Bản dịch
THA -ap39 — Ký Sự về Trưởng Lão Lasuṇadāyaka
Lasuṇadāyakattheraapadāna
BJT 1091Lúc bấy giờ, tôi đã là vị đạo sĩ khổ hạnh ở không xa núi Hi-mã-lạp. Tôi sống bằng củ tỏi, củ tỏi là thực phẩm của tôi.
BJT 1092Tôi đã chất (tỏi) đầy các túi xách rồi đã đi đến tu viện dành cho Hội Chúng. Được mừng rỡ, tôi đã dâng cúng củ tỏi đến Hội Chúng với tâm mừng rỡ.
BJT 1093Sau khi dâng cúng củ tỏi đến Hội Chúng đã được thỏa thích trong Giáo Pháp của bậc Tối Thượng Nhân Vipassī, tôi đã sướng vui ở cõi trời một kiếp.
BJT 1094Kể từ khi tôi đã dâng cúng củ tỏi trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của các củ tỏi.
BJT 1095Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Lasuṇadāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Lasuṇadāyaka là phần thứ bảy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
7. Lasuṇadāyakattheraapadānaṃ
7. The Apadāna of the Elder Lasuṇadāyaka
7. Thánh tích của Trưởng lão Lasuṇadāyaka
89.
89.
89.
‘‘Himavantassāvidūre, tāpaso āsahaṃ tadā;
Lasuṇaṃ upajīvāmi, lasuṇaṃ mayhabhojanaṃ.
Not far from the Himavanta, I was an ascetic at that time. I subsisted on garlic; garlic was my food.
Khi ấy, ở nơi không xa dãy Hy-mã-lạp, tôi đã là vị tu khổ hạnh. Tôi sinh sống bằng tỏi, tỏi là vật thực của tôi.
90.
90.
90.
‘‘Khāriyo pūrayitvāna, saṅghārāmamagacchahaṃ;
Haṭṭho haṭṭhena cittena, saṅghassa lasuṇaṃ adaṃ.
Having filled baskets, I went to the Saṅgha’s monastery. Joyful, with a joyful mind, I gave garlic to the Saṅgha.
Sau khi làm cho đầy các giỏ, tôi đã đi đến tu viện của chư Tăng. Tôi hoan hỷ, với tâm hoan hỷ, tôi đã dâng tỏi đến chư Tăng.
91.
91.
91.
‘‘Vipassissa naraggassa, sāsane niratassahaṃ;
Saṅghassa lasuṇaṃ datvā, kappaṃ saggamhi modahaṃ.
Having given garlic to the Saṅgha, who were devoted to the Dispensation of Vipassī, the foremost of men, I rejoiced in heaven for an aeon.
Ta đã dâng cúng tỏi đến chư Tăng, là những vị hoan hỷ trong giáo Pháp của đấng Vipassī, bậc Tối Thắng giữa loài người. (Do quả ấy), ta đã hoan hỷ ở cõi trời trong một đại kiếp.
92.
92.
92.
‘‘Ekanavutito kappe, lasuṇaṃ yamadaṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, lasuṇassa idaṃ phalaṃ.
Ninety-one aeons ago from this one, because of the garlic I gave then, I have not known a woeful state; this is the fruit of the garlic.
Kể từ đại kiếp thứ chín mươi mốt tính từ đây, vào lúc ấy ta đã dâng cúng tỏi nào, (kể từ đó) ta không còn biết đến đường ác thú. Đây là quả của (việc cúng dường) tỏi.
93.
93.
93.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā lasuṇadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti;
The four analytical knowledges… and so forth… the Buddha’s Dispensation has been fulfilled.’ Thus the Venerable Elder Lasuṇadāyaka spoke these verses.
Bốn Tuệ phân tích ... (như trên) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành. Thật vậy, trưởng lão Lasuṇadāyaka đã nói những câu kệ này như thế.
Lasuṇadāyakattherassāpadānaṃ sattamaṃ.
The Seventh Apadāna of the Elder Lasuṇadāyaka.
Thánh nhân ký sự của trưởng lão Lasuṇadāyaka, câu chuyện thứ bảy.