Bản dịch
THA -ap395 — Ký Sự về Trưởng Lão Sabbakittika
Sabbakittikattheraapadāna
BJT 3677(Tôi đã nhìn thấy đấng Lãnh Đạo Thế Gian) tợ như cây kaṇikāra đang cháy sáng, tợ như cây đèn đang phát sáng, tợ như vì sao osadhī đang chiếu sáng, giống như tia chớp ở bầu trời.
BJT 3678(Tôi đã nhìn thấy đấng Lãnh Đạo Thế Gian) không bị hãi sợ, không có sợ sệt, tợ như con sư tử vua của loài thú, đang tỏa sáng ánh sáng trí tuệ, đang chế ngự các nhóm người ngoại đạo.
BJT 3679Tôi đã nhìn thấy đấng Lãnh Đạo Thế Gian đang tiếp độ thế gian này, đang cắt đứt mọi điều nghi hoặc, tợ như (con sư tử) vua của loài thú đang gầm thét.
BJT 3680Tôi đã là vị mang búi tóc, khoác tấm da dê, cao thượng, ngay thẳng, có sự huy hoàng. Tôi đã cầm lấy y phục bằng vỏ cây và đã trải xuống ở cạnh bàn chân (của đức Phật).
BJT 3681Tôi đã cầm lấy chất bôi thơm kāḷānusāriya và đã thoa lên đức Như Lai. Sau khi thoa lên bậc Toàn Giác, tôi đã ngợi ca về đấng Lãnh Đạo Thế Gian rằng :
BJT 3682“Bạch đấng Đại Hiền Trí, Ngài đã vượt qua dòng nước lũ, Ngài tiếp độ thế gian này, Ngài chiếu sáng bằng ánh sáng trí tuệ, trí tuệ tối thượng (của Ngài) là không bị che lấp.
BJT 3683Ngài chuyển vận bánh xe Giáo Pháp, Ngài chế ngự các ngoại đạo khác, Ngài là vị cao quý đã chiến thắng trận đấu, Ngài làm trái đất rúng động.
BJT 3684Các làn sóng ở đại dương bị vỡ tan ở bờ biển, tương tợ y như thế tất cả các tà kiến bị tan vỡ ở trí tuệ của Ngài.
BJT 3685Khi lưới có lỗ nhỏ được đặt vào ở trong hồ nước, các sinh vật đi vào trong lưới thì bị khống chế ngay lập tức.
BJT 3686Bạch Ngài, tương tợ y như thế các ngoại đạo ở thế gian dựa dẫm vào dị giáo tầm thường, họ xoay vần bên trong trí tuệ cao quý của Ngài.
BJT 3687Ngài là bến bờ của những người đang bị cuốn trôi ở dòng nước lũ, chính Ngài là vị bảo hộ của những người không thân quyến, Ngài là sự bảo vệ cho những người bị khổ đau vì hãi sợ, là nơi nương tựa của những người có mục tiêu đã bị xao lãng.
BJT 3688Ngài là vị anh hùng độc nhất, không người tương tợ, là sự tích lũy bi mẫn và từ ái, có giới tốt đẹp, không kẻ sánh bằng, được an tịnh, có năng lực, vững chãi, đã chiến thắng cuộc hành trình.
BJT 3689Ngài là bậc trí tuệ, có sự si mê đã được xa lìa, không còn dục vọng, không có hoài nghi, đã sống trọn vẹn, có sân hận đã được chối bỏ, không ô nhiễm, đã được thanh lọc, tinh khiết.
BJT 3690Ngài đã vượt lên sự quyến luyến, có sự kiêu hãnh đã được tiêu diệt, có tam minh, đã đi đến tận cùng của tam giới, đã vượt qua ranh giới, có sự kính trọng Giáo Pháp, có mục đích đã được thực hiện, có đạo lộ hữu ích.
BJT 3691Ngài giống như ngôi sao (hướng dẫn) chiếc thuyền, giống như của cải chôn giấu là nguồn tạo sự an ủi, giống như con sư tử không bị hãi sợ, tợ như con voi chúa kiêu kỳ.”
BJT 3692Sau khi ngợi ca bậc có danh vọng lớn lao Padumuttara bằng mười câu kệ, sau khi đã đảnh lễ ở bàn chân của bậc Đạo Sư, khi ấy tôi đã đứng, im lặng.
BJT 3693Đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, bậc Đạo Sư, đứng ở Hội Chúng tỳ khưu, đã nói lên những lời kệ này:
BJT 3694“Người nào đã tán dương giới hạnh và trí tuệ, luôn cả Giáo Pháp của Ta, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hãy lắng nghe Ta nói.
BJT 3695(Người ấy) sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên sáu chục ngàn kiếp. Sau khi vượt trội chư Thiên khác, (người ấy) sẽ được thiết lập làm vị chúa tể.
BJT 3696Về sau người ấy sẽ xuất gia, được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch, người ấy sẽ xuất gia trong Giáo Pháp của đức Thế Tôn Gotama.
BJT 3697Sau khi xuất gia, sau khi lánh xa ác nghiệp bằng thân, sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, (người ấy) sẽ Niết Bàn không còn lậu hoặc.”
BJT 3698“Bạch đấng Đại Hùng, giống như đám mây đang nổi sấm (sét) thì làm cho trái đất này thỏa mãn, tương tợ y như thế Ngài đã làm con thỏa mãn bằng Giáo Pháp.”
BJT 3699Sau khi ngợi ca giới hạnh, trí tuệ, Giáo Pháp, và đấng Lãnh Đạo Thế Gian, tôi đã đạt đến sự an tịnh tuyệt đối, Niết Bàn, vị thế bất hoại.
BJT 3700Ôi, nếu như đức Thế Tôn bậc Hữu Nhãn ấy có thể tồn tại lâu dài, thì (nhiều người) có thể nhận thức điều chưa được biết đến và có thể chạm đến vị thế Bất Tử.
BJT 3701Đây là lần sinh ra sau cùng của tôi, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 3702(Kể từ khi) tôi đã ngợi ca đức Phật trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc tán dương.
BJT 3703Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch, tất cả các lậu hoặc đã được đoạn tận, giờ đây không còn tái sanh nữa.
BJT 3704Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật vào thời hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 3705Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Sabbakittikađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Sabbakittika là phần thứ ba.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
3. Sabbakittikattheraapadānaṃ
3. The Apadāna of the Elder Sabbakittika
3. Thiên Thạnh Cảm của Trưởng lão Sabbakittika
304.
304.
304.
‘‘Kaṇikāraṃva jalitaṃ †, dīparukkhaṃva ujjalaṃ †;
Osadhiṃva virocantaṃ, vijjutaṃ gagane yathā.
Like a blazing Kaṇikāra flower, like a radiant lamp-tree; like the shining morning star, like lightning in the sky.
Vị ấy rực rỡ như đóa hoa kaṇikāra, sáng chói như cây đèn, chiếu sáng như sao mai, giống như tia chớp ở trên bầu trời.
305.
305.
305.
‘‘Asambhītaṃ anuttāsiṃ, migarājaṃva kesariṃ;
Ñāṇālokaṃ pakāsentaṃ, maddantaṃ titthiye gaṇe.
Fearless and unterrified, like a maned lion, the king of beasts; displaying the light of wisdom, crushing the hosts of sectarians.
Vị ấy không run sợ, không kinh hãi, giống như con sư tử, là vua của các loài thú; vị ấy làm cho ánh sáng của trí tuệ được hiển lộ, và nhiếp phục các nhóm ngoại đạo.
306.
306.
306.
‘‘Uddharantaṃ imaṃ lokaṃ, chiddantaṃ sabbasaṃsayaṃ;
Gajjantaṃ † migarājaṃva, addasaṃ lokanāyakaṃ.
Uplifting this world, cutting off all doubt, roaring like a king of beasts, I saw the Leader of the World.
Tôi đã nhìn thấy bậc Lãnh Đạo thế gian, là đấng đang cứu vớt thế gian này, đang cắt đứt tất cả sự hoài nghi, đang rống lên như con sư tử, là vua của các loài thú.
307.
307.
307.
‘‘Jaṭājinadharo āsiṃ, brahā uju patāpavā;
Vākacīraṃ gahetvāna, pādamūle apatthariṃ.
I was a wearer of matted hair and an animal hide, great, upright, and powerful. Taking a bark garment, I spread it at his feet.
Tôi đã là người mang tóc bện và da thú, to lớn, ngay thẳng, và có uy lực. Sau khi đã lấy tấm y bằng vỏ cây, tôi đã trải ra ở dưới chân (của Ngài).
308.
308.
308.
‘‘Kāḷānusāriyaṃ gayha, anulimpiṃ tathāgataṃ;
Sambuddhamanulimpetvā, santhaviṃ lokanāyakaṃ.
Taking black sandalwood, I anointed the Tathāgata; having anointed the Fully Enlightened One, I praised the Leader of the World.
Sau khi đã lấy gỗ chiên-đàn đen, tôi đã thoa lên đấng Như Lai. Sau khi đã thoa lên đấng Chánh Đẳng Giác, tôi đã tán dương bậc Lãnh Đạo thế gian.
309.
309.
309.
‘‘Samuddharasimaṃ lokaṃ, oghatiṇṇa † mahāmuni;
Ñāṇālokena jotesi, nāvaṭaṃ † ñāṇamuttamaṃ.
O Great Sage, having crossed the flood, you rescue this world; you shine with the light of wisdom, your supreme knowledge is unobstructed.
Thưa bậc Đại Thánh, Ngài là đấng đã vượt qua bộc lưu, Ngài cứu vớt thế gian này. Ngài tỏa sáng với ánh sáng của trí tuệ; trí tuệ tối thượng (của Ngài) là không bị che đậy.
310.
310.
310.
‘‘Dhammacakkaṃ † pavattesi, maddase paratitthiye;
Usabho jitasaṅgāmo, sampakampesi medaniṃ.
You set the Wheel of Dhamma in motion, you crush the other sectarians; a bull, victorious in battle, you cause the earth to tremble.
Ngài đã cho chuyển vận bánh xe Pháp, Ngài đã nhiếp phục các ngoại đạo khác. Ngài là con bò đực đầu đàn, là đấng chiến thắng trong trận chiến, Ngài đã làm cho mặt đất rung chuyển.
311.
311.
311.
‘‘Mahāsamudde ūmiyo, velantamhi pabhijjare;
Tatheva tava ñāṇamhi, sabbadiṭṭhī pabhijjare.
In the great ocean, waves break upon the shore; just so, within your wisdom, all views are shattered.
Các ngọn sóng ở trong biển cả bị tan vỡ ở tại bờ biển; cũng tương tự như thế, tất cả các tà kiến đều bị tan vỡ ở trong trí tuệ của Ngài.
312.
312.
312.
‘‘Sukhumacchikajālena, saramhi sampatānite;
Antojālikatā † pāṇā, pīḷitā honti tāvade.
When a fine-meshed net is cast over a lake, the living beings caught inside the net are immediately afflicted.
Khi hồ nước được bao phủ bởi tấm lưới có mắt lưới nhỏ, các chúng sanh đã lọt vào bên trong lưới liền bị áp bức ngay khi ấy.
313.
313.
313.
‘‘Tatheva titthiyā loke, puthupāsaṇḍanissitā †;
Antoñāṇavare tuyhaṃ, parivattanti mārisa.
Just so, O venerable sir, the sectarians in the world, relying on various heresies, flounder within your excellent wisdom.
“Hỡi ngài Mārisa, cũng tương tự như thế, ở trong thế gian, các người ngoại đạo nương tựa vào nhiều tà kiến khác nhau, đang xoay vần ở bên trong trí tuệ cao thượng của ngài.”
314.
314.
314.
‘‘Patiṭṭhā vuyhataṃ oghe, tvañhi nātho abandhunaṃ;
Bhayaṭṭitānaṃ saraṇaṃ, muttitthīnaṃ parāyaṇaṃ.
You are a support for those being swept away by the flood, a protector for the friendless, a refuge for those afflicted by fear, the final resort for those who desire liberation.
“Ngài là nơi nương tựa cho những chúng sanh bị cuốn trôi trong bộc lưu, chính ngài là đấng bảo hộ cho những người không thân thích, là nơi quy y cho những người bị sợ hãi, là nơi nương náu cuối cùng cho những người mong cầu sự giải thoát.”
315.
315.
315.
‘‘Ekavīro asadiso, mettākaruṇasañcayo †;
Asamo susamo santo †, vasī tādī jitañjayo.
The sole hero, unequalled, an embodiment of loving-kindness and compassion; without equal, perfectly composed, peaceful, a master, one who is 'such', a conqueror of what is to be conquered.
“Ngài là bậc Anh Hùng độc nhất, không ai sánh bằng, là kho tàng của từ tâm và bi mẫn. Ngài không ai ngang bằng, vô cùng trầm lặng, tịch tịnh, là bậc tự chủ, bậc Như Nhiên, là đấng chiến thắng những gì cần chiến thắng.”
316.
316.
316.
‘‘Dhīro vigatasammoho, anejo akathaṃkathī;
Tusito † vantadososi, nimmalo saṃyato suci.
Steadfast, with delusion departed, desireless, free from doubt; you are contented, one who has purged all faults, stainless, restrained, and pure.
“Ngài là bậc kiên định, đã thoát khỏi si mê, không còn tham ái, không còn hoài nghi. Ngài là bậc tri túc, đã từ bỏ các lỗi lầm, không còn cấu uế, có sự thu thúc, và trong sạch.”
317.
317.
317.
‘‘Saṅgātigo hatamado †, tevijjo tibhavantago;
Sīmātigo dhammagaru, gatattho hitavabbhuto †.
Gone beyond attachment, with conceit destroyed, possessing the three knowledges, gone to the end of the three existences; gone beyond boundaries, revering the Dhamma, you have reached the goal and are wonderful.
“Ngài đã vượt qua sự dính mắc, đã diệt trừ kiêu mạn, là bậc Tam Minh, đã đi đến tận cùng ba cõi. Ngài đã vượt qua giới hạn, tôn kính Giáo Pháp, đã đạt được mục đích, quả là điều kỳ diệu.”
318.
318.
318.
‘‘Tārako tvaṃ yathā nāvā, nidhīvassāsakārako;
Asambhīto yathā sīho, gajarājāva dappito.
You are a rescuer like a ship, a source of solace like a treasure; fearless like a lion, tamed like a king elephant.
“Ngài là đấng cứu độ giống như con thuyền, là người tạo ra sự an ổn giống như kho tàng. Ngài không sợ hãi giống như con sư tử, và oai vệ giống như voi chúa.”
319.
319.
319.
‘‘Thometvā dasagāthāhi, padumuttaraṃ mahāyasaṃ;
Vanditvā satthuno pāde, tuṇhī aṭṭhāsahaṃ tadā.
Having praised the greatly renowned Padumuttara with ten verses, and having paid homage to the Teacher's feet, I then stood silently.
“Khi ấy, sau khi đã tán thán đức Phật Padumuttara, bậc có danh tiếng lẫy lừng, bằng mười bài kệ, và sau khi đã đảnh lễ đôi chân của bậc Đạo Sư, tôi đã đứng im lặng.”
320.
320.
320.
‘‘Padumuttaro lokavidū, āhutīnaṃ paṭiggaho;
Bhikkhusaṅghe ṭhito satthā, imā gāthā abhāsatha.
Padumuttara, the knower of worlds, the worthy recipient of offerings, the Teacher, standing amidst the Saṅgha of monks, spoke these verses:
Bậc Đạo Sư Padumuttara, bậc Thông Tỏ Thế Gian, bậc Xứng Đáng Thọ Lãnh Lễ Vật, trong khi đang đứng giữa chúng Tăng, đã nói lên những bài kệ này.
321.
321.
321.
‘‘‘Yo me sīlañca ñāṇañca, saddhammañcāpi vaṇṇayi †;
Tamahaṃ kittayissāmi, suṇātha mama bhāsato.
‘Whoever has praised my virtue, wisdom, and also the good Dhamma, I shall proclaim him; listen to me as I speak.
“‘Vị nào đã tán dương về giới hạnh, trí tuệ, và cả Chánh Pháp của ta, ta sẽ tuyên dương về vị ấy. Các ngươi hãy lắng nghe lời của ta đang nói đây.’”
322.
322.
322.
‘‘‘Saṭṭhi kappasahassāni, devaloke ramissati;
Aññe devebhibhavitvā, issaraṃ kārayissati.
‘For sixty thousand aeons, he will delight in the world of the devas; having surpassed other devas, he will exercise sovereignty.’
“‘Vị ấy sẽ hưởng lạc ở cõi trời trong sáu mươi ngàn đại kiếp. Sau khi vượt trội hơn các vị trời khác, vị ấy sẽ thực thi quyền tối thượng.’”
323.
323.
323.
‘‘‘So pacchā pabbajitvāna, sukkamūlena codito;
Gotamassa bhagavato, sāsane pabbajissati.
‘Later, having gone forth, impelled by wholesome roots, he will go forth in the dispensation of the Blessed One Gotama.’
“‘Về sau, vị ấy sẽ xuất gia, được thúc đẩy bởi căn lành, và sẽ xuất gia trong giáo pháp của đức Thế Tôn Gotama.’”
324.
324.
324.
‘‘‘Pabbajitvāna kāyena, pāpakammaṃ vivajjiya;
Sabbāsave pariññāya, nibbāyissatināsavo’.
‘Having gone forth and abandoned evil deeds of the body, having fully understood all the taints, he will attain Nibbāna, free from taints.’
“‘Sau khi xuất gia, vị ấy sẽ từ bỏ việc làm ác bằng thân, sau khi đã liễu tri tất cả các lậu hoặc, sẽ là bậc vô lậu và sẽ tịch diệt.’”
325.
325.
325.
‘‘Yathāpi megho thanayaṃ, tappeti mediniṃ imaṃ;
Tatheva tvaṃ mahāvīra, dhammena tappayī mamaṃ.
Just as a thundering cloud satisfies this earth, so too, O great hero, you satisfied me with the Dhamma.
“Giống như đám mây đang sấm vang làm cho mặt đất này được thỏa mãn, cũng tương tự như thế, hỡi bậc Đại Hùng, ngài đã làm cho tôi được thỏa mãn với Giáo Pháp.”
326.
326.
326.
‘‘Sīlaṃ paññañca dhammañca, thavitvā lokanāyakaṃ;
Pattomhi paramaṃ santiṃ, nibbānaṃ padamaccutaṃ.
Having praised the virtue, wisdom, the Dhamma, and the Leader of the World, I have attained the supreme peace, Nibbāna, the deathless state.
Sau khi đã tán thán giới hạnh, trí tuệ, và Giáo Pháp của bậc Lãnh Đạo Thế Gian, tôi đã chứng đạt được sự an tịnh tối thượng, trạng thái bất tử là Niết Bàn.
327.
327.
327.
‘‘Aho nūna sa bhagavā, ciraṃ tiṭṭheyya cakkhumā;
Aññātañca vijāneyyuṃ, phuseyyuṃ † amataṃ padaṃ.
Oh, indeed! If only that Blessed One, the Seeing One, would remain for a long time! They would come to know the unknown and attain the deathless state.
“Ôi, chắc chắn rằng nếu đức Thế Tôn ấy, bậc có mắt tuệ, trụ thế được lâu dài, thì chúng sanh sẽ biết được điều chưa được biết và sẽ chứng ngộ được trạng thái bất tử.”
328.
328.
328.
‘‘Ayaṃ me pacchimā jāti, bhavā sabbe samūhatā;
Sabbāsave pariññāya, viharāmi anāsavo.
This is my last birth; all existences are uprooted. Having fully understood all taints, I dwell free from taints.
“Đây là kiếp sống cuối cùng của tôi, tất cả các hữu đã được nhổ sạch. Sau khi đã liễu tri tất cả các lậu hoặc, tôi sống không còn lậu hoặc.”
329.
329.
329.
‘‘Satasahassito kappe, yaṃ buddhamabhithomayiṃ
Duggatiṃ nābhijānāmi, kittanāya idaṃ phalaṃ.
A hundred thousand aeons ago, when I praised the Buddha, I have not known a bad destination; this is the fruit of that praise.
“Cách đây một trăm ngàn đại kiếp, khi tôi đã tán thán đức Phật, từ đó tôi không còn biết đến khổ cảnh. Đây là quả báu của việc tán thán.”
330.
330.
330.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ, bhavā sabbe samūhatā;
Sabbāsavā parikkhīṇā, natthi dāni punabbhavo.
My defilements are burned away, all existences are uprooted, all taints are exhausted; now there is no more renewed existence.
“Các phiền não của tôi đã được đốt sạch, tất cả các hữu đã được nhổ sạch. Tất cả các lậu hoặc đã được đoạn tận, bây giờ không còn tái sanh nữa.”
331.
331.
331.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Welcome indeed was my coming… the Buddha’s teaching has been done.
“Thật vậy, sự đến của tôi là một sự khéo đến... Giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.”
332.
332.
332.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four kinds of analytical knowledge… the Buddha’s teaching has been done.
“Bốn Tuệ Phân Tích... Giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā sabbakittiko thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed, the Venerable Elder Sabbakittika spoke these verses.
Như vậy, Đại đức Trưởng lão Sabbakittika đã thuyết những bài kệ này.
Sabbakittikattherassāpadānaṃ tatiyaṃ.
The third Apadāna of the Elder Sabbakittika is finished.
Ký sự về trưởng lão Sabbakittika là thứ ba.