Bản dịch
THA -ap399 — Ký Sự về Trưởng Lão Girimānanda
Girimānandattheraapadāna
BJT 3791Người vợ của tôi đã qua đời. Con trai tôi (đã chết) được đưa đến bãi tha ma. Mẹ, cha, và anh trai (của tôi đang) được thiêu chung một giàn hỏa thiêu.
BJT 3792Bị nung nấu bởi nỗi sầu muộn ấy, tôi đã trở nên gầy ốm, vàng vọt. Bị dày vò bởi nỗi sầu muộn ấy, tôi đã có sự rối loạn tâm trí.
BJT 3793Bị khổ sở bởi mũi tên sầu muộn, tôi đã đi vào bên trong khu rừng. Tôi ăn trái cây đã được rụng xuống và cư ngụ ở gốc cây.
BJT 3794Đấng Toàn Giác tên Sumedha, bậc Đoạn Tận khổ đau, đấng Chiến Thắng, có ý định tiếp độ tôi, Ngài đã đi đến gần chỗ của tôi.
BJT 3795Nghe được tiếng bước chân của bậc Đại Ẩn Sĩ Sumedha, tôi đã ngửng đầu lên, ngước nhìn bậc Đại Hiền Trí.
BJT 3796Đấng Đại Hùng đã ngự đến, niềm phỉ lạc đã sanh khởi ở tôi. Sau khi nhìn thấy đấng Lãnh Đạo Thế Gian ấy, khi ấy tâm trí của tôi đã được tập trung lại.
BJT 3797Sau khi đạt được niệm trở lại, tôi đã dâng cúng nắm lá cây. Đức Thế Tôn, bậc Hữu Nhãn, vì lòng thương tưởng đã ngồi xuống ở tại nơi ấy.
BJT 3798Sau khi ngồi xuống ở tại nơi ấy, đức Thế Tôn, đấng Lãnh Đạo Thế Gian Sumedha đã thuyết giảng Giáo Pháp xua đi mũi tên sầu muộn cho tôi rằng:
BJT 3799“Không được mời mọc, từ nơi ấy họ đã đi đến. Không được cho phép, từ nơi đây họ đã ra đi. Họ đã đi đến như thế nào thì họ đã ra đi như thế ấy; có sự than vãn gì trong trường hợp ấy?
BJT 3800Cũng giống như những người bộ hành vào lúc cơn mưa đang đổ xuống, do việc đổ xuống của cơn mưa, họ đi đến chỗ có sự tốt đẹp (để trú mưa).
BJT 3801Và khi cơn mưa đã tạnh, họ tự động ra đi theo như ý thích. Mẹ và cha của ngươi là tương tợ như thế; có sự than vãn gì trong trường hợp ấy?
BJT 3802Các người lữ hành là những người khách có tính chất dao động, chuyển động, rung động, mẹ và cha của ngươi là tương tợ như thế; có sự than vãn gì trong trường hợp ấy?
BJT 3803Cũng giống như loài rắn quăng bỏ lớp da già cỗi rồi đi đến lớp da (mới), tương tợ như thế mẹ và cha của ngươi đã bỏ lại xác thân ở nơi đây.”
BJT 3804Hiểu được lời nói của đức Phật, tôi đã lìa bỏ mũi tên sầu muộn. Sau khi làm cho sanh khởi niềm hưng phấn, tôi đã đảnh lễ đức Phật tối thượng.
BJT 3805Sau khi đã đảnh lễ bậc Long Tượng, tôi đã cúng dường bó hoa giri có được hương thơm của cõi trời đến đấng Lãnh Đạo Thế Gian Sumedha.
BJT 3806Sau khi cúng dường bậc Toàn Giác, tôi đã chắp tay lên ở đầu. Trong lúc tưởng nhớ đến các đức hạnh cao cả, tôi đã ngợi ca đấng Lãnh Đạo Thế Gian rằng:
BJT 3807“Bạch đấng Đại Hùng, bậc Toàn Tri, đấng Lãnh Đạo Thế Gian, Ngài đã vượt qua. Bạch đấng Đại Hiền Trí, Ngài tiếp độ tất cả chúng sanh bằng trí tuệ.
BJT 3808Bạch đấng Đại Hiền Trí, Ngài đã cắt đứt sự hoài nghi cũng như sự lưỡng lự. Bạch đấng Hữu Nhãn, Ngài đã sắp xếp Đạo Lộ cho con bằng trí tuệ của Ngài.
BJT 3809Các bậc A-la-hán đã đạt đến sự thành tựu, có sáu thắng trí, có đại thần lực, là các bậc trí tuệ có sự du hành ở không trung ngay lập tức tháp tùng theo.
BJT 3810Có các vị Thinh Văn là các bậc Hữu Học đang thực hành và có các bậc đã trú vào Quả vị A-la-hán. Các vị Thinh Văn của Ngài nở rộ như đóa sen hồng vào lúc mặt trời mọc.
BJT 3811Bạch đấng Hữu Nhãn, giống như đại dương là không bị suy suyển, không thể ước lượng, khó mà vượt qua, tương tợ như vậy, được hội đủ về trí tuệ Ngài là bậc vô lượng.”
BJT 3812Sau khi đảnh lễ đấng Chiến Thắng của thế gian, bậc Hữu Nhãn có danh vọng lớn lao, trong khi lễ bái các phương tôi đã cúi mình ra đi.
BJT 3813Sau khi mệnh chung từ thế giới chư Thiên, trong khi luân chuyển ở cõi này cõi khác, tôi đã hạ sanh vào bụng mẹ, có sự nhận biết, có niệm.
BJT 3814Sau khi lìa khỏi nhà, tôi đã xuất gia vào đời sống không gia đình. Tôi có sự nhiệt tâm, cẩn trọng, chứng thiền, có sự yên tịnh là hành xứ.
BJT 3815Sau khi đã khẳng quyết về sự nỗ lực, sau khi đã làm vui lòng bậc Đại Hiền Trí, tôi thường xuyên đi đó đây, tợ như mặt trăng đã được thoát khỏi đám mây dày đặc.
BJT 3816Tôi gắn bó với sự độc cư, được an tịnh, không còn mầm mống tái sanh. Sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 3817(Kể từ khi) tôi đã cúng dường đức Phật (trước đây) ba mươi ngàn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 3818Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch, tất cả các lậu hoặc đã được đoạn tận, giờ đây không còn tái sanh nữa.
BJT 3819Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật vào thời hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 3820Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Girimānanda đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
7. Girimānandattheraapadānaṃ
7. The Apadāna of Elder Girimānanda
7. Phẩm truyện về trưởng lão Girimānanda.
419.
419.
419.
‘‘Bhariyā me kālaṅkatā, putto sīvathikaṃ gato;
Mātā pitā matā bhātā, ekacitamhi † ḍayhare.
“My wife has died, my son has gone to the charnel ground; my mother, father, and brother have died—they are burned on a single pyre.
Vợ của tôi đã qua đời, con trai đã đi đến nghĩa địa. Mẹ, cha, và anh em đã chết, đang được thiêu đốt trên cùng một giàn hỏa.
420.
420.
420.
‘‘Tena sokena santatto, kiso paṇḍu ahosahaṃ;
Cittakkhepo ca me āsi, tena sokena aṭṭito.
“Scorched by that sorrow, I became lean and pale; I was afflicted by that sorrow, and my mind became deranged.
Bị thiêu đốt bởi nỗi sầu muộn ấy, tôi đã trở nên gầy gò, xanh xao. Do bị áp bức bởi nỗi sầu muộn ấy, sự rối loạn tâm trí cũng đã phát sanh đến tôi.
421.
421.
421.
‘‘Sokasallaparetohaṃ, vanantamupasaṅkamiṃ;
Pavattaphalaṃ bhuñjitvā, rukkhamūle vasāmahaṃ.
“Overcome by the dart of sorrow, I went into the forest; eating naturally-occurring fruit, I lived at the foot of a tree.”
Bị mũi tên sầu muộn đâm phải, tôi đã đi vào trong rừng. Sau khi ăn các trái cây tự rụng, tôi sống ở dưới gốc cây.
422.
422.
422.
‘‘Sumedho nāma sambuddho, dukkhassantakaro jino;
Mamuddharitukāmo so, āgañchi mama santikaṃ.
“The Fully Enlightened One named Sumedha, the ender of suffering, the Conqueror, desiring to uplift me, came to my presence.
Bậc Chánh Đẳng Giác tên là Sumedha, vị chiến thắng làm cho sự khổ chấm dứt; vị ấy vì mong muốn cứu vớt tôi, đã ngự đến gần tôi.
423.
423.
423.
‘‘Padasaddaṃ suṇitvāna, sumedhassa mahesino;
Paggahetvānahaṃ sīsaṃ, ullokesiṃ mahāmuniṃ.
“Having heard the sound of the footsteps of Sumedha, the great sage, I raised my head and looked up at the Great Sage.
Sau khi nghe tiếng bước chân của bậc Đại Sĩ Sumedha, tôi đã ngẩng đầu lên, đã nhìn lên bậc Đại Mâu-ni.
424.
424.
424.
‘‘Upāgate mahāvīre, pīti me udapajjatha;
Tadāsimekaggamano, disvā taṃ lokanāyakaṃ.
“When the Great Hero had approached, joy arose in me; then, seeing that Leader of the World, my mind became one-pointed.
Khi bậc Đại Hùng đến gần, hỷ lạc đã phát sanh nơi tôi; khi ấy, sau khi thấy vị Lãnh Đạo Thế Gian ấy, tôi đã có được tâm chuyên nhất.
425.
425.
425.
‘‘Satiṃ paṭilabhitvāna, paṇṇamuṭṭhimadāsahaṃ;
Nisīdi bhagavā tattha, anukampāya cakkhumā.
“Having regained mindfulness, I gave a handful of leaves; the Blessed One, the One with Vision, sat there out of compassion.
Sau khi có được lại chánh niệm, tôi đã dâng cúng một nắm lá; Đức Thế Tôn, bậc có Mắt (trí tuệ), với lòng bi mẫn, đã ngự ngồi tại nơi ấy.
426.
426.
426.
‘‘Nisajja tattha bhagavā, sumedho lokanāyako;
Dhammaṃ me kathayī buddho, sokasallavinodanaṃ.
“Having sat there, the Blessed One Sumedha, the Leader of the World, the Buddha, taught me the Dhamma that removes the dart of sorrow.
Sau khi ngự ngồi tại nơi ấy, Đức Thế Tôn Sumedha, vị Lãnh Đạo Thế Gian, bậc Giác Ngộ, đã thuyết giảng cho tôi Pháp loại trừ mũi tên sầu muộn.
427.
427.
427.
‘‘‘Anavhitā tato āguṃ, ananuññātā ito gatā;
Yathāgatā tathā gatā, tattha kā paridevanā.
“‘Uncalled, they came from there; unpermitted, they went from here. As they came, so they went. What lamentation is there in that?
‘Không được mời gọi, họ đã đến từ đó; không được cho phép, họ đã đi khỏi đây. Họ đã đến như thế nào, họ đã đi như thế ấy; trong việc ấy, sự than khóc nào có ích gì?
428.
428.
428.
‘‘‘Yathāpi pathikā sattā, vassamānāya vuṭṭhiyā;
Sabhaṇḍā upagacchanti, vassassāpatanāya te.
“‘Just as travelers, when rain is falling, approach shelter with their belongings so as not to be soaked by the rain.
‘Ví như những chúng sanh là khách lữ hành, khi trời đang mưa, họ cùng với hành lý đi đến (nơi trú) để không bị mưa ướt.
429.
429.
429.
‘‘‘Vasse ca te oramite, sampayanti yadicchakaṃ;
Evaṃ mātā pitā tuyhaṃ, tattha kā paridevanā.
“‘And when the rain has ceased, they go wherever they wish; so too do your mother and father depart. What lamentation is there in that?
‘Và khi mưa đã tạnh, họ đi đến nơi nào họ muốn; cha mẹ của ngươi cũng vậy, trong việc ấy, sự than khóc nào có ích gì?
430.
430.
430.
‘‘‘Āgantukā pāhunakā, caliteritakampitā;
Evaṃ mātā pitā tuyhaṃ, tattha kā paridevanā.
“‘Just as guests and visitors depart, moving, stirred, and trembling, so too do your mother and father depart. What lamentation is there in that?
‘Những người khách đến, những người khách được mời, đi một cách lay động, rung chuyển; cha mẹ của ngươi cũng vậy, trong việc ấy, sự than khóc nào có ích gì?
431.
431.
431.
‘‘‘Yathāpi urago jiṇṇaṃ, hitvā gacchati saṃ tacaṃ †;
Evaṃ mātā pitā tuyhaṃ, saṃ tanuṃ idha hīyare’.
“‘Just as a snake, having abandoned its own old skin, goes on, so too do your mother and father abandon their own bodies here.’”
‘Ví như con rắn từ bỏ lớp da cũ của mình rồi đi; cũng vậy, cha mẹ của ngươi từ bỏ thân của mình ở đây’.
432.
432.
432.
‘‘Buddhassa giramaññāya, sokasallaṃ vivajjayiṃ;
Pāmojjaṃ janayitvāna, buddhaseṭṭhaṃ avandahaṃ.
“Having understood the Buddha’s word, I abandoned the dart of sorrow; having generated joy, I paid homage to the supreme Buddha.
Sau khi hiểu rõ lời của Đức Phật, tôi đã tránh xa mũi tên sầu muộn; sau khi làm phát sanh niềm hân hoan, tôi đã đảnh lễ bậc Phật Tối Thắng.
433.
433.
433.
‘‘Vanditvāna mahānāgaṃ, pūjayiṃ girimañjariṃ †;
Dibbagandhaṃ sampavantaṃ †, sumedhaṃ lokanāyakaṃ.
“Having paid homage to the Great Nāga, I honored him with a mountain garland diffusing divine fragrance—Sumedha, the Leader of the World.
Sau khi đảnh lễ bậc Đại Long, tôi đã cúng dường hoa girimañjarī tỏa ra hương thơm chư thiên đến Đức Sumedha, vị Lãnh Đạo Thế Gian.
434.
434.
434.
‘‘Pūjayitvāna sambuddhaṃ, sire katvāna añjaliṃ;
Anussaraṃ guṇaggāni, santhaviṃ lokanāyakaṃ.
“Having honored the Fully Enlightened One, placing my hands together in reverence at my head and recollecting his foremost qualities, I extolled the Leader of the World.
Sau khi cúng dường bậc Chánh Đẳng Giác, chắp tay trên đầu, trong khi đang tùy niệm những đức hạnh cao quý, tôi đã tán dương vị Lãnh Đạo Thế Gian.
435.
435.
435.
‘‘Nittiṇṇosi † mahāvīra, sabbaññu lokanāyaka;
Sabbe satte uddharasi, ñāṇena tvaṃ mahāmune.
“O Great Hero, you have crossed over; O All-Knowing One, Leader of the World. You uplift all beings with your wisdom, O Great Sage.
Hỡi bậc Đại Hùng, bậc Toàn Tri, vị Lãnh Đạo Thế Gian, Ngài đã vượt qua; hỡi bậc Đại Mâu-ni, Ngài bằng trí tuệ cứu vớt tất cả chúng sanh.
436.
436.
436.
‘‘Vimatiṃ dveḷhakaṃ vāpi, sañchindasi mahāmune;
Paṭipādesi me maggaṃ, tava ñāṇena cakkhuma.
“You cut off doubt and perplexity, O Great Sage; you have prepared the path for me with your wisdom, O Visionary One.
Hỡi bậc Đại Mâu-ni, Ngài cắt đứt sự hoài nghi hoặc là sự phân vân; hỡi bậc có Mắt (trí tuệ), bằng trí tuệ của Ngài, Ngài đã làm cho con đường thành tựu cho tôi.
437.
437.
437.
‘‘Arahā vasipattā † ca, chaḷabhiññā mahiddhikā;
Antalikkhacarā dhīrā, parivārenti tāvade.
“Arahants who have attained mastery, possessing the six higher knowledges, greatly powerful, wise ones who travel through the sky, surround him at that very moment.
Khi ấy, các vị A-la-hán đã đạt đến sự thuần thục, có sáu thắng trí, có đại thần lực, các bậc hiền trí đi lại trong hư không, đang vây quanh (Ngài).
438.
438.
438.
‘‘Paṭipannā ca sekhā ca, phalaṭṭhā santi sāvakā;
Sūrodayeva padumā, pupphanti tava sāvakā.
“Disciples who are practicing, trainees, and those established in the fruit are present; just as lotuses bloom at sunrise, so do your disciples bloom.
Có các vị Thinh Văn đang thực hành, các vị hữu học, và các vị trú trong quả; như những hoa sen khi mặt trời mọc, các vị Thinh Văn của Ngài cũng nở rộ (trí tuệ).
439.
439.
439.
‘‘Mahāsamuddovakkhobho, atulopi † duruttaro;
Evaṃ ñāṇena sampanno, appameyyosi cakkhuma.
“Like the great ocean, you are unagitated, incomparable, and hard to cross. Thus endowed with wisdom, you are immeasurable, O Visionary One.
Như đại dương không thể bị khuấy động, không gì sánh bằng, khó vượt qua; cũng vậy, hỡi bậc có Mắt (trí tuệ), Ngài đầy đủ trí tuệ, là không thể đo lường được.
440.
440.
440.
‘‘Vanditvāhaṃ lokajinaṃ, cakkhumantaṃ mahāyasaṃ;
Puthu disā namassanto, paṭikuṭiko agañchahaṃ.
“Having paid homage to the World-Conqueror, the Visionary One of great renown, and bowing down in various directions, I departed, backing away.
Tôi, sau khi đảnh lễ vị chiến thắng thế gian, bậc có Mắt (trí tuệ), bậc có danh tiếng lớn, trong khi đang đảnh lễ các phương khác nhau, đã đi giật lùi.
441.
441.
441.
‘‘Devalokā cavitvāna, sampajāno patissato;
Okkamiṃ mātuyā kucchiṃ, sandhāvanto bhavābhave.
“Having passed away from the deva-world, fully aware and mindful, I descended into my mother’s womb, transmigrating through one existence and another.
Sau khi mệnh chung từ cõi trời, trong khi đang luân chuyển trong các kiếp sống, tôi có tỉnh giác, có chánh niệm, đã nhập vào bụng mẹ.
442.
442.
442.
‘‘Agārā abhinikkhamma, pabbajiṃ anagāriyaṃ;
Ātāpī nipako jhāyī, paṭisallānagocaro.
“Having gone forth from home into homelessness, I was ardent, discerning, and meditative, one whose resort is seclusion.
Sau khi xuất gia từ gia đình, tôi đã tu trong đời sống không gia đình; tôi có sự tinh tấn, có trí tuệ, thiền định, có nơi độc cư làm cảnh giới.
443.
443.
443.
‘‘Padhānaṃ padahitvāna, tosayitvā mahāmuniṃ;
Candovabbhaghanā mutto, vicarāmi ahaṃ sadā.
“Having exerted myself in the struggle and pleased the Great Sage, I always wander like the moon freed from a mass of clouds.
Sau khi nỗ lực tinh tấn, làm cho bậc Đại Mâu-ni hài lòng, tôi luôn luôn đi lại như mặt trăng thoát khỏi đám mây dày đặc.
444.
444.
444.
‘‘Vivekamanuyuttomhi, upasanto nirūpadhi;
Sabbāsave pariññāya, viharāmi anāsavo.
“I am devoted to seclusion, peaceful, without attachments; having fully understood all the taints, I dwell taintless.
Tôi chuyên tâm vào sự viễn ly, tịch tịnh, không còn chấp thủ; sau khi liễu tri tất cả các lậu hoặc, tôi an trú trong trạng thái vô lậu.
445.
445.
445.
‘‘Tiṃsakappasahassamhi, yaṃ buddhamabhipūjayiṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
“Thirty thousand aeons ago, I worshipped that Buddha; since then, I know of no bad destination. This is the fruit of worshipping the Buddha.
Trong ba mươi ngàn kiếp, kể từ khi tôi đã cúng dường vị Phật ấy, tôi không biết đến cảnh giới khổ; đây là quả báu của việc cúng dường Phật.
446.
446.
446.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ, bhavā sabbe samūhatā;
Sabbāsavā parikkhīṇā, natthi dāni punabbhavo.
“My defilements are burned up, all states of existence are uprooted; all taints are exhausted, now there is no renewed existence.
Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được nhổ bật; tất cả các lậu hoặc đã được tận trừ, bây giờ không còn sự tái sanh nữa.
447.
447.
447.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
“Welcome indeed was my coming... the Buddha’s teaching has been fulfilled.
Sự đến của tôi quả là khéo đến thay ... (v.v.) ... giáo pháp của Đức Phật đã được thực hành.
448.
448.
448.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
“The four analytical knowledges, the eight liberations, and the six higher knowledges have been realized… The Buddha’s teaching has been fulfilled.”
Bốn Tuệ Phân Tích ... (v.v.) ... giáo pháp của Đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā girimānando thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Girimānanda spoke these verses.
Như vậy, nghe nói rằng, Trưởng lão Girimānanda đáng kính đã nói lên những câu kệ này.
Girimānandattherassāpadānaṃ sattamaṃ.
The Seventh Apadāna of the Elder Girimānanda is finished.
Thiên truyện về Trưởng lão Girimānanda, thứ bảy.