Bản dịch
THA -ap403 — Ký Sự về Trưởng Lão Tissametteyya
Tissametteyyattheraapadāna
BJT 3891Ở gần đỉnh của sườn núi, (tôi là) vị đạo sĩ khổ hạnh tên Sobhita (chỉ) ăn trái cây đã được rụng xuống và cư ngụ ở trong vùng đồi núi.
BJT 3892Khi ấy, trong lúc tầm cầu mục đích tối thượng về việc đạt đến thế giới Phạm Thiên, tôi đã mang lửa và củi lại rồi nhóm lửa.
BJT 3893Có ý muốn tiếp độ tôi, đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara ấy, vị thọ nhận các vật hiến cúng, đã đi đến khu vực của tôi.
BJT 3894“Này bậc đại phước, ông đang làm gì vậy? Xin ông hãy cho tôi lửa và củi. Tôi (sẽ) chăm sóc ngọn lửa, nhờ đó tôi sẽ có được sự trong sạch.”
BJT 3895“Hỡi người nhân loại, ngài là bậc hiền thiện. Hỡi đấng Thiên Nhân, ngài biết rõ (sự việc). Ngài hãy chăm sóc ngọn lửa, lửa và củi của ngài đây này.”
BJT 3896Sau đó, đấng Chiến Thắng đã cầm lấy gỗ củi và đã nhóm lên ngọn lửa. Gỗ củi (của tôi) ở nơi ấy đã không bốc cháy; (đó là) điều kỳ diệu của bậc Đại Ẩn Sĩ.
BJT 3897“Ngọn lửa của ông không bốc cháy, sự hiến cúng của ông không có, sự hành trì của ông là vô nghĩa. Vậy ông hãy chăm sóc ngọn lửa của Ta.”
BJT 3898“Hỡi vị đại anh hùng, ngọn lửa ấy của ngài được gọi là loại lửa gì? Xin ngài giảng giải cho tôi luôn, cả hai chúng ta sẽ chăm sóc (ngọn lửa) ấy.”
BJT 3899“Về sự diệt tận các pháp là nhân tố, và về sự tịnh lặng các ô nhiễm, sau khi từ bỏ sự ganh tỵ và bỏn xẻn; ba việc này là sự cúng hiến của Ta.”
BJT 3900“Này vị đại anh hùng, ngài là hạng người như thế nào? Thưa ngài, ngài có dòng dõi thế nào? Sở hành và cách tu luyện của ngài khiến tôi thích thú vô cùng.”
BJT 3901“Ta được sanh ra trong gia tộc Sát-đế-lỵ, đã đạt đến sự toàn hảo về thắng trí, đã được đoạn tận tất cả các lậu hoặc, giờ đây không còn tái sanh nữa.”
BJT 3902“Hỡi đấng Phát Quang, hỡi vị Xua Tan tăm tối, hỡi bậc Thiên Nhân, nếu ngài là đức Phật, đấng Toàn Tri, là bậc Đoạn Tận khổ đau, tôi sẽ lễ bái ngài.”
BJT 3903Tôi đã trải ra tấm da dê và đã dâng cúng chỗ ngồi: “Hỡi đấng Bảo Hộ, hỡi bậc Toàn Tri, xin ngài hãy ngồi xuống. Tôi sẽ phục vụ ngài.”
BJT 3904Đức Thế Tôn đã ngồi xuống tại chỗ ấy, trên tấm da dê đã khéo được trải rộng. Sau khi thỉnh mời bậc Toàn Giác, tôi đã đi đến ngọn núi.
BJT 3905Và tôi đã chất trái cây tindukađầy túi đựng vật dụng rồi mang về. Tôi đã trộn trái cây với mật ong rồi dâng lên đức Phật.
BJT 3906Khi ấy, đấng Chiến Thắng đã thọ dụng trong lúc tôi đang trầm tư. Tại đó, trong khi ngắm nhìn bậc Lãnh Đạo Thế Gian, tôi đã khiến tâm được tịnh tín.
BJT 3907Bậc Thông Suốt Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, đã ngồi ở khu ẩn cư của tôi và đã nói lên những lời kệ này:
BJT 3908“Người nào (với tâm) tịnh tín tự tay mình làm Ta được thỏa mãn với trái cây, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hãy lắng nghe Ta nói.
BJT 3909Người ấy sẽ cai quản Thiên quốc hai mươi lăm lần, và sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương một ngàn lần.
BJT 39103911. Được gắn liền với nghiệp phước thiện, cơm ăn, nước uống, vải vóc, và chỗ nằm vô cùng giá trịbiết được ước muốn của người ấy ngay lập tức sẽ sanh lên cho người ấy là người đã có nghiệp (thiện) trong quá khứ. Và người này sẽ luôn luôn được vui vẻ, không có tật bệnh.
BJT 3912Chốn nào người ấy sanh lên, là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, người ấy sẽ được sung sướng ở khắp mọi nơi rồi sẽ đi đến bản thể nhân loại.
BJT 3913Là vị giảng huấn, thông thạo về chú thuật, thông suốt ba tập Vệ-đà, người ấy sẽ đi đến với bậc Toàn Giác và sẽ trở thành bậc A-la-hán.”
BJT 3914Từ khi tôi nhớ lại bản thân, từ khi tôi đạt được hiểu biết, tôi không có sự thiếu hụt về của cải; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
BJT 3915Tôi đã đạt được Giáo Pháp cao quý, đã tiêu diệt tham ái và sân hận, đã được đoạn tận tất cả các lậu hoặc, giờ đây không còn tái sanh nữa.
BJT 3916Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 3917Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 3918Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Tissametteyya đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Tissametteyya là phần thứ nhất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Aggiṃ dāruṃ āharitvā, ujjālesiṃ ahaṃ tadā;
Uttamatthaṃ gavesanto, brahmalokūpapattiyā.
“Having brought firewood, I then lit a fire, seeking the highest goal for rebirth in the Brahma world.”
“Vào lúc ấy, trong khi đang tìm cầu mục đích tối thượng, vì sự tái sanh vào cõi Phạm Thiên, tôi đã mang củi đến và đã nhóm lên ngọn lửa.
3.
3.
3.
‘‘Padumuttaro lokavidū, āhutīnaṃ paṭiggaho;
Mamuddharitukāmo so, āgacchi mama santike.
“Padumuttara, the Knower of the World, the Receiver of Offerings, desiring to rescue me, came into my presence.”
“Đức Phật Padumuttara, bậc Thông Suốt Thế Gian, bậc Xứng Đáng Thọ Lãnh Lễ Vật, vị ấy với mong muốn cứu vớt tôi, đã đi đến gần bên tôi.
4.
4.
4.
‘‘Kiṃ karosi mahāpuñña, dehi me aggidārukaṃ;
Ahamaggiṃ paricare, tato me suddhi hohiti †.
“‘What are you doing, O greatly meritorious one? Give me firewood for the fire. I will tend the fire; from that, purity will come to me.’”
“‘Này người có phước lớn, ông đang làm gì vậy? Hãy cho tôi củi lửa. Tôi sẽ thờ lửa, do đó sự thanh tịnh sẽ đến với tôi.’
5.
5.
5.
‘‘Subhaddako tvaṃ manuje, devate tvaṃ pajānasi;
Tuvaṃ aggiṃ paricara, handa te aggidārukaṃ.
“‘You are very good; you know humans and deities. You also, tend the fire. Here, take the firewood for the fire.’”
“‘Ông là người rất tốt lành, ông biết rõ về loài người và chư thiên. Ông cũng hãy thờ lửa đi, này củi lửa của ông đây.’
6.
6.
6.
‘‘Tato kaṭṭhaṃ gahetvāna, aggiṃ ujjālayī jino;
Na tattha kaṭṭhaṃ pajjhāyi, pāṭiheraṃ mahesino.
“Then the Conqueror, taking the wood, kindled the fire; but the wood did not burn there—a miracle of the Great Sage.”
“Khi ấy, bậc Chiến Thắng sau khi lấy củi đã nhóm lên ngọn lửa. Ở đó, củi đã không cháy; đó là thần thông của bậc Đại Hiền.
7.
7.
7.
‘‘Na te aggi pajjalati, āhutī te na vijjati;
Niratthakaṃ vataṃ tuyhaṃ, aggiṃ paricarassu me.
“‘Your fire does not blaze, your offering does not exist; your vow is fruitless. Tend my fire.’”
“‘Lửa của ông không cháy, sự cúng dường của ông không hiện hữu. Hạnh nguyện của ông thật là vô ích, hãy thờ ngọn lửa của tôi.’
8.
8.
8.
‘‘Kīdiso so † mahāvīra, aggi tava pavuccati;
Mayhampi kathayassetaṃ, ubho paricarāmase.
“O Great Hero, what kind is that fire of yours that is spoken of? Tell this to me also, so that we both may tend it.”
“‘Thưa bậc Đại Hùng, ngọn lửa của ngài được nói là như thế nào? Xin hãy nói điều ấy cho tôi nữa, chúng ta cả hai sẽ cùng nhau thờ phụng.’
9.
9.
9.
‘‘Hetudhammanirodhāya, kilesasamaṇāya ca;
Issāmacchariyaṃ hitvā, tayo ete mamāhutī.
“For the cessation of the causal dhamma, for the stilling of defilements, and having abandoned envy and stinginess—these three are my offerings.”
“‘Vì sự đoạn diệt các pháp nhân duyên, và vì sự lắng dịu phiền não, sau khi từ bỏ sự ganh tỵ và lòng bỏn xẻn, ba điều này là sự cúng dường của ta.’
10.
10.
10.
‘‘Kīdiso tvaṃ mahāvīra, kathaṃ gottosi mārisa;
Ācārapaṭipatti te, bāḷhaṃ kho mama ruccati.
“O Great Hero, what is your name? What is your lineage, dear sir? Your conduct and practice greatly please me.”
“‘Thưa bậc Đại Hùng, ngài là ai vậy? Thưa ngài, ngài thuộc dòng dõi nào? Con đường thực hành và phẩm hạnh của ngài, tôi quả thật vô cùng ưa thích.’
11.
11.
11.
‘‘Khattiyamhi kule jāto, abhiññāpāramiṃ gato;
Sabbāsavaparikkhīṇo, natthi dāni punabbhavo.
“I was born in the Khattiya clan, I have reached the perfection of the higher knowledges; all the cankers are exhausted, now there is no further becoming.”
“‘Ta sanh ra trong dòng dõi Sát-đế-lỵ, đã đạt đến sự toàn hảo của các thắng trí. Tất cả các lậu hoặc đã được đoạn tận, nay không còn tái sanh nữa.’
12.
12.
12.
‘‘Yadi buddhosi sabbaññū, pabhaṅkara tamonuda;
Namassissāmi taṃ deva, dukkhassantakaro tuvaṃ.
“If you are the Buddha, the All-Knowing One, the Light-Maker, the Dispeller of Darkness, I will pay homage to you, O Deva; you are the one who makes an end of suffering.”
“‘Nếu ngài là bậc Toàn Giác, là đức Phật, bậc tạo ra ánh sáng, bậc xua tan bóng tối, tôi sẽ đảnh lễ ngài, ôi bậc Thiên Nhân. Ngài là bậc chấm dứt khổ đau.’
13.
13.
13.
‘‘Pattharitvājinacammaṃ, nisīdanamadāsahaṃ;
Nisīda nātha sabbaññu, upaṭṭhissāmahaṃ tuvaṃ.
“Having spread a hide of black antelope, I offered a seat. ‘Sit, O Lord, All-Knowing One; I will attend upon you.’”
“Sau khi trải tấm da thú, tôi đã dâng cúng chỗ ngồi. ‘Xin ngài hãy ngồi xuống, thưa bậc Lãnh Đạo, bậc Toàn Giác. Tôi sẽ hầu hạ ngài.’
14.
14.
14.
‘‘Nisīdi bhagavā tattha, ajinamhi suvitthate;
Nimantayitvā sambuddhaṃ, pabbataṃ agamāsahaṃ.
“The Blessed One sat there on the well-spread hide of black antelope. Having invited the Fully Enlightened One, I went to the mountain.”
“Đức Thế Tôn đã ngồi xuống ở đó, trên tấm da thú được trải ra tươm tất. Sau khi thỉnh mời bậc Chánh Đẳng Giác, tôi đã đi lên núi.
15.
15.
15.
‘‘Khāribhārañca pūretvā, tindukaphalamāhariṃ;
Madhunā yojayitvāna, phalaṃ buddhassadāsahaṃ.
“Having filled a shoulder-pole load, I brought tinduka fruit. Having mixed it with honey, I gave the fruit to the Buddha.”
“Và sau khi làm đầy gánh hành lý, tôi đã mang về quả tinduka. Sau khi trộn lẫn trái cây với mật ong, tôi đã dâng cúng đến đức Phật.
16.
16.
16.
‘‘Mama nijjhāyamānassa, paribhuñji tadā jino;
Tattha cittaṃ pasādesiṃ, pekkhanto lokanāyakaṃ.
“While I was watching, the Conqueror then partook of it. Gazing upon the Leader of the World, I inspired confidence in my mind toward him.”
“Trong khi tôi đang chăm chú nhìn, khi ấy bậc Chiến Thắng đã thọ dụng. Ở đó, tôi đã làm cho tâm được tịnh tín, trong khi đang chiêm ngưỡng bậc Lãnh Đạo Thế Gian.
17.
17.
17.
‘‘Padumuttaro lokavidū, āhutīnaṃ paṭiggaho;
Mamassame nisīditvā, imā gāthā abhāsatha.
“Padumuttara, the Knower of the World, the Receiver of Offerings, having sat in my hermitage, spoke these verses:”
“Đức Phật Padumuttara, bậc Thông Suốt Thế Gian, bậc Xứng Đáng Thọ Lãnh Lễ Vật, sau khi ngồi trong am thất của tôi, đã nói lên những câu kệ này.
18.
18.
18.
‘‘‘Yo maṃ phalena tappesi, pasanno sehi pāṇibhi;
Tamahaṃ kittayissāmi, suṇātha mama bhāsato.
“‘He who, with a confident mind, satisfied me with fruit with his own hands—I shall proclaim him; listen to my words as I speak.’”
“‘Người nào với tâm tịnh tín, với đôi tay của mình, đã làm cho ta hài lòng bằng trái cây, ta sẽ tán dương người ấy. Hãy lắng nghe lời của ta đang nói đây.’
19.
19.
19.
‘‘‘Pañcavīsatikkhattuṃ so, devarajjaṃ karissati;
Sahassakkhattuṃ rājā ca, cakkavattī bhavissati.
“‘Twenty-five times he will perform the kingship of the devas; and a thousand times he will be a wheel-turning king.’”
“‘Người ấy sẽ làm vua cõi trời hai mươi lăm lần. Và một ngàn lần, người ấy sẽ là vị vua Chuyển Luân Vương.’
20.
20.
20.
‘‘‘Tassa saṅkappamaññāya, pubbakammasamaṅgino;
Annaṃ pānañca vatthañca, sayanañca mahārahaṃ.
“‘Knowing the aspiration of him who is endowed with past merit, food, drink, clothing, and splendid beds—’”
“‘Biết được ý nguyện của người ấy, người đã hội đủ nghiệp thiện quá khứ; vật thực, thức uống, y phục, và chỗ nằm có giá trị lớn lao,
21.
21.
21.
‘‘‘Puññakammena saṃyuttā, nibbattissanti tāvade;
Sadā pamudito cāyaṃ, bhavissati anāmayo.
“‘—connected with his meritorious kamma, will arise at that very moment. This one will always be joyful and free from illness.’”
“‘tương ứng với nghiệp phước thiện, sẽ phát sanh ngay lập tức. Và người này sẽ luôn luôn hoan hỷ, sẽ được vô bệnh.’
22.
22.
22.
‘‘‘Upapajjati yaṃ yoniṃ, devattaṃ atha mānusaṃ;
Sabbattha sukhito hutvā, manussattaṃ gamissati.
“‘Whatever womb he is born into, whether divine or human, being happy in every case, he will attain the human state.’”
“‘Dù sanh vào bất cứ cảnh giới nào, hoặc là cõi trời hay cõi người, sau khi được an lạc ở khắp mọi nơi, người ấy sẽ đạt đến thân phận con người.’
23.
23.
23.
‘‘‘Ajjhāyako mantadharo, tiṇṇaṃ vedāna pāragū;
Sambuddhaṃ upagantvāna, arahā so bhavissati’.
“‘Being a reciter of the Vedas, a bearer of the mantras, one who has gone to the far shore of the three Vedas, having approached the Fully Enlightened One, he will become an Arahant.’”
“‘Là người học tập, người thông thuộc thánh điển, bậc thông suốt ba tập Vệ-đà, sau khi đi đến gần bậc Chánh Đẳng Giác, người ấy sẽ trở thành bậc A-la-hán.’
24.
24.
24.
‘‘Yato sarāmi attānaṃ, yato pattosmi viññutaṃ;
Bhoge me ūnatā natthi, phaladānassidaṃ phalaṃ.
“From when I remember myself, from when I attained discernment, there has been no deficiency in my wealth—this is the fruit of the gift of fruit.”
“Kể từ khi tôi có thể nhớ lại về bản thân, kể từ khi tôi đã đạt đến sự hiểu biết, không có sự thiếu hụt nào về tài sản của tôi. Đây là quả của việc dâng cúng trái cây.
25.
25.
25.
‘‘Varadhammamanuppatto, rāgadose samūhaniṃ;
Sabbāsavaparikkhīṇo, natthi dāni punabbhavo.
“I have attained the excellent Dhamma, I have uprooted greed and hate; all the cankers are exhausted, now there is no further becoming.”
“Tôi đã đạt đến Giáo pháp cao quý, tôi đã nhổ sạch tham ái và sân hận. Tất cả các lậu hoặc đã được đoạn tận, nay không còn tái sanh nữa.
26.
26.
26.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ, bhavā sabbe samūhatā;
Nāgova bandhanaṃ chetvā, viharāmi anāsavo.
“My defilements are burnt, all becomings are uprooted; like a great elephant having broken its bonds, I dwell free from cankers.”
“Các phiền não của tôi đã được đốt cháy, tất cả các hữu đã được nhổ sạch. Giống như con voi chúa sau khi bẻ gãy các xiềng xích, tôi sống không còn lậu hoặc.
27.
27.
27.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi, mama buddhassa santike;
Tisso vijjā anuppattā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
“Indeed, my coming to the presence of the Buddha was a good coming. The three knowledges have been attained; the teaching of the Buddha has been done.”
“Quả thật, sự đến của tôi đã là sự khéo đến, sự đến gần đức Phật của tôi. Ba minh đã được chứng đắc, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
28.
28.
28.
‘‘Paṭisambhidā catasso, vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
“The four analytical knowledges, and these eight liberations, and the six higher knowledges have been realized; the teaching of the Buddha has been done.”
“Bốn Tuệ phân tích, và tám giải thoát này, sáu thắng trí đã được chứng ngộ, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā tissametteyyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Tissametteyya Thera spoke these verses.
Quả vậy, như thế đó, Đại đức Trưởng lão Tissametteyya đã nói những câu kệ này.
Tissametteyyattherassāpadānaṃ paṭhamaṃ.
The First Apadāna of the Elder Tissametteyya.
(Kinh) Thánh hạnh của trưởng lão Tissametteyya là phần thứ nhất.