Bản dịch
THA -ap397 — Ký Sự về Trưởng Lão Padumakūṭāgāriya
5 Padumakūṭāgāriyattheraapadāna
BJT 3726Đức Thế Tôn tên Piyadassī là đấng Tự Chủ, bậc Lãnh Đạo Thế Gian. Đấng Toàn Giác, bậc Hiền Trí có ước muốn độc cư, thiện xảo về định.
BJT 3727Sau khi đi sâu vào khu rừng rậm, bậc Đại Hiền Trí Piyadassī, đấng Tối Thượng Nhân, đã trải ra tấm y may từ vải bị quăng bỏ rồi ngồi xuống.
BJT 3728Trong thời quá khứ, tôi đã là thợ săn thú rừng ở trong khu rừng hoang rậm. Khi ấy, trong lúc tìm kiếm loài nai pasada, tôi (đã) đi lang thang.
BJT 3729Tại nơi ấy, tôi đã nhìn thấy đấng Toàn Giác, bậc đã vượt qua dòng nước lũ, không còn lậu hoặc, tợ như cây sālā chúa đã được trổ hoa, tợ như mặt trời đã mọc lên.
BJT 3730Sau khi nhìn thấy vị Trời của chư Thiên, bậc có danh vọng lớn lao Piyadassī, khi ấy tôi đã lội xuống hồ nước thiên nhiên và đã mang lại đóa sen hồng.
BJT 3731Sau khi mang lại đóa sen hồng trăm cánh làm thích ý, tôi đã xây dựng ngôi nhà mái nhọn và đã phủ lên bằng hoa sen hồng.
BJT 3732Bậc có lòng thương tưởng, đấng Bi Mẫn, bậc Đại Hiền Trí Piyadassī, đức Phật, đấng Chiến Thắng đã ngụ bảy ngày đêm ở ngôi nhà mái nhọn.
BJT 3733Sau khi bỏ đi các (bông hoa) héo úa, tôi đã che lên bằng (bông hoa) mới. Liền sau đó, tôi đã chắp tay lên và đứng yên.
BJT 3734Bậc Đại Hiền Trí Piyadassī đã xuất khỏi định. Trong lúc đang quan sát các phương, đấng Lãnh Đạo thế gian đã ngồi xuống.
BJT 3735Khi ấy, vị thị giả có đại thần lực tên Sudassana đã hiểu được tâm của đức Phật, bậc Đạo Sư Piyadassī.
BJT 3736Được tháp tùng bởi tám mươi ngàn vị tỳ khưu, vị ấy đã đi đến gần đấng Lãnh Đạo Thế Gian đang ngồi an lạc ở cuối khu rừng.
BJT 3737Và cho đến chư Thiên ngự ở trong khu rừng rậm, sau khi biết được tâm của đức Phật, khi ấy tất cả đã tụ hội lại.
BJT 3738Khi các Dạ-Xoa, các ác thần, cùng với các loài quỷ sứ đã cùng nhau đi đến, và khi Hội Chúng tỳ khưu đã đến nơi, đấng Chiến Thắng đã thốt lên các lời kệ này:
BJT 3739“Người nào đã cúng dường và đã thực hiện chỗ ngụ cho Ta bảy ngày, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hãy lắng nghe Ta nói.
BJT 3740Bằng trí tuệ, Ta sẽ tán dương điều thật khó mà nhìn thấy, vô cùng vi tế, sâu thẳm, đã được thể hiện tốt đẹp. Các người hãy lắng nghe Ta nói.
BJT 3741(Người ấy) sẽ cai quản Thiên quốc mười bốn kiếp. Có tòa nhà mái nhọn vĩ đại, được che phủ bằng các đóa sen hồng, sẽ được duy trì ở không trung dành cho người ấy; điều này là quả báu của việc làm với bông hoa.
BJT 3742(Người ấy) sẽ luân hồi xen kẽ (giữa cõi trời và cõi người) hai ngàn bốn trăm kiếp. Tại nơi ấy sẽ có cung điện làm bằng bông hoa được duy trì ở không trung (dành cho người ấy).
BJT 3743Giống như nước không làm lem luốc cánh hoa sen, tương tợ y như thế các điều ô nhiễm không làm hoen ố trí của người này.
BJT 3744Sau khi đã loại trừ năm pháp che lấp ở trong tâm, người này sẽ làm sanh khởi tâm về việc xuất ly và sẽ xuất gia lìa khỏi gia đình. Sau đó, trong lúc cung điện làm bằng bông hoa đang được duy trì, người này sẽ ra đi.
BJT 3745Trong khi con người cẩn trọng có chánh niệm (này) đang ngụ ở gốc cây, tại nơi ấy sẽ có cung điện làm bằng bông hoa được duy trì ở đỉnh đầu (của người này).
BJT 3746Sau khi dâng cúng y phục, vật thực, thuốc chữa bệnh, và chỗ nằm ngồi đến Hội Chúng tỳ khưu, (người này) sẽ Niết Bàn không còn lậu hoặc.”
BJT 3747Tôi đã ra đi xuất gia bằng sự di chuyển của ngôi nhà mái nhọn. Ngôi nhà mái nhọn được duy trì trong khi (tôi) đang ngụ ở gốc cây.
BJT 3748Sự suy tư về y phục và vật thực không có ở tôi. Được gắn liền với nghiệp phước thiện, tôi nhận được hoàn toàn đầy đủ.
BJT 3749Nhiều koṭi kiếp sống của tôi, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm, đã trôi qua vô ích, các bậc Lãnh Đạo Thế Gian đều đã giải thoát.
BJT 3750(Trước đây) một ngàn tám trăm kiếp, đấng Hướng Đạo Piyadassī (đã hiện khởi). Sau khi phục vụ Ngài, tôi đã đi đến lần nhập thai này.
BJT 3751Tại đây, tôi đã nhìn thấy bậc Toàn Giác, đấng Hữu Nhãn tên Anoma. Tôi đã đi đến gặp vị ấy và đã xuất gia vào đời sống không gia đình.
BJT 3752Đức Phật, bậc Đoạn Tận khổ đau, đấng Chiến Thắng đã giảng giải cho tôi về Đạo Lộ. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của Ngài, tôi đã đạt đến vị thế Bất Động.
BJT 3753Sau khi đã làm vui lòng đấng Toàn Giác Gotama, bậc Cao Quý dòng Sakya, sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 3754(Kể từ khi) tôi đã cúng dường đức Phật (trước đây) một ngàn tám trăm kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 3755Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch, tất cả các lậu hoặc đã được đoạn tận, giờ đây không còn tái sanh nữa.
BJT 3756Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật vào thời hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 3757Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Padumakūṭāgāriya đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
5. Padumakūṭāgāriyattheraapadānaṃ
5. The Apadāna of the Elder Padumakūṭāgāriya
5. Phẩm truyện về Trưởng lão Padumakūṭāgāriya
353.
353.
353.
‘‘Piyadassī nāma bhagavā, sayambhū lokanāyako;
Vivekakāmo sambuddho, samādhikusalo muni.
The Blessed One named Piyadassī, the Self-Arisen, Leader of the World, desiring seclusion, the Perfectly Enlightened One, the Sage skilled in concentration.
‘Đức Thế Tôn tên là Piyadassī, bậc Tự Sanh, bậc Lãnh Đạo Thế Gian; bậc Toàn Giác ưa thích sự vắng lặng, bậc Mâu-ni thiện xảo về thiền định.
354.
354.
354.
‘‘Vanasaṇḍaṃ samogayha, piyadassī mahāmuni;
Paṃsukūlaṃ pattharitvā, nisīdi purisuttamo.
Having entered a forest grove, Piyadassī, the Great Sage, the Supreme among Men, having spread out a rag-robe, sat down.
‘Bậc Đại Mâu-ni Piyadassī, sau khi đi vào lùm cây trong rừng; bậc Tối Thượng Nhân đã trải tấm y phấn tảo rồi ngồi xuống.
355.
355.
355.
‘‘Migaluddo pure āsiṃ, araññe † kānane ahaṃ;
Pasadaṃ migamesanto, āhiṇḍāmi ahaṃ tadā.
Formerly, I was a hunter in the forest, in the wilderness. Seeking a spotted deer, I wandered about then.
‘Trước kia, tôi là một người thợ săn thú, ở trong rừng, trong chốn hoang dã; khi ấy, tôi đang đi lang thang để tìm kiếm con nai đốm.
356.
356.
356.
‘‘Tatthaddasāsiṃ sambuddhaṃ, oghatiṇṇamanāsavaṃ;
Pupphitaṃ sālarājaṃva, sataraṃsiṃva uggataṃ.
There I saw the Perfectly Enlightened One, who had crossed the flood, who was taintless, like a kingly sāl tree in full bloom, like the risen sun.
‘Ở nơi ấy, tôi đã nhìn thấy bậc Toàn Giác, người đã vượt qua bộc lưu, bậc vô lậu; giống như cây sala chúa đang trổ hoa, giống như mặt trời trăm tia đang mọc.
357.
357.
357.
‘‘Disvānahaṃ devadevaṃ, piyadassiṃ mahāyasaṃ;
Jātassaraṃ samogayha, padumaṃ āhariṃ tadā.
Having seen the God of gods, Piyadassī of great fame, and having descended into the Jātassara lake, I then brought a lotus.
‘Sau khi nhìn thấy bậc Thiên-trung-Thiên, đức Piyadassī, bậc có danh tiếng lớn; tôi đã đi xuống hồ Jātassara, và lúc ấy đã mang về một đóa hoa sen.
358.
358.
358.
‘‘Āharitvāna padumaṃ, satapattaṃ manoramaṃ;
Kūṭāgāraṃ karitvāna, chādayiṃ padumenahaṃ.
Having brought a delightful, hundred-petaled lotus, and having made a gabled structure, I roofed it with the lotus.
‘Sau khi mang về đóa hoa sen trăm cánh, đẹp đẽ; tôi đã làm một ngôi nhà có mái nhọn, rồi dùng hoa sen để lợp mái.
359.
359.
359.
‘‘Anukampako kāruṇiko, piyadassī mahāmuni;
Sattarattindivaṃ buddho, kūṭāgāre vasī jino.
Compassionate and merciful, Piyadassī, the Great Sage, the Buddha, the Conqueror, dwelt in the gabled structure for seven days and nights.
‘Bậc Đại Mâu-ni Piyadassī, người có lòng thương xót, đầy bi mẫn; bậc Phật, bậc Chiến Thắng, đã trú ngụ trong ngôi nhà có mái nhọn suốt bảy ngày đêm.
360.
360.
360.
‘‘Purāṇaṃ chaḍḍayitvāna, navena chādayiṃ ahaṃ;
Añjaliṃ paggahetvāna, aṭṭhāsiṃ tāvade ahaṃ.
Having discarded the old one, I covered it with a new one. Having raised my hands in reverence, I stood there at that very moment.
‘Sau khi vứt bỏ (hoa sen) cũ, tôi đã lợp mái bằng (hoa sen) mới; sau khi chắp tay lại, tôi đã đứng ở đó ngay lúc ấy.
361.
361.
361.
‘‘Vuṭṭhahitvā samādhimhā, piyadassī mahāmuni;
Disaṃ anuvilokento, nisīdi lokanāyako.
Having arisen from concentration, Piyadassī, the Great Sage, the Leader of the World, surveying the directions, sat down.
‘Sau khi xuất khỏi thiền định, bậc Đại Mâu-ni Piyadassī; bậc Lãnh Đạo Thế Gian đã nhìn khắp các phương hướng rồi ngồi xuống.
362.
362.
362.
‘‘Tadā sudassano nāma, upaṭṭhāko mahiddhiko;
Cittamaññāya buddhassa, piyadassissa satthuno.
Then the attendant named Sudassana, one of great psychic power, having known the mind of the Buddha, the Teacher Piyadassī,
‘Khi ấy, vị thị giả tên là Sudassana, người có đại thần lực; sau khi biết được tâm ý của đức Phật, của bậc Đạo Sư Piyadassī.
363.
363.
363.
‘‘Asītiyā sahassehi, bhikkhūhi parivārito;
Vanante sukhamāsīnaṃ, upesi lokanāyakaṃ.
surrounded by eighty thousand monks, approached the Leader of the World, who was seated at ease within the forest.
‘Được vây quanh bởi tám mươi ngàn vị tỳ-khưu; (vị ấy) đã đi đến gần bậc Lãnh Đạo Thế Gian, đang ngồi an lạc ở bìa rừng.
364.
364.
364.
‘‘Yāvatā vanasaṇḍamhi, adhivatthā ca devatā;
Buddhassa cittamaññāya, sabbe sannipatuṃ tadā.
And whatever deities dwelt in that forest grove, having known the Buddha's mind, all assembled then.
‘Tất cả các vị chư thiên trú ngụ trong lùm cây ở rừng; sau khi biết được tâm ý của đức Phật, tất cả đã tụ hội lại vào lúc ấy.
365.
365.
365.
‘‘Samāgatesu yakkhesu, kumbhaṇḍe saharakkhase;
Bhikkhusaṅghe ca sampatte, gāthā pabyāharī † jino.
When the yakkhas, the kumbhaṇḍas together with the rakkhasas, had assembled, and the Saṅgha of monks had arrived, the Conqueror uttered these verses:
‘Khi các vị dạ-xoa, các vị cưu-bàn-trà cùng với các vị la-sát đã tụ hội; và Tăng chúng tỳ-khưu đã đến nơi, bậc Chiến Thắng đã nói lên những câu kệ.
366.
366.
366.
‘‘‘Yo maṃ sattāhaṃ pūjesi, āvāsañca akāsi me;
Tamahaṃ kittayissāmi, suṇātha mama bhāsato.
‘He who honored me for seven days and made a dwelling for me, I shall proclaim him. Listen to my words as I speak.
‘Người nào đã cúng dường ta trong bảy ngày, và đã làm một nơi ở cho ta; ta sẽ tán thán người ấy, hãy lắng nghe lời của ta đang nói đây.
367.
367.
367.
‘‘‘Sududdasaṃ sunipuṇaṃ, gambhīraṃ suppakāsitaṃ;
Ñāṇena kittayissāmi, suṇātha mama bhāsato.
‘That which is very hard to see, very subtle, deep, and well-proclaimed, I shall declare with wisdom. Listen to my words as I speak.
‘Pháp rất khó thấy, rất vi tế, thâm sâu, được khéo thuyết giảng; Ta sẽ tuyên thuyết bằng trí tuệ, các ngươi hãy lắng nghe lời của ta đang nói.
368.
368.
368.
‘‘‘Catuddasāni kappāni, devarajjaṃ karissati;
Kūṭāgāraṃ mahantassa †, padmapupphehi chāditaṃ.
‘For fourteen aeons, he will exercise the sovereignty of devas. His great gabled mansion will be covered with lotus flowers.
‘Trong mười bốn kiếp, vị ấy sẽ làm vua cõi trời; lâu đài có đỉnh nhọn to lớn của vị ấy được che phủ bởi các đóa hoa sen.
369.
369.
369.
‘‘‘Ākāse dhārayissati, pupphakammassidaṃ † phalaṃ;
Catubbīse † kappasate, vokiṇṇaṃ saṃsarissati.
‘It will be held aloft in the sky; this is the fruit of that kamma with the flower. For twenty-four hundred aeons, he will wander in mixed rebirths.
‘(Lâu đài) sẽ được duy trì ở trên không trung, đây là quả của nghiệp cúng dường hoa; trong hai ngàn bốn trăm kiếp, vị ấy sẽ luân hồi trong sự hỗn hợp (các cảnh giới).
370.
370.
370.
‘‘‘Tattha pupphamayaṃ byamhaṃ, ākāse dhārayissati;
Yathā padumapattamhi, toyaṃ na upalimpati.
‘There, a celestial mansion made of flowers will be held aloft in the sky. Just as water does not cling to a lotus leaf,
‘Ở nơi ấy, thiên cung bằng hoa sẽ được duy trì ở trên không trung; giống như nước không dính ướt ở trên lá sen.
371.
371.
371.
‘‘‘Tathevīmassa ñāṇamhi, kilesā nopalimpare;
Manasā vinivaṭṭetvā, pañca nīvaraṇe ayaṃ.
‘even so, defilements do not cling to his knowledge. This one, having mentally turned away from the five hindrances,
‘Cũng dường thế ấy, các phiền não không dính mắc ở nơi trí tuệ của vị này; vị này, sau khi đã loại bỏ năm triền cái bằng tâm ý.
372.
372.
372.
‘‘‘Cittaṃ janetvā nekkhamme, agārā pabbajissati;
Tato pupphamaye byamhe, dhārente † nikkhamissati.
‘having generated a mind for renunciation, he will go forth from the home life. Then, while a celestial mansion made of flowers is held aloft, he will go forth.
‘Sau khi đã phát sanh tâm về sự xuất ly, vị ấy sẽ xuất gia từ gia đình; sau đó, trong khi thiên cung bằng hoa đang được duy trì, vị ấy sẽ ra đi.
373.
373.
373.
‘‘‘Rukkhamūle vasantassa, nipakassa satīmato;
Tattha pupphamayaṃ byamhaṃ, matthake dhārayissati.
‘For him dwelling at the foot of a tree, prudent and mindful, there a celestial mansion made of flowers will be held aloft above his head.
‘Trong khi vị ấy, người thận trọng, người có chánh niệm, đang trú ngụ ở dưới gốc cây, ở nơi ấy thiên cung bằng hoa sẽ được duy trì ở trên đỉnh đầu.
374.
374.
374.
‘‘‘Cīvaraṃ piṇḍapātañca, paccayaṃ sayanāsanaṃ;
Datvāna bhikkhusaṅghassa, nibbāyissatināsavo’.
‘Having given robes, alms-food, requisites, and lodging to the Saṅgha of monks, he, being taintless, will attain Nibbāna.’
‘Sau khi đã dâng cúng y phục, vật thực khất thực, dược phẩm, sàng tọa đến Tăng chúng các vị tỳ khưu, vị ấy sẽ tịch diệt Niết-bàn, là người không còn lậu hoặc.’
375.
375.
375.
‘‘Kūṭāgārena caratā †, pabbajjaṃ abhinikkhamiṃ;
Rukkhamūle vasantampi †, kūṭāgāraṃ dharīyati.
Traveling with a gabled mansion, I went forth into the homeless life. Even while dwelling at the foot of a tree, a gabled mansion is held aloft for me.
“Trong khi đi cùng với lâu đài có đỉnh nhọn, tôi đã xuất gia; ngay cả trong khi đang trú ngụ ở dưới gốc cây, lâu đài có đỉnh nhọn vẫn được duy trì.
376.
376.
376.
‘‘Cīvare piṇḍapāte ca, cetanā me na vijjati;
Puññakammena saṃyutto, labhāmi pariniṭṭhitaṃ.
Regarding robes and alms-food, there is no volition for me. Connected with my meritorious kamma, I obtain that which is already prepared.
“Đối với y phục và vật thực khất thực, tôi không có tác ý (để tìm kiếm); do tương ứng với nghiệp phước thiện, tôi nhận được vật đã được chuẩn bị sẵn sàng.
377.
377.
377.
‘‘Gaṇanāto asaṅkheyyā, kappakoṭī bahū mama;
Rittakā te atikkantā, pamuttā lokanāyakā.
Uncountable by number, many crores of aeons have passed by for me in vain; they were devoid of a World-Leader.
“Vô số, không thể đếm được, nhiều triệu kiếp của tôi đã trôi qua một cách trống rỗng; các kiếp ấy đã trôi qua mà không có các vị Lãnh Đạo Thế Gian.
378.
378.
378.
‘‘Aṭṭhārase kappasate, piyadassī vināyako;
Tamahaṃ payirupāsitvā, imaṃ yoniṃ upāgato.
Eighteen hundred aeons ago, the Guide Piyadassī arose; having attended upon him, I have come to this existence.
“Cách đây một ngàn tám trăm kiếp, bậc Lãnh Đạo Piyadassī (đã sanh lên); sau khi đã hầu cận vị ấy, tôi đã đi đến kiếp sống này.
379.
379.
379.
‘‘Idha passāmi † sambuddhaṃ, anomaṃ nāma cakkhumaṃ;
Tamahaṃ upagantvāna, pabbajiṃ anagāriyaṃ.
Here I see the Perfectly Enlightened One, named Anoma, the One with Vision. Having approached him, I went forth into the homeless life.
“Ở đây, tôi nhìn thấy bậc Chánh Đẳng Giác, danh là Anoma, là bậc có mắt tuệ; sau khi đã đi đến gần vị ấy, tôi đã xuất gia vào đời sống không gia đình.
380.
380.
380.
‘‘Dukkhassantakaro buddho, maggaṃ me desayī jino;
Tassa dhammaṃ suṇitvāna, pattomhi acalaṃ padaṃ.
The Buddha, the maker of the end of suffering, the Conqueror, taught me the path. Having heard his Dhamma, I have attained the unshakable state.
“Đức Phật, bậc chấm dứt khổ đau, bậc Chiến Thắng đã thuyết giảng con đường cho tôi; sau khi đã lắng nghe Giáo pháp của ngài, tôi đã đạt đến trạng thái bất động.
381.
381.
381.
‘‘Tosayitvāna sambuddhaṃ, gotamaṃ sakyapuṅgavaṃ;
Sabbāsave pariññāya, viharāmi anāsavo.
Having pleased the Perfectly Enlightened One, Gotama, the Bull of the Sakyans, and having fully understood all the taints, I dwell free from taints.
“Sau khi đã làm hài lòng bậc Chánh Đẳng Giác Gotama, là bậc đứng đầu dòng Sakya; sau khi đã liễu tri tất cả các lậu hoặc, tôi sống không còn lậu hoặc.
382.
382.
382.
‘‘Aṭṭhārase kappasate, yaṃ buddhamabhipūjayiṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Eighteen hundred eons ago, I venerated a Buddha. Since then, I know of no woeful destination; this is the fruit of venerating a Buddha.
“Cách đây một ngàn tám trăm kiếp, khi tôi đã cúng dường đến đức Phật; tôi không còn biết đến khổ cảnh, đây là quả của việc cúng dường đức Phật.
383.
383.
383.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ, bhavā sabbe samūhatā;
Sabbāsavā parikkhīṇā, natthi dāni punabbhavo.
My defilements are burnt up, all states of existence are uprooted. All the taints are destroyed; now there is no renewed existence.
“Các phiền não của tôi đã được đốt sạch, tất cả các hữu đã được nhổ lên; tất cả các lậu hoặc đã được tận trừ, nay không còn tái sanh nữa.
384.
384.
384.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Indeed, my coming was a good one... the teaching of the Buddha has been accomplished.
“Thật vậy, sự đến của tôi là khéo đến ... (đoạn văn được rút gọn) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
385.
385.
385.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges... the teaching of the Buddha has been accomplished.
“Bốn Tuệ Phân Tích ... (đoạn văn được rút gọn) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā padumakūṭāgāriyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Padumakūṭāgāriya spoke these verses.
Như vậy, quả thật Trưởng lão Padumakūṭāgāriya đã nói những câu kệ này.
Padumakūṭāgāriyattherassāpadānaṃ pañcamaṃ.
The Fifth Apadāna of the Elder Padumakūṭāgāriya.
Phẩm truyện về Trưởng lão Padumakūṭāgāriya là phẩm thứ năm.