Bản dịch
THA -ap402 — Ký Sự về Trưởng Lão Ajita
Ajitattheraapadāna
BJT 3856Sau khi đi sâu vào núi Hi-mã-lạp, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc thông suốt về tất cả các pháp, đấng Lãnh Đạo Thế Gian đã ngồi xuống.
BJT 3857Tôi đã không nhìn thấy bậc Toàn Giác (trước đây), và tôi cũng không được nghe lời đồn đãi. Khi ấy, tôi đi lang thang ở trong rừng, đang tìm kiếm thức ăn cho mình.
BJT 3858Ở tại nơi ấy, tôi đã nhìn thấy bậc Toàn Giác có ba mươi hai hảo tướng. Sau khi nhìn thấy, tôi đã có ý nghĩ rằng: “Người này có tên là gì nhỉ?”
BJT 3859Sau khi xem xét các tướng mạo, tôi đã tưởng nhớ lại vốn hiểu biết của mình; bởi vì điều này tôi đã được nghe các bậc trí tuệ cao niên giảng giải cặn kẽ.
BJT 3860(Tôi đã suy nghĩ rằng): “Theo như lời nói ấy của họ thì người này sẽ là đức Phật. Có lẽ ta nên tôn trọng thì số phận của ta sẽ được sáng sủa?”
BJT 3861Tôi đã mau chóng đi về lại khu ẩn cư và đã chọn lấy dầu của cây madhu. Tôi đã mang theo một hũ và đã đi đến gặp đấng Nhân Ngưu.
BJT 3862Tôi đã cầm lấy cái chạng ba và đã dựng lên ở ngoài trời. Tôi đã thắp sáng cây đèn và đã đảnh lễ tám lần.
BJT 3863Đức Phật, bậc Tối Thượng Nhân đã ngồi bảy ngày đêm. Sau đó, đấng Lãnh Đạo Thế Gian đã xuất thiền vào lúc cuối đêm.
BJT 3864Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã (trải qua) bảy ngày đêm. Được tịnh tín, tôi đã tự tay mình dâng cúng cây đèn đến đức Phật.
BJT 3865Khi ấy, do nhờ oai lực của đức Phật, tất cả các khu rừng được tạo bằng hương thơm, được thấm nhuần hương thơm ở ngọn núi, đã di chuyển đến gần đấng Chiến Thắng.
BJT 3866Các loài thảo mộc mọc ở trên đất thuộc loài có hoa có hương thơm thì đã được trổ hoa. Khi ấy, do nhờ oai lực của đức Phật, tất cả đã tụ hội lại.
BJT 3867Cho đến các loài rồng và các loài nhân điểu ở núi Hi-mã-lạp, có ý muốn nghe Giáo Pháp, cả hai loài ấy đã đi đến gần bên đức Phật.
BJT 3868Vị Sa-môn tên Devala là bậc Thinh Văn hàng đầu của đức Phật, cùng với một trăm ngàn vị có năng lực, đã đi đến gần bên đức Phật.
BJT 3869Đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, sau khi ngồi xuống ở Hội Chúng tỳ khưu, đã nói lên những lời kệ này:
BJT 3870“Người nào được tịnh tín, đã tự tay mình dâng cúng cây đèn đến Ta, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hãy lắng nghe Ta nói.
BJT 3871(Người ấy) sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên sáu mươi ngàn kiếp, và sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương một ngàn lần.
(Tụng phẩm thứ mười sáu).
BJT 3872(Người ấy) sẽ là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc ba mươi sáu lần, và sẽ cai trị vương quốc rộng lớn ở trái đất bảy trăm lần. Lãnh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.
BJT 3873Do sự dâng cúng cây đèn này, (người ấy) sẽ có Thiên nhãn. Người này sẽ luôn luôn nhìn thấy khoảng cách tám kosaở xung quanh.
BJT 3874Trong khi (người này) mệnh chung từ thế giới chư Thiên và đang đi tái sanh, sẽ có cây đèn được duy trì ban ngày luôn cả ban đêm (cho người này).
BJT 3875Khi con người có được nghiệp phước thiện đang được sanh ra, thành phố (ở nơi sanh ra) là rộng đến đâu thì sẽ được chói sáng đến đấy.
BJT 3876(Người này) đi tái sanh ở chốn nào, là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, chính nhờ tám phần quả báu về đèn của sự dâng cúng cây đèn này, sẽ không ai vượt trội con người này; điều này là quả báu của việc dâng cúng cây đèn.
BJT 3877Vào một trăm ngàn kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 3878Là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, (người này) sẽ biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc và sẽ Niết Bàn không còn lậu hoặc.
BJT 3879Sau khi đã làm vui lòng đấng Toàn Giác Gotama, bậc Cao Quý dòng Sakya, (người này) sẽ trở thành Thinh Văn của bậc Đạo Sư, có tên là Ajita.”
BJT 3880Tôi đã sướng vui ở thế giới chư Thiên sáu mươi ngàn kiếp. Ở tại nơi ấy, tôi cũng có một trăm cây đèn chói sáng vào mọi thời điểm.
BJT 3881Các ánh sáng của tôi tỏa ra cho dù ở thế giới chư Thiên hay là nhân loại. Sau khi tưởng nhớ đến đức Phật tối thượng, tôi đã khởi lên niềm vui dào dạt.
BJT 3882Sau khi mệnh chung từ cõi trời Đẩu Suất, tôi đã hạ sanh vào bụng mẹ. Trong khi tôi đang được sanh ra, đã có ánh sáng chan hòa.
BJT 3883Sau khi lìa khỏi nhà, tôi đã xuất gia vào đời sống không gia đình. Tôi đã đi đến gặp vị Bāvari và đã trở thành học trò (của vị ấy).
BJT 3884Trong khi sống ở núi Hi-mã-lạp, tôi đã nghe về đấng Lãnh Đạo Thế Gian. Trong lúc tầm cầu mục đích tối thượng, tôi đã đi đến gặp đấng Hướng Đạo.
BJT 3885Đức Phật là bậc đã được rèn luyện, là bậc giúp cho (người khác) rèn luyện, là bậc đã vượt qua dòng nước lũ, không còn mầm mống tái sanh. Đức Phật đã thuyết giảng về Niết Bàn, sự thoát khỏi tất cả khổ đau.
BJT 3886Việc đi đến ấy của tôi đã được thành công bởi vì bậc Đại Hiền Trí đã được vui lòng. Tôi đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật.
BJT 3887(Kể từ khi) tôi đã dâng cúng cây đèn trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng cây đèn.
BJT 3888Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch, tất cả các lậu hoặc đã được đoạn tận, tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 3889Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật vào thời hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 3890Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Ajita đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Phần Tóm Lược:
Vị Piḷindivaccha, vị Sela, vị Sabbakitti, vị dâng cúng mật ong, vị có ngôi nhà mái nhọn, vị Bakkula, vị Girimānanda, vị tên Salala, vị dâng cúng mọi thứ, và luôn cả vị Ajita; (tổng cộng) các câu kệ đã được tính đếm ở đây gồm có năm trăm câu kệ và hai mươi câu thêm vào đó nữa.
Phẩm Piḷindivaccha là phẩm thứ bốn mươi bốn.
Giờ là phần tóm lược của các phẩm:
Đóa sen hồng, luôn cả vị dâng cúng sự bảo vệ, bông hoa Ummā, cùng với vị dâng cúng vật thơm và nước, một đóa sen hồng, vị có sự suy tưởng về âm thanh, bông hoa mandārava, vị đảnh lễ cội Bồ Đề, trái cây avaṇṭa, và vị Piḷindivaccha; (tổng cộng) các câu kệ đã được tính đếm là một ngàn một trăm và bảy mươi bốn câu kệ.
Nhóm “Mười” từ phẩm Paduma.
Nhóm “Một Trăm” thứ tư được đầy đủ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Nāhaṃ addakkhiṃ † sambuddhaṃ, napi saddaṃ suṇomahaṃ;
Mama bhakkhaṃ gavesanto, āhiṇḍāmi vane ahaṃ †.
I had not seen the Sambuddha, nor had I heard his voice; seeking my food, I wandered in the forest.
Tôi đã không nhìn thấy bậc Chánh Đẳng Giác, tôi cũng không nghe được âm thanh (của ngài). Trong khi tìm kiếm thức ăn của mình, tôi đã đi lang thang trong rừng.
486.
486.
486.
‘‘Tatthaddassāsiṃ sambuddhaṃ, dvattiṃsavaralakkhaṇaṃ;
Disvāna vittimāpajjiṃ †, satto ko nāmayaṃ bhave.
There I saw the Sambuddha, endowed with the thirty-two excellent marks. Seeing him, I experienced joy, thinking, ‘What being might this be?’
Ở nơi ấy, tôi đã nhìn thấy bậc Chánh Đẳng Giác, người có ba mươi hai tướng tốt cao quý. Sau khi nhìn thấy, tôi đã đạt được sự vui mừng (và nghĩ rằng): ‘Chúng sanh này tên là gì nhỉ?’
487.
487.
487.
‘‘Lakkhaṇāni viloketvā, mama vijjaṃ anussariṃ;
Sutañhi metaṃ vuḍḍhānaṃ, paṇḍitānaṃ subhāsitaṃ.
Observing the marks, I recollected my knowledge, for I had heard this well-spoken word of wise elders.
Sau khi quan sát các tướng, tôi đã nhớ lại kiến thức của mình. Quả thật, tôi đã được nghe lời nói khéo này của các bậc trưởng thượng, các bậc hiền trí.
488.
488.
488.
‘‘Tesaṃ yathā taṃ vacanaṃ, ayaṃ buddho bhavissati;
Yaṃnūnāhaṃ sakkareyyaṃ, gatiṃ me sodhayissati.
Just as their word was, ‘This one will be a Buddha,’ surely I should honor him; he will purify my destiny.
Theo như lời nói ấy của các vị ấy, vị này sẽ là một vị Phật. Chắc chắn rằng tôi nên tôn kính vị ấy; vị ấy sẽ thanh lọc cảnh giới của tôi.
489.
489.
489.
‘‘Khippaṃ assamamāgantvā, madhutelaṃ gahiṃ ahaṃ;
Kolambakaṃ gahetvāna, upagacchiṃ vināyakaṃ †.
Quickly going to the hermitage, I took madhuka-oil; taking a pot, I approached the Guide.
Sau khi nhanh chóng đi đến am thất, tôi đã lấy dầu madhu. Sau khi cầm lấy cái bình, tôi đã đi đến gần bậc Lãnh Đạo.
490.
490.
490.
‘‘Tidaṇḍake gahetvāna, abbhokāse ṭhapesahaṃ;
Padīpaṃ pajjalitvāna, aṭṭhakkhattuṃ avandahaṃ.
Taking a three-legged stand, I placed it in the open air; having lit the lamp, I paid homage eight times.
Sau khi lấy cái giá ba chân, tôi đã đặt nó ở ngoài trời. Sau khi thắp sáng ngọn đèn, tôi đã đảnh lễ tám lần.
491.
491.
491.
‘‘Sattarattindivaṃ buddho, nisīdi purisuttamo;
Tato ratyā vivasāne, vuṭṭhāsi lokanāyako.
For seven days and nights the Buddha, the supreme among men, sat. Then, at the end of the night, the Leader of the World arose.
Trong bảy ngày bảy đêm, đức Phật, bậc Tối Thượng Nhân, đã ngồi. Sau đó, vào lúc đêm tàn, vị Lãnh Đạo thế gian đã đứng dậy.
492.
492.
492.
‘‘Pasannacitto sumano, sabbarattindivaṃ ahaṃ;
Dīpaṃ buddhassa pādāsiṃ, pasanno sehi pāṇibhi.
With a serene mind and gladdened heart, for seven days and nights, I, being serene, offered a lamp to the Buddha with my own hands.
Với tâm tịnh tín và hoan hỷ, trong suốt các ngày đêm, tôi đã dâng cúng ngọn đèn đến đức Phật, với lòng tịnh tín, bằng chính đôi tay của mình.
493.
493.
493.
‘‘Sabbe vanā gandhamayā, pabbate gandhamādane;
Buddhassa ānubhāvena, āgacchuṃ buddhasantikaṃ †.
On the mountain Gandhamādana, all the forests were made of fragrance; by the Buddha’s power, they came into the Buddha's presence.
Tất cả các khu rừng đầy hương thơm ở trên núi Gandhamādana, nhờ vào oai lực của đức Phật, đã đi đến sự hiện diện của đức Phật.
494.
494.
494.
‘‘Ye keci pupphagandhāse, pupphitā dharaṇīruhā;
Buddhassa ānubhāvena, sabbe sannipatuṃ tadā.
All the flowering trees that grow from the earth, bearing the scent of their blossoms—by the Buddha's power, they all gathered together then.
Bất cứ cây cối nào đang trổ hoa, mang theo hương thơm của hoa, nhờ vào oai lực của đức Phật, tất cả đã tụ hội lại vào lúc ấy.
495.
495.
495.
‘‘Yāvatā himavantamhi, nāgā ca garuḷā ubho;
Dhammañca sotukāmā te, āgacchuṃ buddhasantikaṃ.
All the nāgas and garuḷas in the Himālaya, both kinds, desiring to hear the Dhamma, came into the Buddha’s presence.
Bao nhiêu là loài rồng và loài garuḷā ở Hy-mã-lạp sơn, cả hai loài ấy, do mong muốn được nghe Pháp, đã đi đến sự hiện diện của đức Phật.
496.
496.
496.
‘‘Devalo nāma samaṇo, buddhassa aggasāvako;
Vasīsatasahassehi, buddhasantikupāgami.
The ascetic named Devala, the Buddha’s chief disciple, with a hundred thousand masters of themselves, approached the Buddha’s presence.
Vị Sa-môn tên là Devala, vị Thượng Thủ Thinh Văn của đức Phật, cùng với một trăm ngàn vị đã làm chủ (các căn), đã đi đến sự hiện diện của đức Phật.
497.
497.
497.
‘‘Padumuttaro lokavidū, āhutīnaṃ paṭiggaho;
Bhikkhusaṅghe nisīditvā, imā gāthā abhāsatha.
Padumuttara, the Knower of Worlds, worthy recipient of offerings, having sat down in the midst of the Saṅgha of bhikkhus, spoke these verses:
Đức Padumuttara, bậc Thế Gian Giải, bậc đáng nhận các vật cúng dường, sau khi ngồi xuống giữa Tăng chúng Tỳ khưu, đã nói lên những câu kệ này.
498.
498.
498.
‘‘‘Yo me dīpaṃ padīpesi, pasanno sehi pāṇibhi;
Tamahaṃ kittayissāmi, suṇātha mama bhāsato.
‘He who, being serene, offered a lamp to me with his own hands, I shall extol him. Listen to me as I speak.
‘Vị nào đã dâng cúng ngọn đèn đến ta, với lòng tịnh tín, bằng chính đôi tay của mình, ta sẽ tán dương vị ấy. Các ngươi hãy lắng nghe lời ta nói.’
499.
499.
499.
‘‘‘Saṭṭhi kappasahassāni, devaloke ramissati;
Sahassakkhattuṃ rājā ca, cakkavattī bhavissati.
‘For sixty thousand aeons, he will delight in the deva world. A thousand times he will be a king, a wheel-turning monarch.
‘Trong sáu mươi ngàn kiếp, vị ấy sẽ vui hưởng ở cõi trời. Và một ngàn lần, vị ấy sẽ là vị vua Chuyển Luân.’
Soḷasamaṃ bhāṇavāraṃ.
The Sixteenth Recitation Section.
Phẩm Tụng thứ mười sáu.
500.
500.
500.
‘‘‘Chattisakkhattuṃ devindo, devarajjaṃ karissati;
Pathaviyaṃ sattasataṃ, vipulaṃ rajjaṃ karissati.
‘Thirty-six times as lord of the devas, he will exercise kingship over the devas; on earth, seven hundred times he will exercise vast kingship.
‘Ba mươi sáu lần, vị ấy sẽ làm vua cõi trời, cai trị vương quốc của chư thiên. Ở trên mặt đất, bảy trăm lần, vị ấy sẽ cai trị vương quốc rộng lớn.’
501.
501.
501.
‘‘‘Padesarajjaṃ vipulaṃ, gaṇanāto asaṅkhiyaṃ;
Iminā dīpadānena, dibbacakkhu bhavissati.
‘Vast regional kingship, uncountable by calculation; by this lamp offering, the divine eye will come to be.
‘(Còn) vương quốc địa phương rộng lớn thì không thể đếm được bằng cách tính toán. Do việc cúng dường ngọn đèn này, thiên nhãn sẽ phát sanh (đến vị ấy).’
502.
502.
502.
‘‘‘Samantato aṭṭhakosaṃ †, passissati ayaṃ sadā;
Devalokā cavantassa, nibbattantassa jantuno.
‘For eight kosas all around, this one will always see a being passing away from the deva world and being reborn.
‘Chúng sanh này, khi mệnh chung từ cõi trời và khi tái sanh, sẽ luôn luôn nhìn thấy (mọi vật) trong phạm vi tám do tuần ở xung quanh.
503.
503.
503.
‘‘‘Divā vā yadi vā rattiṃ, padīpaṃ dhārayissati;
Jāyamānassa sattassa, puññakammasamaṅgino.
‘Whether by day or by night, a lamp will be held for a being who is being born, one endowed with meritorious kamma.
‘Đối với chúng sanh có đầy đủ phước nghiệp, khi đang được sanh ra, ngọn đèn sẽ được duy trì hoặc ban ngày hoặc ban đêm.
504.
504.
504.
‘‘‘Yāvatā nagaraṃ āsi, tāvatā jotayissati;
Upapajjati yaṃ yoniṃ, devattaṃ atha mānusaṃ.
‘In whatever existence he is reborn, whether divine or human, a light will shine as far as the city extends.
‘Dầu sanh vào cảnh giới nào, hoặc là chư Thiên hoặc là loài người, (ánh sáng) sẽ chiếu rọi trong phạm vi rộng lớn như thành phố.
505.
505.
505.
‘‘‘Asseva dīpadānassa, † aṭṭhadīpaphalena hi;
Na jayissantimaṃ jantū †, dīpadānassidaṃ phalaṃ.
‘By the fruit of this very lamp offering, the fruit of light in the eight directions, beings will not conquer this one. This is the fruit of the lamp offering.
‘Do quả báo của việc cúng dường ngọn đèn này, quả báo của việc chiếu sáng tám phương, các chúng sanh khác sẽ không thể chiến thắng được người này. Đây là quả báo của việc cúng dường đèn.
506.
506.
506.
‘‘‘Kappasatasahassamhi, okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena, satthā loke bhavissati.
‘In a hundred thousand aeons, born in the Okkāka clan, a Teacher named Gotama by clan name will be in the world.
‘Trong một trăm ngàn kiếp nữa, vị Đạo Sư sanh trong dòng dõi Okkāka, có danh xưng là Gotama, sẽ xuất hiện ở thế gian.
507.
507.
507.
‘‘‘Tassa dhammesu dāyādo, oraso dhammanimmito;
Sabbāsave pariññāya, nibbāyissatināsavo.
‘An heir to his Dhamma, a legitimate son created by the Dhamma, having fully understood all taints, he will, being taintless, attain Nibbāna.
‘Vị ấy sẽ là người thừa tự trong Giáo Pháp của đức Phật ấy, là người con đích thực do Pháp tạo ra. Sau khi liễu tri tất cả các lậu hoặc, vị ấy sẽ trở thành bậc vô lậu và sẽ nhập Niết Bàn.
508.
508.
508.
‘‘‘Tosayitvāna sambuddhaṃ, gotamaṃ sakyapuṅgavaṃ;
Ajito nāma nāmena, hessati satthu sāvako’.
‘Having pleased the Sambuddha, Gotama, the bull of the Sakyans, he will be a disciple of the Teacher by the name of Ajita.’
‘Sau khi làm cho đức Chánh Đẳng Giác Gotama, bậc Tối Thắng của dòng dõi Sakya, được hài lòng, vị ấy sẽ trở thành vị Thinh Văn của đức Đạo Sư, với danh hiệu là Ajita.’
509.
509.
509.
‘‘Saṭṭhi kappasahassāni, devaloke ramiṃ ahaṃ;
Tatrāpi me dīpasataṃ, jotate niccakālikaṃ †.
For sixty thousand aeons, I delighted in the deva world; there also, a hundred lamps shone constantly for me.
Trong sáu mươi ngàn kiếp, tôi đã hưởng lạc ở cõi trời. Ngay tại nơi ấy, một trăm ngọn đèn đã luôn luôn chiếu sáng cho tôi.
510.
510.
510.
‘‘Devaloke manusse vā, niddhāvanti pabhā mama;
Buddhaseṭṭhaṃ saritvāna, bhiyyo hāsaṃ janesahaṃ.
In the deva world or among humans, my radiances stream forth. Remembering the best of Buddhas, I generated even greater joy.
Dầu ở cõi trời hay cõi người, ánh quang của tôi vẫn tỏa chiếu. Khi tưởng nhớ đến đức Phật Tối Thắng, tôi đã phát sanh niềm hân hoan to lớn.
511.
511.
511.
‘‘Tusitāhaṃ cavitvāna, okkamiṃ mātukucchiyaṃ;
Jāyamānassa santassa, āloko vipulo ahu.
Having passed away from the Tusita realm, I descended into my mother’s womb; as I was being born, a vast light arose.
Sau khi mệnh chung từ cõi trời Tusita, tôi đã nhập vào thai mẹ. Khi tôi đang được sanh ra, một ánh sáng rộng lớn đã hiện khởi.
512.
512.
512.
‘‘Agārā abhinikkhamma, pabbajiṃ anagāriyaṃ;
Bāvariṃ upasaṅkamma, sissattaṃ ajjhupāgamiṃ.
Having gone forth from home, I went forth into homelessness; approaching Bāvarī, I undertook discipleship.
Từ bỏ đời sống gia đình, tôi đã xuất gia sống đời không nhà cửa. Sau khi đến gần vị (đạo sĩ) Bāvari, tôi đã trở thành đệ tử của ngài.
513.
513.
513.
‘‘Himavante vasantohaṃ, assosiṃ lokanāyakaṃ;
Uttamatthaṃ gavesanto, upagacchiṃ vināyakaṃ.
Dwelling in the Himālaya, I heard of the World-Leader; seeking the highest goal, I approached the Guide.
Trong khi đang sống ở Hy-mã-lạp, tôi đã được nghe về bậc Lãnh Đạo thế gian. Trong khi tìm cầu mục đích tối thượng, tôi đã đến gần bậc Dẫn Lộ.
514.
514.
514.
‘‘Danto buddho dametāvī, oghatiṇṇo nirūpadhi;
Nibbānaṃ kathayī buddho, sabbadukkhappamocanaṃ.
The tamed Buddha is a tamer, has crossed the flood, and is without attachments. The Buddha taught Nibbāna, the release from all suffering.
Đức Phật là bậc đã được điều phục, là bậc huấn luyện, là bậc đã vượt qua bộc lưu, là bậc không còn chấp thủ. Đức Phật đã thuyết giảng về Niết Bàn, sự giải thoát khỏi mọi khổ đau.
515.
515.
515.
‘‘Taṃ me āgamanaṃ siddhaṃ, tositohaṃ mahāmuniṃ;
Tisso vijjā anuppattā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
That coming of mine was a success; I have pleased the Great Sage. The three knowledges have been attained; the Buddha’s teaching has been done.
Việc đến đây của tôi đã được thành tựu, tôi đã làm cho bậc Đại Mâu-ni được hài lòng. Tam minh đã được chứng đắc, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
516.
516.
516.
‘‘Satasahassito kappe, yaṃ dīpamadadiṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, dīpadānassidaṃ phalaṃ.
A hundred thousand aeons ago, when I gave that lamp, I have known no woeful state since that time. This is the fruit of the lamp offering.
Kể từ một trăm ngàn kiếp trước, khi tôi đã cúng dường ngọn đèn ấy, tôi không còn biết đến khổ cảnh. Đây là quả báo của việc cúng dường đèn.
517.
517.
517.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
My defilements are burned up… I dwell taintless.
Các phiền não của tôi đã được đốt sạch... (tất cả các hữu đã được nhổ sạch. Giống như con voi đực phá vỡ các xiềng xích,) tôi sống không còn lậu hoặc.
518.
518.
518.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Indeed, my coming was a good one… the Buddha’s teaching has been done.
Thật vậy, sự đến của tôi đã là thiện lai... (trước sự hiện diện của đức Phật. Tam minh đã được chứng đắc,) lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
519.
519.
519.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges… the Buddha’s teaching has been done.
Bốn Tuệ Phân Tích... (tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được chứng ngộ,) lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā ajito thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Ajita spoke these verses.
Quả thật, trưởng lão Ajita đã nói những câu kệ này như thế.
Ajitattherassāpadānaṃ dasamaṃ.
The Tenth Apadāna of the Elder Ajita.
(Ký sự về) trưởng lão Ajita, (phẩm) thứ mười.
Pilindavacchavaggo cattālīsamo.
The Pilindavaccha Chapter, the Fortieth.
Phẩm Pilindavaccha, (phẩm) thứ bốn mươi.
Tassuddānaṃ –
The summary verse thereof:
Tóm lược của phẩm ấy:
Pilindavaccho selo ca, sabbakittī madhuṃdado;
Kūṭāgārī bākulo ca, giri saḷalasavhayo.
Pilindavaccha, Sela, Sabbakitti, Madhuṃdada, Kūṭāgārī, Bākula, Giri, and Saḷalasavhaya.
Pilindavaccha, và Sela, Sabbakitti, Madhuṃdada, Kūṭāgārī, và Bākula, Giri, (và) vị có tên là Saḷala.
Sabbado ajito ceva, gāthāyo gaṇitā iha;
Satāni pañca gāthānaṃ, vīsati ca taduttarīti.
Sabbadāyaka and Ajita as well. Here the verses are counted: five hundred verses, and twenty more than that.
Sabbada và cả Ajita. Các câu kệ được tính ở đây là năm trăm hai mươi câu kệ và còn nhiều hơn nữa.
Atha vagguddānaṃ –
Now, the chapter summary:
Kế đến là phần tóm lược các phẩm:
Padumārakkhado ceva, umā gandhodakena ca;
Ekapadma saddasaññī, mandāraṃ bodhivandako.
Padumārakkhada, Umā, Gandhodaka, Ekapaduma, Saddasaññī, Mandāra, and Bodhivandaka.
Paduma và Arakkhada, Umā và Gandhodaka, Ekapaduma, Saddasaññī, Mandāra, Bodhivandako.
Avaṭañca pilindi † ca, gāthāyo gaṇitā iha;
Catusattati gāthāyo, ekādasa satāni ca.
Avaṭa and Pilinda. Here the verses are counted: one thousand, one hundred, and seventy-four verses.
Avaṭa và Pilindi. Các câu kệ được tính ở đây là một ngàn một trăm bảy mươi bốn câu kệ.
The Ten of the Paduma Chapter.
Mười phẩm (bắt đầu bằng) phẩm Paduma.
Catutthasatakaṃ samattaṃ.
The Fourth Century is completed.
(Tập) một trăm thứ tư đã hoàn tất.