Bản dịch
THA -ap40 — Ký Sự về Trưởng Lão Āyāgadāyaka
8 Āyāgadāyakattheraapadāna
BJT 1096Khi đấng Bảo Hộ Thế Gian Sikhī, bậc cao quý trong số các vị đang thuyết giảng, đã Niết Bàn, tôi đã trở nên mừng rỡ, với tâm mừng rỡ tôi đã đảnh lễ ngôi bảo tháp tối thượng.
BJT 1097Khi ấy, sau khi thảo luận với những người thợ mộc, tôi đã dâng cúng phần tài chánh. Tôi đã trở nên mừng rỡ, với tâm mừng rỡ tôi đã cho xây dựng ngôi sảnh đường dài.
BJT 1098Tôi đã sống ở giữa chư Thiên tám kiếp không bị gián đoạn. Trong các kiếp còn lại, tôi đã luân hồi xen kẽ (giữa cõi trời và cõi người).
BJT 1099Chất độc không ngấm vào cơ thể, các loại vũ khí không hãm hại được tôi, tôi không bị chết đuối ở trong nước; điều này là quả báu của ngôi sảnh đường dài.
BJT 1100Nếu tôi ao ước cơn mưa thì có đám mây lớn đổ mưa xuống, ngay cả chư Thiên cũng chịu sự điều khiển của tôi; điều này là quả báu của nghiệp phước thiện.
BJT 1101Tôi đã là (đấng Chuyển Luân Vương) được thành tựu bảy loại châu báu ba mươi lần, không người nào chê bai tôi; điều này là quả báu của nghiệp phước thiện.
BJT 1102(Kể từ khi) tôi đã cho thực hiện ngôi sảnh đường dài trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của ngôi sảnh đường dài.
BJT 1103Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Āyāgadāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Āyāgadāyaka là phần thứ tám.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
8. Āyāgadāyakattheraapadānaṃ
8. The Apadāna of the Elder Āyāgadāyaka
8. Thánh nhân ký sự của trưởng lão Āyāgadāyaka
94.
94.
94.
‘‘Nibbute lokanāthamhi, sikhimhi vadataṃ vare;
Haṭṭho haṭṭhena cittena, avandiṃ thūpamuttamaṃ.
When the Protector of the World, Sikhī, the foremost of speakers, had attained Nibbāna, joyful, with a joyful mind, I venerated the supreme stūpa.
Khi đấng Lãnh Đạo Thế Gian Sikhī, bậc Tối Thắng giữa những người thuyết giảng, đã nhập Niết-bàn, ta đã hoan hỷ, với tâm hoan hỷ, đảnh lễ bảo tháp tối thượng.
95.
95.
95.
‘‘Vaḍḍhakīhi kathāpetvā, mūlaṃ datvānahaṃ tadā;
Haṭṭho haṭṭhena cittena, āyāgaṃ kārapesahaṃ.
Having had carpenters instructed and having given payment then, joyful, with a joyful mind, I had a long hall built.
Vào lúc ấy, sau khi đã cho các người thợ mộc định giá và đã trả tiền công, ta đã hoan hỷ, với tâm hoan hỷ, cho xây dựng một ngôi giảng đường.
96.
96.
96.
‘‘Aṭṭha kappāni devesu, abbokiṇṇaṃ † vasiṃ ahaṃ;
Avasesesu kappesu, vokiṇṇaṃ saṃsariṃ ahaṃ.
For eight aeons I lived among the devas, unmixed with human existence; in the remaining aeons, I wandered in saṃsāra in a mixed state.
Trong tám đại kiếp, ta đã sống ở cõi chư Thiên, không bị xen lẫn (với cõi người). Trong các đại kiếp còn lại, ta đã luân hồi trong sự xen lẫn (giữa hai cõi).
97.
97.
97.
‘‘Kāye visaṃ na kamati, satthāni na ca hanti me;
Udakehaṃ na miyyāmi, āyāgassa idaṃ phalaṃ.
Poison does not affect my body, and weapons do not strike me; I do not die in water—this is the fruit of the long hall.
Chất độc không xâm nhập vào thân của ta, các loại vũ khí không làm hại được ta. Ta không bị chết đuối. Đây là quả của (việc cúng dường) ngôi giảng đường.
98.
98.
98.
‘‘Yadicchāmi ahaṃ vassaṃ, mahāmegho pavassati;
Devāpi me vasaṃ enti, puññakammassidaṃ phalaṃ.
If I wish for rain, a great cloud rains down; even the devas come under my control—this is the fruit of meritorious kamma.
Nếu ta muốn mưa, một đám mây lớn sẽ trút mưa xuống. Ngay cả chư Thiên cũng thuận theo ý muốn của ta. Đây là quả của nghiệp phước thiện.
99.
99.
99.
‘‘Sattaratanasampanno, tisakkhattuṃ ahosahaṃ;
Na maṃ kecāvajānanti, puññakammassidaṃ phalaṃ.
Endowed with the seven jewels, I was a wheel-turning monarch thirty times; no one disrespects me—this is the fruit of meritorious kamma.
Ta đã là vị vua được trang bị bảy báu vật trong ba mươi lần. Không một ai xem thường ta. Đây là quả của nghiệp phước thiện.
100.
100.
100.
‘‘Ekattiṃse ito kappe, āyāgaṃ yamakārayiṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, āyāgassa idaṃ phalaṃ.
Thirty-one aeons ago from this one, because of the long hall I had made, I have not known a woeful state; this is the fruit of the long hall.
Kể từ đại kiếp thứ ba mươi mốt tính từ đây, ta đã cho xây dựng ngôi giảng đường nào, (kể từ đó) ta không còn biết đến đường ác thú. Đây là quả của (việc cúng dường) ngôi giảng đường.
101.
101.
101.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges… and so forth… the Buddha’s Dispensation has been fulfilled.’
Bốn Tuệ phân tích ... (như trên) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā āyāgadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus the Venerable Elder Āyāgadāyaka spoke these verses.
Thật vậy, trưởng lão Āyāgadāyaka đã nói những câu kệ này như thế.
Āyāgadāyakattherassāpadānaṃ aṭṭhamaṃ.
The Eighth Apadāna of the Elder Āyāgadāyaka.
Thánh nhân ký sự của trưởng lão Āyāgadāyaka, câu chuyện thứ tám.