Bản dịch
THA -ap396 — Ký Sự về Trưởng Lão Madhudāyaka
Madhudāyakattheraapadāna
BJT 3706Khu ẩn cư của tôi đã được xây dựng khéo léo ở bờ sông Sindhu. Tại nơi ấy, tôi chỉ dạy các học trò về truyền thống cùng với tướng mạo.
BJT 3707Các vị ấy có sự ao ước về Giáo Pháp, đã được huấn luyện, có ước muốn được nghe lời giáo huấn tốt đẹp. Đã đạt đến sự toàn hảo về sáu chi phần, các vị ấy sống ở bờ sông Sindhu.
BJT 3708Khi ấy, trong lúc đang tầm cầu mục đích tối thượng, các vị sống ở trong khu rừng bao la.
BJT 3709Bậc Toàn Giác tên Sumedha lúc bấy giờ đã hiện khởi ở thế gian. Thương tưởng đến chúng tôi, đấng Hướng Đạo đã đi đến gần.
BJT 3710Khi đấng Đại Hùng, bậc Lãnh Đạo Thế Gian Sumedha đã đi đến gần, tôi đã làm tấm thảm trải bằng cỏ và đã dâng cúng đến bậc Trưởng Thượng của thế gian.
BJT 3711Tôi đã cầm lấy mật ong từ khu rừng bao la và đã dâng cúng đến đức Phật tối thượng. Bậc Toàn Giác đã thọ dụng và đã nói lời nói này:
BJT 3712“Người nào được tịnh tín đã tự tay mình dâng cúng mật ong ấy đến Ta, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hãy lắng nghe Ta nói.
BJT 3713Do sự dâng cúng mật ong này và do tấm thảm trải bằng cỏ, (người ấy) sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên ba mươi ngàn kiếp.
BJT 3714Vào ba mươi ngàn kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 3715Là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, (người ấy) sẽ biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc và sẽ Niết Bàn không còn lậu hoặc.”
BJT 3716Sau khi đã từ thế giới chư Thiên đi đến nơi đây, khi (tôi) nhập vào bụng mẹ, có cơn mưa mật ong đã đổ xuống, che lấp trái đất với mật ong.
BJT 3717Và ngay khi tôi đang ra khỏi bụng mẹ một cách vô cùng khó khăn, tại nơi ấy cũng có cơn mưa mật ong đã liên tục đổ mưa đến tôi.
BJT 3718Sau khi lìa khỏi nhà, tôi đã xuất gia vào đời sống không gia đình, tôi có sự đạt được về cơm ăn và nước uống; điều này là quả báu của việc dâng cúng mật ong.
BJT 3719Tôi được dồi dào về mọi dục lạc sau khi đã sống ở (thế giới) chư Thiên và nhân loại. Chính nhờ sự dâng cúng mật ong ấy, tôi đã đạt được sự đoạn tận các lậu hoặc
BJT 3720Khi trời đổ mưa ở cỏ dài bốn ngón tay, khi loài thảo mộc mọc ở trên đất đã được trổ hoa và đã che phủ khắp, ở ngôi nhà trống vắng, ở mái che và ở cội cây, tôi sống luôn luôn được an lạc, không còn lậu hoặc.
BJT 3721Tôi đã vượt lên tất cả các cõi trung bình, to lớn, và thấp kém. Hôm nay các lậu hoặc của tôi đã được đoạn tận, giờ đây không còn tái sanh nữa.
BJT 3722Kể từ khi tôi đã dâng cúng vật thí (trước đây) ba mươi ngàn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng mật ong.
BJT 3723Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch, tất cả các lậu hoặc đã được đoạn tận, giờ đây không còn tái sanh nữa.
BJT 3724Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật vào thời hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 3725Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Madhudāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Madhudāyaka là phần thứ tư.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
4. Madhudāyakattheraapadānaṃ
4. The Account of the Elder Madhudāyaka
4. Phẩm truyện về trưởng lão Madhudāyaka (Vị Thí Mật)
333.
333.
333.
‘‘Sindhuyā nadiyā tīre, sukato assamo mama;
Tattha vācemahaṃ sisse, itihāsaṃ salakkhaṇaṃ.
On the bank of the Sindhu River is my well-made hermitage; there I teach my students the Itihāsa, together with the science of bodily marks.
“Trên bờ sông Sindhu, có am thất của tôi được xây dựng tốt đẹp. Tại nơi ấy, tôi đã giảng dạy cho các đệ tử về bộ Itihāsa cùng với tướng thuật.”
334.
334.
334.
‘‘Dhammakāmā vinītā te, sotukāmā susāsanaṃ;
Chaḷaṅge pāramippattā, sindhukūle vasanti te.
They are devoted to the Dhamma, well-trained, eager to listen to good instruction, having attained mastery in the six branches; they dwell on the bank of the Sindhu.
“Họ là những người yêu thích Chánh Pháp, đã được huấn luyện, mong muốn lắng nghe lời giáo huấn tốt đẹp. Họ đã đạt đến bờ bên kia về sáu bộ môn (của Vệ Đà), họ sống ở trên bờ sông Sindhu.”
335.
335.
335.
‘‘Uppātagamane ceva, lakkhaṇesu ca kovidā;
Uttamatthaṃ gavesantā, vasanti vipine tadā.
And skilled in portents and in signs, seeking the highest goal, they dwelt in the forest at that time.
“Họ là những người thông thạo về việc giải đoán điềm báo và về tướng thuật. Trong khi tìm cầu mục đích tối thượng, khi ấy họ sống ở trong rừng.”
336.
336.
336.
‘‘Sumedho nāma sambuddho, loke uppajji tāvade;
Amhākaṃ anukampanto, upāgacchi vināyako.
The Perfectly Enlightened One named Sumedha arose in the world at that time; being compassionate towards us, the Guide approached.
“Vào lúc ấy, đức Chánh Đẳng Giác tên là Sumedha đã xuất hiện ở thế gian. Vì lòng bi mẫn đối với chúng tôi, bậc Lãnh Đạo đã đi đến.”
337.
337.
337.
‘‘Upāgataṃ mahāvīraṃ, sumedhaṃ lokanāyakaṃ;
Tiṇasanthārakaṃ katvā, lokajeṭṭhassadāsahaṃ.
When the great hero, Sumedha, the Leader of the World, approached, having made a grass mat, I gave it to the foremost of the world.
“Đối với bậc Đại Hùng, ngài Sumedha, bậc Lãnh Đạo Thế Gian đã đi đến, sau khi đã làm một tấm lót bằng cỏ, tôi đã dâng cúng đến bậc Tối Thắng ở thế gian.”
338.
338.
338.
‘‘Vipināto madhuṃ gayha, buddhaseṭṭhassadāsahaṃ;
Sambuddho paribhuñjitvā, idaṃ vacanamabravi.
Taking honey from the forest, I gave it to the supreme Buddha. The Perfectly Enlightened One, having partaken, spoke these words.
“Sau khi đã lấy mật ong từ trong rừng, tôi đã dâng cúng đến bậc Tối Thắng trong các vị Phật. Đức Chánh Đẳng Giác sau khi đã thọ dụng, đã nói lên lời này.”
339.
339.
339.
‘‘‘Yo taṃ adāsi madhuṃ me, pasanno sehi pāṇibhi;
Tamahaṃ kittayissāmi, suṇātha mama bhāsato.
‘Whoever, being pleased, gave me honey with his own hands, I shall proclaim him. Listen to my words as I speak.’
“‘Vị nào với tâm tịnh tín đã dùng chính đôi tay của mình dâng cúng mật ong đến ta, ta sẽ tuyên dương về vị ấy. Các ngươi hãy lắng nghe lời của ta đang nói đây.’”
340.
340.
340.
‘‘‘Iminā madhudānena, tiṇasanthārakena ca;
Tiṃsa kappasahassāni, devaloke ramissati.
‘By this gift of honey and by the grass mat, for thirty thousand aeons, he will delight in the heavenly world.’
‘Do việc cúng dường mật ong này, và do việc trải thảm cỏ; (vị ấy) sẽ được hoan hỷ ở cõi trời, trong ba mươi ngàn kiếp.
341.
341.
341.
‘‘‘Tiṃsa kappasahassamhi, okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena, satthā loke bhavissati.
‘In the thirtieth thousand aeon, born in the Okkāka clan, Gotama by clan name, a Teacher will arise in the world.’
‘Vào ba mươi ngàn kiếp (sau), vị Bậc Đạo Sư sanh trong dòng dõi Okkāka, với danh hiệu Gotama, sẽ xuất hiện ở thế gian.
342.
342.
342.
‘‘‘Tassa dhammesu dāyādo, oraso dhammanimmito;
Sabbāsave pariññāya, nibbāyissatināsavo.
‘An heir to his Dhamma, a true son, created by the Dhamma, having fully understood all taints, he will attain Nibbāna, free from taints.’
‘(Vị ấy) sẽ là người thừa tự trong các Pháp của vị ấy, là người con đích thực do Pháp hóa sanh; sau khi đã liễu tri tất cả các lậu hoặc, vị ấy sẽ tịch diệt Niết-bàn, trở thành bậc vô lậu.
343.
343.
343.
‘‘‘Devalokā idhāgantvā, mātukucchiṃ upāgate;
Madhuvassaṃ pavassittha, chādayaṃ madhunā mahiṃ’.
‘Having come here from the world of the gods and entered my mother’s womb, a rain of honey fell, covering the earth with honey.’
‘Từ cõi trời, sau khi đến đây, lúc nhập vào thai mẹ, một trận mưa mật ong đã tuôn xuống, bao phủ mặt đất bằng mật ong’.
344.
344.
344.
‘‘Mayi nikkhantamattamhi, kucchiyā ca suduttarā;
Tatrāpi madhuvassaṃ me, vassate niccakālikaṃ.
As soon as I emerged from the very difficult-to-pass womb, there too a rain of honey constantly fell for me.
‘Ngay khi tôi vừa thoát ra, từ trong bụng mẹ vốn rất khó vượt qua; ngay cả khi ấy, một trận mưa mật ong đã luôn luôn tuôn xuống cho tôi.
345.
345.
345.
‘‘Agārā abhinikkhamma, pabbajiṃ anagāriyaṃ;
Lābhī annassa pānassa, madhudānassidaṃ phalaṃ.
Having gone forth from home, I went forth into homelessness; I was a recipient of food and drink—this is the fruit of the honey offering.
‘Từ bỏ gia đình, tôi đã xuất gia, sống đời không nhà cửa; tôi dễ dàng nhận được vật thực và thức uống, đây là quả của việc cúng dường mật ong.
346.
346.
346.
‘‘Sabbakāmasamiddhohaṃ, bhavitvā devamānuse;
Teneva madhudānena, pattomhi āsavakkhayaṃ.
I was fulfilled in all desires, having existed among gods and humans; by that very gift of honey, I have attained the destruction of the taints.
‘Sau khi đã sanh trong cõi trời và cõi người, tôi đã được thành tựu tất cả các dục vọng; chính nhờ việc cúng dường mật ong ấy, tôi đã đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc.
347.
347.
347.
‘‘Vuṭṭhamhi deve caturaṅgule tiṇe, sampupphite † dharaṇīruhe sañchanne †;
Suññe ghare maṇḍaparukkhamūlake, vasāmi niccaṃ sukhito anāsavo.
When the god has rained and the grass is four fingers high, when the trees are well-blossomed and covered with flowers, in an empty dwelling or at the root of a pavilion-like tree, I dwell always, happy and taintless.
‘Khi trời đã mưa, cỏ mọc cao bốn ngón tay, cây cối trên mặt đất nở hoa rực rỡ và được che phủ; trong ngôi nhà vắng lặng, dưới gốc cây như một mái đình, tôi thường trú an lạc, không còn lậu hoặc.
348.
348.
348.
‘‘Majjhe mahante hīne ca †, bhave sabbe atikkamiṃ †;
Ajja me āsavā khīṇā, natthi dāni punabbhavo.
I have transcended all existences, whether middling, great, or low. Today my taints are exhausted; now there is no more renewed existence.
‘Tôi đã vượt qua tất cả các kiếp sống, dù là trung bình, cao sang, hay thấp hèn; hôm nay, các lậu hoặc của tôi đã được đoạn tận, nay không còn tái sanh nữa.
349.
349.
349.
‘‘Tiṃsakappasahassamhi, yaṃ dānamadadiṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, madhudānassidaṃ phalaṃ.
Thirty thousand aeons ago, because of the gift I gave then, I have not known a bad destination; this is the fruit of the honey offering.
‘Vào ba mươi ngàn kiếp trước, tôi đã thực hiện việc bố thí ấy; từ đó về sau, tôi không còn biết đến khổ cảnh, đây là quả của việc cúng dường mật ong.
350.
350.
350.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ, bhavā sabbe samūhatā;
Sabbāsavā parikkhīṇā, natthi dāni punabbhavo.
My defilements have been burned; all existences have been uprooted. All taints are exhausted; now there is no renewed existence.
‘Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các kiếp sống đã được nhổ sạch; tất cả các lậu hoặc đã được hoàn toàn đoạn tận, nay không còn tái sanh nữa.
351.
351.
351.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Indeed, my coming was a good coming… the Buddha’s teaching has been fulfilled.
‘Sự đến của tôi thật là khéo đến,... (v.v.)... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
352.
352.
352.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges… the Buddha’s teaching has been fulfilled.
‘Bốn Tuệ phân tích,... (v.v.)... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành’.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā madhudāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed, the Venerable Elder Madhudāyaka spoke these verses.
Như vậy, quả thật Trưởng lão Madhudāyaka đã nói những câu kệ này.
Madhudāyakattherassāpadānaṃ catutthaṃ.
The Apadāna of the Elder Madhudāyaka, the fourth.
Phẩm truyện về Trưởng lão Madhudāyaka, chương thứ tư.