ lo sợ. Bởi vì sau khi bố thí bơ lỏng đến Ta, ngươi được hoàn toàn giải thoát khỏi sự (tái) sanh.
BJT 3943Do sự bố thí bơ lỏng này và do các nguyện lực của tác ý, dầu trở thành vị Thiên nhân hay là loài người, ngươi sẽ đạt được sự an lạc sung mãn.
BJT 3944Do sự bố thí bơ lỏng này và do sự hành trì tâm từ ái, ngươi sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên trong một ngàn tám trăm kiếp.
BJT 3945Và ngươi sẽ trở thành vị Thiên Vương ba mươi tám lần. Lãnh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.
BJT 3946Và ngươi sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương năm mươi mốt lần, là người chinh phục bốn phương, là đấng chúa tể của vùng đất Jambu.
BJT 3947Tợ như đại dương là không bị xao động, giống như trái đất là khó mang vác, và tương tợ y như thế của cải thuộc về ngươi sẽ là vô lượng.”
BJT 3948Sau khi từ bỏ sáu mươi koṭi(600 triệu) tiền vàng, tôi đã xuất gia. Trong khi tầm cầu điều tốt đẹp gì mà tôi đã đi đến với Bāvarī?
BJT 3949Tại nơi ấy, tôi học tập các chú thuật và sáu phần về tướng số. “Bạch đấng Đại Hiền Trí,trong khi hủy diệt điều tăm tối ấy Ngài đã hiện khởi.
BJT 3950Bạch đấng Đại Hiền Trí, có sự ước muốn về việc nhìn thấy Ngài con đã đi đến. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của Ngài, con đã đạt đến vị thế Bất Động.”
BJT 3951Tôi đã dâng cúng bơ lỏng đến đức Phật trong ba mươi ngàn kiếp. Trong khoảng thời gian ấy, tôi không biết rõ lượng bơ lỏng đã được tôi dâng cúng.
BJT 3952Hiểu được ý định của tôi, biết được tâm tư của tôi, (mọi vật) đã được sanh lên, đã được tạo ra theo như ước muốn. Tôi được thỏa mãn về mọi thứ.
BJT 3953Ôi đức Phật! Ôi Giáo Pháp! Ôi sự thành tựu của bậc Đạo Sư của chúng ta! Bởi vì sau khi dâng cúng chỉ chút ít bơ lỏng, tôi đạt được vô lượng.
BJT 3954Cho đến nước trong đại dương được nhìn thấy từ núi Neru so sánh với bơ lỏng của tôi thì không chạm đến được phần chia của một góc (bơ lỏng của tôi).
BJT 3955Cho đến số lượng của vũ trụ đang được hình thành, khoảng không gian ấy không sánh bằng các tấm vải đã được sanh lên cho tôi.
BJT 3956Núi chúa Hi-mã-lạp cũng chính là ngọn núi hàng đầu sẽ không là sự so sánh đối với vật thơm đã được thoa cho tôi.
BJT 3957(Tôi đã đạt được) vải vóc, vật thơm, bơ lỏng, thức ăn, và ở kiếp hiện tại này là Niết Bàn không còn tạo tác; điều này là quả báu của việc dâng cúng bơ lỏng.
BJT 3958(Tôi có được) sự trú vào các thiết lập niệm, có hành xứ về thiền định, có sự thọ hưởng các chi phần giác ngộ ở ngày hôm nay; điều này là quả báu của việc dâng cúng bơ lỏng.
BJT 3959Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch, tất cả các lậu hoặc đã được đoạn tận, tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 3960Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 3961Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Mettagūđã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Mettagū là phần thứ ba.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Lābhā tuyhaṃ suladdhaṃ te, yaṃ maṃ addakkhi brāhmaṇa;
Mama dassanamāgamma, arahattaṃ bhavissati †.
“‘It is a gain for you, O brahmin, it is well-gained by you, that you have seen me. On account of seeing me, Arahantship will come to be.’”
“Hỡi Bà-la-môn, ngươi thật có được lợi lộc, ngươi thật có được lợi lộc tốt đẹp, điều mà ngươi đã nhìn thấy ta. Do nhờ sự diện kiến ta, quả vị A-la-hán sẽ thành tựu.”
52.
52.
52.
‘‘Vissattho † hohi mā bhāyi, adhigantvā mahāyasaṃ;
Mamañhi sappiṃ datvāna, parimokkhasi jātiyā.
“‘Be at ease, do not fear. Having attained great renown, because you have given ghee to me, you will be completely freed from birth.’”
“Hãy được an tâm, chớ nên sợ hãi. Sau khi đã đạt được danh tiếng lớn lao, và do đã dâng cúng dầu bơ lỏng đến ta, ngươi sẽ được hoàn toàn giải thoát khỏi sự sanh.”
53.
53.
53.
‘‘Iminā sappidānena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Devabhūto manusso vā, labhase vipulaṃ sukhaṃ.
“‘By this gift of ghee, and by your intentions and aspirations, whether you become a deva or a human, you will obtain extensive happiness.’”
“Do bởi sự bố thí dầu bơ lỏng này và do bởi các tác ý và nguyện vọng, dầu là chư Thiên hay là loài người, ngươi sẽ nhận được sự an lạc to lớn.”
54.
54.
54.
‘‘Iminā sappidānena, mettacittavatāya ca;
Aṭṭhārase kappasate, devaloke ramissasi.
“‘By this gift of ghee, and by your possession of a mind of loving-kindness, for eighteen hundred aeons you will delight in the deva world.’”
“Do nhờ sự cúng dường bơ sữa này và do nhờ có tâm từ, ngươi sẽ được hoan hỷ ở cõi trời trong suốt một ngàn tám trăm kiếp.
55.
55.
55.
‘‘Aṭṭhatiṃsatikkhattuñca, devarājā bhavissasi;
Padesarajjaṃ vipulaṃ, gaṇanāto asaṅkhiyaṃ.
“‘And thirty-eight times you will be a king of the devas; and your extensive regional kingships will be innumerable by count.’”
“Ngươi sẽ là vua trời trong ba mươi tám lần, và (sẽ làm) vị vua chư hầu rộng lớn vô số kể.
56.
56.
56.
‘‘Ekapaññāsakkhattuñca, cakkavattī bhavissasi;
Cāturanto vijitāvī, jambumaṇḍassa † issaro.
“‘And fifty-one times you will be a wheel-turning monarch, a conqueror of the four directions, the lord of the continent of Jambu.’”
“Ngươi sẽ là vị Chuyển Luân vương trong năm mươi mốt lần, là người chiến thắng bốn phương, là đấng chúa tể của toàn cõi Diêm-phù-đề.
57.
57.
57.
‘‘Mahāsamuddovakkhobho, duddharo pathavī yathā;
Evameva ca te bhogā, appameyyā bhavissare.
“‘Just as the great ocean is unshakeable, and as the earth is difficult to carry away, even so will your possessions be immeasurable.’”
“Giống như đại dương không thể bị khuấy động, giống như quả đất khó thể lay chuyển, cũng giống như thế, tài sản của ngươi sẽ là vô lượng không thể đo lường.
58.
58.
58.
‘‘Saṭṭhikoṭī hiraññassa, cajitvā † pabbajiṃ ahaṃ;
Kiṃ kusalaṃ gavesanto, bāvariṃ upasaṅkamiṃ.
“Having abandoned sixty crores of gold, I went forth. Seeking for what is wholesome, I approached the brahmin Bāvarī.”
“Tôi đã từ bỏ sáu mươi ức vàng bạc rồi xuất gia. Trong khi tìm kiếm điều thiện lành, tôi đã đi đến gần (ẩn sĩ) Bāvari.
59.
59.
59.
‘‘Tattha mante adhīyāmi, chaḷaṅgaṃ nāma lakkhaṇaṃ;
Tamandhakāraṃ vidhamaṃ, uppajji tvaṃ mahāmuni.
“There I learned the Vedas; I learned the treatise on signs called the ‘Six-Limbed.’ Dispelling that darkness, you arose, O great sage.”
“Ở nơi ấy, tôi học tập các câu chú thuật và tướng pháp tên là Chaḷaṅga (Sáu Chi). Thưa bậc Đại ẩn sĩ, Ngài đã xuất hiện, thổi tan đi bóng tối u ám ấy.
60.
60.
60.
‘‘Tava dassanakāmohaṃ, āgatomhi mahāmuni;
Tava dhammaṃ suṇitvāna, pattomhi acalaṃ padaṃ.
“Desiring to see you, O great sage, I have come. Having heard your Dhamma, I have attained the unshakeable state.”
“Thưa bậc Đại ẩn sĩ, tôi đã đến đây vì mong muốn được nhìn thấy Ngài. Sau khi lắng nghe Giáo pháp của Ngài, tôi đã đạt được trạng thái bất động.
61.
61.
61.
‘‘Tiṃsakappasahassamhi, sappiṃ buddhassadāsahaṃ;
Etthantare nābhijāne, sappiṃ viññāpitaṃ † mayā.
“Thirty thousand aeons ago, I gave ghee to the Buddha. In the interval since, I do not recall ever having had to ask for ghee.”
“Vào ba mươi ngàn kiếp trước, tôi đã dâng cúng bơ sữa đến đức Phật. Trong khoảng thời gian ấy, tôi không hề biết đến việc phải đi xin bơ sữa.
62.
62.
62.
‘‘Mama saṅkappamaññāya, uppajjati yadicchakaṃ;
Cittamaññāya nibbattaṃ, sabbe santappayāmahaṃ.
“Knowing my intention, it arises as I wish. With that which has arisen in accordance with my mind, I satisfy all.”
“Biết được ý định của tôi, (bơ sữa) liền sanh khởi theo như ý muốn. (Với bơ sữa) được sanh khởi do biết được tâm ý, tôi làm cho tất cả được thỏa mãn.
63.
63.
63.
‘‘Aho buddhā aho dhammā †, aho no satthu sampadā;
Thokañhi sappiṃ datvāna, appameyyaṃ labhāmahaṃ.
“Oh, the wonder of the Buddhas! Oh, the wonder of the Dhamma! Oh, the wonder of our Teacher's perfection! Having given just a little ghee, I obtain the immeasurable.”
“Ôi, chư Phật thật vi diệu! Ôi, Giáo pháp thật vi diệu! Ôi, sự toàn hảo của bậc Đạo sư của chúng ta thật vi diệu! Sau khi đã cho đi một ít bơ sữa, tôi đã nhận được (bơ sữa) vô lượng.
64.
64.
64.
‘‘Mahāsamudde udakaṃ, yāvatā nerupassato;
Mama sappiṃ upādāya, kalabhāgaṃ na hessati †.
“However much water there is in the great ocean near Mount Meru, compared to my ghee, it would not amount to a fraction.”
“Tất cả nước trong đại dương, cho đến tận sườn núi Meru, so với bơ sữa của tôi, cũng không bằng một phần nhỏ.
65.
65.
65.
‘‘Yāvatā cakkavāḷassa, kariyantassa † rāsito;
Mama nibbattavatthānaṃ †, okāso so na sammati.
“If the requisites that have arisen for me were made into a heap, the space of the entire universe would not be sufficient for them.”
“Nếu gom lại thành một đống, tất cả y phục đã sanh khởi cho tôi, thì toàn bộ không gian của thế giới này cũng không đủ để chứa.
66.
66.
66.
‘‘Pabbatarājā himavā, pavaropi siluccayo;
Mamānulittagandhassa, upanidhiṃ † na hessati.
“The king of mountains, Himavā, that excellent mass of rock, would not compare to even a fraction of the perfume with which I am anointed.”
“Vua của các ngọn núi, núi Himavā, ngọn núi đá cao quý, cũng không bằng một phần nhỏ của hương thơm mà tôi đã thoa xức.
67.
67.
67.
‘‘Vatthaṃ gandhañca sappiñca, aññañca diṭṭhadhammikaṃ;
Asaṅkhatañca nibbānaṃ, sappidānassidaṃ phalaṃ.
Clothing, perfume, and ghee, and other benefits visible in this very life, and also the unconditioned Nibbāna—this is the fruit of the gift of ghee.
“Y phục, hương thơm, bơ sữa, và những thứ khác thuộc về hiện tại, cùng với trạng thái vô vi Niết-bàn, (tôi đã nhận được). Đây là quả của việc cúng dường bơ sữa.
68.
68.
68.
‘‘Satipaṭṭhānasayano, samādhijhānagocaro;
Bojjhaṅgabhojano † ajja, sappidānassidaṃ phalaṃ.
Having the foundations of mindfulness as my bed, having concentration and jhāna as my pasture, today I have the factors of enlightenment as my food. This is the fruit of the gift of ghee.
“Ngày nay, tôi có niệm xứ làm giường nằm, có định và thiền làm nơi du hành, có thất giác chi làm vật thực. Đây là quả của việc cúng dường bơ sữa.
69.
69.
69.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
My defilements are burned... (etc.)... I dwell free of cankers.
“Các phiền não của tôi đã được đốt cháy... (v.v.)... tôi sống không còn lậu hoặc.
70.
70.
70.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Indeed, my coming was a good coming... (etc.)... the teaching of the Buddha has been done.
“Sự đến đây của tôi thật là khéo đến... (v.v.)... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
71.
71.
71.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, the eight liberations, and the six supernormal powers have been realized by me; the teaching of the Buddha has been done.
“Bốn Tuệ Phân Tích... (v.v.)... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā mettagū thero imā gāthāyo
Thus, it is said, the venerable Elder Mettagū uttered these verses.
Như vậy, quả thật Trưởng lão Mettagū đã nói lên những câu kệ này.
Abhāsitthāti.
Thus he spoke.
(Trưởng lão) đã thuyết như thế.
Mettaguttherassāpadānaṃ tatiyaṃ.
The Third Apadāna of Elder Mettagū is concluded.
Phẩm truyện về Trưởng lão Mettagū là phần thứ ba.