Bản dịch
THA -ap394 — Ký Sự về Trưởng Lão Sela
Selattheraapadāna
BJT 3581Tôi đã là vị chủ quản đường lộ ở thành phố Haṁsavatī. Tôi đã tập hợp thân quyến của tôi lại và đã nói lời nói này:
BJT 3582“Đức Phật, Phước Điền vô thượng, đã hiện khởi ở thế gian. Ngài là vị thọ nhận các vật hiến cúng của toàn bộ thế gian.
BJT 3583Các vị Sát-đế-lỵ, luôn cả các thị dân, và các Bà-la-môn vô cùng sang trọng có tâm tịnh tín có ý vui mừng, họ đã thể hiện tinh thần cộng đồng.
BJT 3584Các người nài voi, các lính ngự lâm, các người đánh xe, các binh lính có tâm tịnh tín có ý vui mừng, họ đã thể hiện tinh thần cộng đồng.
BJT 3585Các vị con lai (có cha dòng Sát-đế-lỵ và mẹ là nô bộc), các người con trai của đức vua, các thương buôn, và các Bà-la-môn có tâm tịnh tín có ý vui mừng, họ đã thể hiện tinh thần cộng đồng.
BJT 3586Các người đầu bếp, các người phục vụ, các người hầu tắm, các người làm tràng hoa có tâm tịnh tín có ý vui mừng, họ đã thể hiện tinh thần cộng đồng.
BJT 3587Các người thợ nhuộm, các người thợ dệt, các người thuộc da, và các người thợ cạo có tâm tịnh tín có ý vui mừng, họ đã thể hiện tinh thần cộng đồng.
BJT 3588Các người làm tên, các người thợ tiện, các người thợ da, luôn cả các người thợ mộc có tâm tịnh tín có ý vui mừng, họ đã thể hiện tinh thần cộng đồng.
BJT 3589Các người thợ rèn, các người thợ vàng, cũng vậy các người thợ thiếc có tâm tịnh tín có ý vui mừng, họ đã thể hiện tinh thần cộng đồng.
BJT 3590Các người làm công, luôn cả các trẻ sai vặt, nhiều kẻ nô lệ làm công, tùy theo năng lực của mình họ đã thể hiện tinh thần cộng đồng.
BJT 3591Các người gánh nước, các người gánh củi, các nông dân, và các người gánh cỏ, tùy theo năng lực của mình họ đã thể hiện tinh thần cộng đồng.
BJT 3592Các người trồng hoa, luôn cả các người làm tràng hoa, các người hốt lá, các người gánh trái cây, tùy theo năng lực của mình họ đã thể hiện tinh thần cộng đồng.
BJT 3593Các cô kỹ nữ, các cô hầu đội nước, các cô bán bánh, và các bà bán cá, tùy theo năng lực của mình họ đã thể hiện tinh thần cộng đồng.
BJT 3594Xin quý vị hãy đi đến. Tất cả chúng ta hãy tụ hội lại và cùng nhau kết hợp lại thành nhóm. Chúng ta sẽ thực hiện hành động hướng thượng đến Phước Điền vô thượng.”
BJT 3595Sau khi lắng nghe lời nói của tôi, họ đã tức thời kết hợp lại thành nhóm và đã cho thực hiện hội trường phục vụ được xây dựng khéo léo dành cho Hội Chúng tỳ khưu.
BJT 3596Sau khi cho làm hoàn tất hội trường ấy, tôi đã trở nên phấn khởi, có tâm ý hớn hở. Được tất cả những người ấy tháp tùng, tôi đã đi đến gặp bậc Toàn Giác.
BJT 3597Sau khi đi đến gần bậc Toàn Giác, đấng Bảo Hộ Thế Gian, bậc Nhân Ngưu, tôi đã đảnh lễ ở bàn chân của bậc Đạo Sư và đã nói lời nói này:
BJT 3598“Bạch đấng Anh Hùng, ba trăm người nam này là cùng nhóm. Bạch bậc Hiền Trí, họ cống hiến đến Ngài hội trường phục vụ đã được xây dựng khéo léo.”
BJT 3599Bậc Hữu Nhãn đứng đầu Hội Chúng tỳ khưu đã tiếp nhận, và trước ba trăm người Ngài đã nói lên những lời kệ này:
BJT 3600“Ba trăm người cùng với vị trưởng thượng đã hợp tác cùng nhau. Sau khi thực hiện, tất cả các ngươi sẽ thọ hưởng thành quả.
BJT 3601Khi đạt đến kiếp sống cuối cùng, các ngươi sẽ chạm được Niết Bàn an tịnh, có trạng thái mát mẻ, vô thượng, không già, không chết.”
BJT 3602Đức Phật, bậc Toàn Tri, vị Sa-môn vô thượng, đã chú nguyện như thế. Sau khi lắng nghe lời nói của đức Phật, tôi đã bày tỏ sự vui mừng.
BJT 3603Tôi đã sướng vui ở thế giới chư Thiên ba mươi ngàn kiếp. Và tôi đã là vị thống lãnh chư Thiên cai quản Thiên quốc năm trăm lần.
BJT 3604Và tôi đã trở thành đấng Chuyển Luân Vương một ngàn lần. Các vị Đại Thiên đã đảnh lễ tôi khi tôi đang cai quản Thiên quốc.
BJT 3605Ở đây, trong vương quốc nhân loại, nhóm người (trước đây) trở thành bà con họ hàng. Khi kiếp sống cuối cùng đã đến, có người Bà-la-môn tên Vāseṭṭha.
BJT 3606Tôi đã là người con trai của vị ấy, có sự tích lũy tám mươi koṭi (tám trăm triệu). Tên của tôi là Sela. Tôi đạt đến sự toàn hảo về sáu chi phần (của vị Bà-la-môn).
BJT 36073608. Trong khi dẫn đầu những người học trò của mình đi bách bộ đó đây, tôi đã nhìn thấy vị đạo sĩ khổ hạnh tên Keṇiya, mang búi tóc và giỏ vật dụng, có vật cúng hiến đã được chuẩn bị, và tôi đã nói lời nói này: “Có phải ông đã thỉnh mời cô dâu, hoặc chú rể, hay là đức vua?”
BJT 3609“Tôi có ý định dâng tặng vật hiến cúng đến vị Bà-la-môn đã được công nhận là vị Trời. Tôi không thỉnh mời đức vua, vật hiến cúng của tôi không có.
BJT 3610Và tôi thì không có cô dâu, chú rể của tôi thì không được biết đến. Còn vị đem lại niềm hoan hỷ cho dòng họ Sakya là bậc Trưởng Thượng ở thế gian luôn cả chư Thiên.
BJT 3611Vị ấy là nguồn đem lại sự an lạc cho tất cả chúng sanh, vì sự lợi ích và tấn hóa của toàn bộ thế gian, vị ấy đã được tôi thỉnh mời ngày hôm nay. Đây là vật chuẩn bị cho vị ấy.
BJT 3612Đức Phật đã được (tôi) thỉnh mời vào ngày mai là vị có màu da tợ như trái cây timbarū, là bậc vô lượng, vô song, không thể sánh bằng về dáng vóc.
BJT 3613Đức Phật, đấng Đại Hùng đã được tôi thỉnh mời ấy trông tợ thỏi vàng đặt ở cửa miệng lò nung, như là than gỗ khadira cháy rực, tương tợ tia chớp.
BJT 3614Đức Phật đã được tôi thỉnh mời ấy giống như ngọn lửa ở đỉnh ngọn núi, tợ như mặt trăng vào ngày rằm, giống như là màu sắc ngọn lửa của cây sậy.
BJT 3615Đức Phật, đấng Đại Hùng đã được tôi thỉnh mời ấy như là con sư tử, không bị hãi sợ, đã vượt qua sự sợ hãi, là bậc Hiền Trí có sự chấm dứt việc tái sanh.
BJT 3616Đức Phật, đấng Đại Hùng đã được tôi thỉnh mời ấy là vị thiện xảo trong các pháp của chư Phật. Ngài không bao giờ bị áp bức bởi những kẻ khác, tương tợ con voi.
BJT 3617Đức Phật, đấng Đại Hùng đã được tôi thỉnh mời ấy là vị thiện xảo về sự thực hành trong Chánh Pháp, là vị Phật hùng tráng không thể sánh bằng, tương tợ con bò mộng.
BJT 3618Đức Phật, đấng Đại Hùng đã được tôi thỉnh mời ấy là vị có phẩm hạnh vô biên, có danh vọng vô lượng, có tất cả tướng mạo rực rỡ, tương tợ (Chúa Trời) Sakka.
BJT 3619Đức Phật, đấng Đại Hùng đã được tôi thỉnh mời ấy là vị có năng lực, có đồ chúng, có sự huy hoàng, có sự vẻ vang, khó mà tiếp cận, tương tợ đấng Phạm Thiên.
BJT 3620Đức Phật, đấng Đại Hùng đã được tôi thỉnh mời ấy có Giáo Pháp đã đạt, là đấng Thập Lực, là bậc thông thạo về năng lực và siêu năng lực, tương tợ trái đất.
BJT 3621Đức Phật, đấng Đại Hùng đã được tôi thỉnh mời ấy được vây bủa bởi các làn sóng giới hạnh, không bị lay động do sự nhận thức (của giác quan) đối với các đối tượng, tương tợ biển cả.
BJT 3622Đức Phật, đấng Đại Hùng đã được tôi thỉnh mời ấy là khó mà tiếp cận, khó mà chế ngự, không bị lay chuyển, hướng thượng, cao thượng, tương tợ núi Neru.
BJT 3623Đức Phật, đấng Đại Hùng đã được tôi thỉnh mời ấy có trí tuệ vô biên, tương đương với bậc không thể sánh bằng, không thể ước lượng, đã đạt đến tột đỉnh, tương tợ bầu không gian.
BJT 3624Đức Phật, đấng Đại Hùng đã được tôi thỉnh mời ấy là vị an ủi, là chốn nâng đỡ cho những kẻ bị khiếp hãi lo sợ, là sự bảo vệ cho những người đến nương nhờ.
BJT 3625Đức Phật, đấng Đại Hùng đã được tôi thỉnh mời ấy là hầm mỏ châu báu, là chỗ trú của những người có trí giác ngộ, là Phước Điền của những người tầm cầu sự an lạc.
BJT 3626Đức Phật, đấng Đại Hùng đã được tôi thỉnh mời ấy là bậc an ủi, tạo ra niềm phấn khởi, là đấng ban phát quả vị Sa-môn, tương tợ đám mây (đem lại cơn mưa).
BJT 3627Đức Phật, đấng Đại Hùng đã được tôi thỉnh mời ấy là con mắt của thế gian, có oai lực lớn lao, là sự xua đi tất cả các bóng tối, tương tợ mặt trời (xua tan đêm đen).
BJT 3628Đức Phật, đấng Đại Hùng đã được tôi thỉnh mời ấy là bậc Hiền Trí có sự nhìn thấy bản thể trong các sự giải thoát khỏi đối tượng của các giác quan, tương tợ mặt trăng (lìa bỏ các chỗ đã rọi đến).
BJT 3629Đức Phật, đấng Đại Hùng đã được tôi thỉnh mời ấy là bậc trưởng thượng, đã tự mình vươn lên ở thế gian, được tô điểm với các tướng mạo, là bậc vô lượng.
BJT 3630Vị nào có trí tuệ không thể đo lường, vị nào có giới không thể tương đương, vị nào có sự giải thoát không thể sánh bằng, vị ấy là Đức Phật đã được tôi thỉnh mời.
BJT 3631Vị nào có nghị lực không sánh bằng được, vị nào có sức mạnh không nên suy tưởng, vị nào có sự nỗ lực hàng đầu, vị ấy là đức Phật đã được tôi thỉnh mời.
BJT 3632Đức Phật, đấng Đại Hùng đã được tôi thỉnh mời ấy có tất cả các chất độc hại là tham, sân, và si đã được xóa sạch, tương tợ thuốc chữa bệnh.
BJT 3633Đức Phật, đấng Đại Hùng đã được tôi thỉnh mời ấy có sự xua đi căn bệnh phiền não, nhiều sự khổ đau, và tất cả các bóng tối, tương tợ vị lương y.”
BJT 3634“Này ông, vị mà ông nói là ‘Đức Phật,’ thậm chí tiếng gọi ấy cũng khó mà đạt được.” Sau khi được nghe rằng: ‘Đức Phật! Đức Phật!’ đã có sự phỉ lạc sanh khởi đến tôi.
BJT 3635Niềm phỉ lạc của tôi không (thể) nắm giữ ở bên trong đã bộc lộ ra ngoài. Trong khi có tâm phỉ lạc, tôi đây đã nói lời nói này:
BJT 3636“Vậy thì đức Thế Tôn, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu ấy là ở đâu? Tôi sẽ đi đến nơi ấy và sẽ đảnh lễ đấng ban phát quả vị Sa-môn.”
BJT 3637Sau khi nắm lấy cánh tay phải (của tôi), (vị đạo sĩ Keṇiya) tràn đầy niềm phấn khởi, tay chắp lại, đã nói với tôi về đấng Pháp Vương, bậc có sự xua đi các mũi tên sầu muộn, rằng:
BJT 3638“Ông hãy nhìn xem khu rừng lớn này tợ như đám mây khổng lồ đang trỗi dậy, như là lớp thuốc bôi màu lục, trông như là biển cả.
BJT 3639Đức Phật, bậc Điều Phục những ai chưa được điều phục, đấng Hiền Trí ấy ngự ở nơi đây, đang hướng dẫn những người cần được hướng dẫn và giúp cho họ giác ngộ những chi phần giác ngộ.”
BJT 3640Tợ như người khát nước tìm kiếm nước, tợ như người bị đói tìm kiếm thức ăn, như là bò mẹ khao khát con bê, tôi đã tìm đến đấng Chiến Thắng tương tợ như thế.
BJT 3641Là người biết lối hành xử và cách tiếp cận hay dở thích hợp với tình huống, tôi đã chỉ dạy những người học trò của mình trong khi họ đang đi đến chỗ của đấng Chiến Thắng rằng:
BJT 3642“Này các chàng trai, các đấng Thế Tôn là khó mà tiếp cận, tợ như những con sư tử có sở hành đơn độc, các trò nên đi đến, bước từng bước từng bước một.
BJT 3643Giống như con rắn độc khủng khiếp, tợ như con sư tử vua của loài thú, tợ như con voi có ngà đã bị nổi cơn, chư Phật là khó mà tiếp cận như thế ấy.
BJT 3644Này các chàng trai, hãy kềm lại sự ho khan và khịt mũi. Các trò hãy đi đến gần bên đức Phật, bước từng bước từng bước một.
BJT 3645Chư Phật là các vị thầy của thế gian luôn cả chư Thiên, là những bậc quý trọng sự yên tịnh, ít gây tiếng động, khó mà tiếp cận, khó đến gần bên.
BJT 3646Khi ta hỏi câu hỏi hoặc là trao đổi xã giao, khi ấy các trò hãy im lặng, hãy đứng yên như là có bản chất của bậc hiền trí.
BJT 3647Về Chánh Pháp mà vị ấy thuyết giảng nhằm đạt đến Niết Bàn an ổn, các trò hãy chú tâm đến ý nghĩa ấy. Việc lắng nghe Chánh Pháp là hạnh phúc.”
BJT 3648Sau khi đi đến gần bậc Toàn Giác, tôi đã chào hỏi với bậc Hiền Trí. Sau khi đã trao đổi lời thăm hỏi ấy, tôi đã quan sát các tướng mạo.
BJT 3649Tôi nhìn thấy ba mươi tướng mạo, nhưng tôi vẫn còn hoài nghi về hai tướng mạo. Đấng Hiền Trí đã dùng thần thông cho thấy vật kín có lớp vỏ bọc lại.
BJT 3650Đấng Chiến Thắng đã thè lưỡi ra uốn lại, rồi đã chạm vào lỗ tai và lỗ mũi, (sau đó) đã che lấp toàn bộ cái trán.
BJT 3651Sau khi nhìn thấy các tướng mạo được đầy đủ cùng với các tướng phụ của Ngài, tôi đã đi đến kết luận là “Đức Phật,” và đã xuất gia cùng với các người học trò.
BJT 3652Cùng với ba trăm (người học trò), tôi đã xuất gia vào đời sống không gia đình. Chưa đến nửa tháng, tất cả chúng tôi đã đạt được Niết Bàn.
BJT 3653Sau khi đã cùng nhau thực hiện công việc ở Phước Điền vô thượng, sau khi đã cùng nhau luân hồi, họ đã cùng nhau dừng lại.
BJT 3654Sau khi dâng cúng các cây đà chống, tôi đã sống theo tính chất cộng đồng. Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp, tôi đạt được tám nhân tố:
BJT 3655Tôi được tôn vinh ở các phương, và của cải của tôi là vô lượng, tôi là chốn nâng đỡ cho tất cả, sự run sợ của tôi không được biết đến.
BJT 3656Các bệnh tật của tôi không được biết đến, và tôi gìn giữ được tuổi thọ, tôi là người có làn da mềm mại, tôi cư ngụ ở trú xứ đã được mong mỏi.
BJT 3657Sau khi dâng cúng tám cây đà chống, tôi đã sống theo tính chất cộng đồng. Tôi có các tuệ phân tích và phẩm vị A-la-hán, điều này là phần phụ trội của điều thứ tám.
BJT 3658Bạch đấng Đại Hiền Trí, con có toàn bộ nguồn nhiên liệu đã cạn, có phận sự đã được làm xong, không còn lậu hoặc, là người con trai của Ngài, có tên là Aṭṭhagopānasī.
BJT 3659Sau khi dâng cúng năm cây cột trụ, tôi đã sống theo tính chất cộng đồng. Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp, tôi đạt được năm nhân tố:
BJT 3660Tôi không dao động nhờ vào tâm từ ái, tôi có các bộ phận cơ thể không bị thiếu sót, tôi có lời nói được thừa nhận, cũng vậy tôi không bị công kích.
BJT 3661Tâm của tôi không bị tản mạn, tôi không bị dao động bởi bất cứ điều gì. Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp, tôi không bị bợn nhơ ở trong Giáo Pháp.
BJT 3662Bạch đấng Đại Hùng, bạch bậc Hiền Trí, vị tỳ khưu Thinh Văn của Ngài có sự tôn kính, có sự phục tùng, có phận sự đã được làm xong, không còn các lậu hoặc, xin đảnh lễ Ngài.
BJT 3663Tôi đã thực hiện chiếc ghế bành được làm khéo léo và đã bố trí ở hội trường. Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp, tôi đạt được năm nhân tố:
BJT 3664Sau khi được sanh vào gia tộc thượng lưu, tôi có của cải lớn lao. Tôi là người được thành tựu mọi thứ, sự bỏn xẻn ở tôi không được biết đến.
BJT 3665Khi tôi mong muốn ra đi, chiếc ghế bành hiện diện kế bên. Bằng chiếc ghế bành tối thượng, tôi đi đến nơi đã được tôi mong muốn.
BJT 3666Do việc dâng cúng chiếc ghế bành ấy, tôi đã xua đi tất cả bóng tối. Bạch đấng Hiền Trí, vị trưởng lão đã đạt được toàn bộ năng lực của thắng trí xin đảnh lễ Ngài.
BJT 3667Tôi đã hoàn thành tất cả các phận sự, phận sự của mình và phận sự đối với người khác. Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp, tôi đã đi vào thành phố không sợ hãi (Niết Bàn).
BJT 3668Tôi đã dâng cúng vật hữu dụng chính là hội trường đã được hoàn thành. Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp, tôi đã đạt đến bản thể tối thượng.
BJT 3669Bất cứ các huấn luyện viên nào ở thế gian, khi họ huấn luyện các con voi, các con ngựa, họ thực hiện nhiều cách hành hạ khác nhau, họ huấn luyện bằng sự tàn bạo.
BJT 3670Bạch đấng Đại Hùng, Ngài không huấn luyện các người nam và nữ như thế ấy. Ngài huấn luyện trong sự huấn luyện tối thượng, không gậy, không dao.
BJT 3671Trong khi tán dương các đức tính của sự bố thí, bậc Hiền Trí là vị thiện xảo về việc thuyết giảng. Ngay trong khi đang trả lời một câu hỏi, bậc Hiền Trí đã giác ngộ cho ba trăm người.
BJT 3672Được đấng Điều Ngự huấn luyện, chúng tôi đã được hoàn toàn giải thoát, không còn lậu hoặc, đã đạt được toàn bộ năng lực của thắng trí, đã được tịch diệt về sự đoạn tận mầm mống tái sanh.
BJT 3673Kể từ khi tôi đã dâng cúng vật thí trước đây một trăm ngàn kiếp, tất cả các điều lo sợ đã được vượt qua; điều này là quả báu của việc dâng cúng hội trường.
BJT 3674Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật vào thời hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 3675Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 3676Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Sela đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
2. Selattheraapadānaṃ
2. The Apadāna of the Elder Sela
2. Ký sự về trưởng lão Sela
208.
208.
208.
‘‘Nagare haṃsavatiyā, vīthisāmī ahosahaṃ;
Mama ñātī samānetvā, idaṃ vacanamabraviṃ.
In the city of Haṃsavatī, I was a master of the road. Having gathered my relatives, I spoke this word:
“Ở tại thành phố Haṃsavatī, tôi đã là người chủ con đường. Sau khi tập hợp các quyến thuộc của tôi, tôi đã nói lên lời này:
209.
209.
209.
‘‘‘Buddho loke samuppanno, puññakkhetto anuttaro †;
Āsi so † sabbalokassa, āhutīnaṃ paṭiggaho.
‘A Buddha has arisen in the world, an unsurpassed field of merit. He was the worthy recipient of offerings for the entire world.’
“‘Vị Phật đã sanh khởi ở thế gian, là ruộng phước vô thượng. Vị ấy là người xứng đáng thọ nhận các vật cúng dường của tất cả thế gian.
210.
210.
210.
‘‘‘Khattiyā negamā ceva, mahāsālā ca brāhmaṇā;
Pasannacittā sumanā, pūgadhammaṃ akaṃsu te.
‘Nobles and townsfolk, and Brahmins of great wealth, with devoted and gladdened minds, they performed a collective meritorious act.’
“‘Các vị Sát-đế-lợi, các thị dân, và các vị Bà-la-môn đại phú, những vị ấy có tâm ý trong sạch, có tâm hoan hỷ đã cùng nhau thực hiện việc phước thiện.
211.
211.
211.
‘‘‘Hatthārohā anīkaṭṭhā, rathikā pattikārakā;
Pasannacittā sumanā, pūgadhammaṃ akaṃsu te.
‘Elephant riders, cavalrymen, charioteers, and foot soldiers, with devoted and gladdened minds, they performed a collective meritorious act.’
“‘Những người quản tượng, những người chỉ huy quân đội, những người đánh xe, những người bộ hành, những vị ấy có tâm ý trong sạch, có tâm hoan hỷ đã cùng nhau thực hiện việc phước thiện.
212.
212.
212.
‘‘‘Uggā ca rājaputtā ca, vesiyānā ca brāhmaṇā;
Pasannacittā sumanā, pūgadhammaṃ akaṃsu te.
‘Eminent persons and princes, merchants and Brahmins, with devoted and gladdened minds, they performed a collective meritorious act.’
“‘Các vị Ugga, các vương tử, các thương gia, và các vị Bà-la-môn, những vị ấy có tâm ý trong sạch, có tâm hoan hỷ đã cùng nhau thực hiện việc phước thiện.
213.
213.
213.
‘‘‘Āḷārikā kappakā † ca, nhāpakā mālakārakā;
Pasannacittā sumanā, pūgadhammaṃ akaṃsu te.
‘Cooks and barbers, bath attendants and garland-makers, with devoted and gladdened minds, they performed a collective meritorious act.’
“‘Những người đầu bếp, những người thợ hớt tóc, những người phục vụ phòng tắm, những người làm vòng hoa, những vị ấy có tâm ý trong sạch, có tâm hoan hỷ đã cùng nhau thực hiện việc phước thiện.
214.
214.
214.
‘‘‘Rajakā pesakārā ca, cammakārā ca nhāpitā;
Pasannacittā sumanā, pūgadhammaṃ akaṃsu te.
‘Washermen and weavers, leather-workers and barbers, with devoted and gladdened minds, they performed a collective meritorious act.’
“‘Những người thợ giặt, những người thợ dệt, những người thợ thuộc da, và những người thợ cạo, những vị ấy có tâm ý trong sạch, có tâm hoan hỷ đã cùng nhau thực hiện việc phước thiện.
215.
215.
215.
‘‘‘Usukārā bhamakārā, cammakārā ca tacchakā;
Pasannacittā sumanā, pūgadhammaṃ akaṃsu te.
‘Arrow-makers and turners, leather-workers and carpenters, with devoted and gladdened minds, they performed a collective meritorious act.’
“‘Những người làm tên, những người thợ tiện, những người thợ thuộc da, và những người thợ mộc, những vị ấy có tâm ý trong sạch, có tâm hoan hỷ đã cùng nhau thực hiện việc phước thiện.
216.
216.
216.
‘‘‘Kammārā soṇṇakārā ca, tipulohakarā tathā;
Pasannacittā sumanā, pūgadhammaṃ akaṃsu te.
‘Blacksmiths and goldsmiths, and likewise workers in tin and bronze, with devoted and gladdened minds, they performed a collective meritorious act.’
“‘Những người thợ rèn, những người thợ vàng, và cũng vậy những người thợ làm chì và thiếc, những vị ấy có tâm ý trong sạch, có tâm hoan hỷ đã cùng nhau thực hiện việc phước thiện.
217.
217.
217.
‘‘‘Bhatakā ceṭakā ceva, dāsakammakarā bahū;
Yathāsakena thāmena, pūgadhammaṃ akaṃsu te.
‘Hired workers and servants, and many slaves and laborers, according to their own ability, they performed a collective meritorious act.’
“‘Những người làm thuê, các người phục vụ, và nhiều người nô lệ và công nhân, những vị ấy đã cùng nhau thực hiện việc phước thiện tùy theo khả năng của mình.
218.
218.
218.
‘‘‘Udahārā kaṭṭhahārā, kassakā tiṇahārakā;
Yathāsakena thāmena, pūgadhammaṃ akaṃsu te.
‘Water-carriers, wood-gatherers, farmers, and grass-cutters, according to their own ability, they performed a collective meritorious act.’
“‘Những người mang nước, những người mang củi, những người nông dân, những người cắt cỏ, những vị ấy đã cùng nhau thực hiện việc phước thiện tùy theo khả năng của mình.
219.
219.
219.
‘‘‘Pupphikā mālikā ceva, paṇṇikā phalahārakā;
Yathāsakena thāmena, pūgadhammaṃ akaṃsu te.
‘Flower-gatherers and garland-makers, vegetable-sellers and fruit-sellers, according to their own ability, they performed a collective meritorious act.’
“‘Những người hái hoa, những người bán vòng hoa, những người bán rau, những người mang trái cây, những vị ấy đã cùng nhau thực hiện việc phước thiện tùy theo khả năng của mình.
220.
220.
220.
‘‘‘Gaṇikā kumbhadāsī ca, pūvikā † macchikāpi ca;
Yathāsakena thāmena, pūgadhammaṃ akaṃsu te.
‘Courtesans and slave-girls who carry water pots, cake-sellers and fisherwomen too, according to their own ability, they performed a collective meritorious act.’
“‘Các kỹ nữ, các nữ tỳ mang bình, những người bán bánh, và cả những người bán cá, những vị ấy đã cùng nhau thực hiện việc phước thiện tùy theo khả năng của mình.
221.
221.
221.
‘‘‘Etha sabbe samāgantvā, gaṇaṃ bandhāma ekato;
Adhikāraṃ karissāma, puññakkhette anuttare’.
‘Come, let us all gather together and form one group. We shall perform a great deed in the unsurpassed field of merit.’
“‘Tất cả hãy đến, sau khi tụ họp lại, chúng ta hãy cùng nhau kết thành đoàn thể. Chúng ta sẽ thực hiện sự phục vụ ở nơi ruộng phước vô thượng.’”
222.
222.
222.
‘‘Te me sutvāna vacanaṃ, gaṇaṃ bandhiṃsu tāvade;
Upaṭṭhānasālaṃ sukataṃ, bhikkhusaṅghassa kārayuṃ.
Having heard my word, they immediately formed a group. They had a well-made service hall built for the Sangha of monks.
“Sau khi nghe lời nói của tôi, họ đã lập tức kết thành đoàn thể. Họ đã cho xây dựng ngôi giảng đường phục vụ được làm một cách khéo léo cho Tăng chúng gồm các vị Tỳ khưu.
223.
223.
223.
‘‘Niṭṭhāpetvāna taṃ sālaṃ, udaggo tuṭṭhamānaso;
Pareto tehi sabbehi, sambuddhamupasaṅkamiṃ.
Having completed that hall, elated and with a pleased mind, surrounded by all of them, I approached the Fully Enlightened One.
“Sau khi hoàn tất ngôi giảng đường ấy, tôi phấn khởi, có tâm ý vui mừng, được tất cả những người ấy vây quanh, tôi đã đi đến gần đấng Chánh Đẳng Giác.
224.
224.
224.
‘‘Upasaṅkamma sambuddhaṃ, lokanāthaṃ narāsabhaṃ;
Vanditvā satthuno pāde, idaṃ vacanamabraviṃ.
Having approached the Fully Enlightened One, the Protector of the World, the Bull among Men, and having paid homage to the Teacher’s feet, I spoke this word:
“Sau khi đi đến gần đấng Chánh Đẳng Giác, là bậc Hộ Trì thế gian, là đấng Ngưu Vương giữa loài người, sau khi đảnh lễ đôi chân của bậc Đạo Sư, tôi đã nói lên lời này:
225.
225.
225.
‘‘‘Ime tīṇi satā vīra, purisā ekato gaṇā;
Upaṭṭhānasālaṃ sukataṃ, niyyādenti † tuvaṃ † muni’.
‘O Hero, these three hundred men, as one group, dedicate this well-made service hall to you, O Sage.’
“‘Thưa bậc Dũng Mãnh, ba trăm người này là một đoàn thể cùng nhau, thưa bậc Mâu-ni, họ dâng đến ngài ngôi giảng đường phục vụ được làm một cách khéo léo.’”
226.
226.
226.
‘‘Bhikkhusaṅghassa purato, sampaṭicchatva cakkhumā;
Tiṇṇaṃ satānaṃ purato, imā gāthā abhāsatha.
In front of the Sangha of monks, the One with Vision accepted it. In front of the three hundred, he spoke these verses:
“Bậc có Mắt đã chấp nhận ở trước Tăng chúng gồm các vị Tỳ khưu. Ở trước ba trăm người, ngài đã nói lên những câu kệ này.
227.
227.
227.
‘‘‘Tisatāpi ca jeṭṭho ca, anuvattiṃsu ekato;
Sampattiñhi † karitvāna, sabbe anubhavissatha.
‘The three hundred and their chief have acted in concert. Having made this accomplishment, you all will experience its reward.’
‘Ba trăm vị và vị trưởng lão, đã cùng nhau đi theo một lượt; sau khi đã cùng nhau tạo lập sự thành tựu, tất cả các ngươi sẽ hưởng thụ.
228.
228.
228.
‘‘‘Pacchime bhave sampatte, sītibhāvamanuttaraṃ;
Ajaraṃ amataṃ santaṃ, nibbānaṃ phassayissatha’.
‘Having reached your final existence, you will attain the unsurpassed state of coolness—the ageless, deathless, peaceful Nibbāna.’
‘Khi đã đạt đến kiếp sống cuối cùng, các ngươi sẽ chứng ngộ trạng thái mát mẻ, vô thượng, không già, bất tử, tịch tịnh, là Niết Bàn’.
229.
229.
229.
‘‘Evaṃ buddho viyākāsi, sabbaññū samaṇuttaro;
Buddhassa vacanaṃ sutvā, somanassaṃ pavedayiṃ.
Thus the Buddha, the All-Knower, the Supreme Ascetic, declared. Having heard the Buddha’s word, I experienced gladness.
‘Bậc Toàn Giác, bậc tối thượng giữa các Sa-môn, đức Phật đã thọ ký như vậy. Sau khi nghe lời dạy của đức Phật, tôi đã cảm nhận được sự hân hoan.
230.
230.
230.
‘‘Tiṃsa kappasahassāni, devaloke ramiṃ ahaṃ;
Devādhipo pañcasataṃ, devarajjamakārayiṃ.
“For thirty thousand kappas, I delighted in the deva world. Five hundred times, as lord of the devas, I exercised sovereignty.
‘Trong ba mươi ngàn kiếp, tôi đã vui hưởng ở cõi trời. Năm trăm lần làm thiên chủ, tôi đã trị vì vương quốc của chư thiên.
231.
231.
231.
‘‘Sahassakkhattuṃ rājā ca, cakkavattī ahosahaṃ;
Devarajjaṃ karontassa, mahādevā avandisuṃ.
“A thousand times I was a wheel-turning king. While I exercised sovereignty as king of the devas, the great devas paid homage to me.
‘Và một ngàn lần, tôi đã là vị vua Chuyển Luân. Trong khi trị vì vương quốc của chư thiên, các vị đại thiên đã đảnh lễ tôi.
232.
232.
232.
‘‘Idha mānusake rajjaṃ †, parisā honti bandhavā;
Pacchime bhave sampatte, vāseṭṭho nāma brāhmaṇo.
“Here in the human world, when I reigned, my retinue were my kinsmen. Having reached my final existence, there was a brahmin named Vāseṭṭha.
‘Tại đây, trong cõi người, khi trị vì vương quốc, quần chúng là quyến thuộc. Khi đã đạt đến kiếp sống cuối cùng, có vị Bà-la-môn tên là Vāseṭṭha.
233.
233.
233.
‘‘Asītikoṭi nicayo, tassa putto ahosahaṃ;
Selo iti mama nāmaṃ, chaḷaṅge pāramiṃ gato.
“He had a treasure of eighty crores, and I was his son. My name was Sela, and I had reached perfection in the six auxiliary Vedic disciplines.
‘(Vị ấy) có tài sản tích lũy tám mươi koṭi, tôi đã là con trai của vị ấy. Tên của tôi là Selo, tôi đã đạt đến sự toàn hảo về sáu chi phần (của Veda).
234.
234.
234.
‘‘Jaṅghāvihāraṃ vicaraṃ, sasissehi purakkhato;
Jaṭābhārikabharitaṃ, keṇiyaṃ nāma tāpasaṃ.
“Wandering on a walking tour, attended by my disciples, I saw an ascetic named Keṇiya, who was burdened by a mass of matted hair.
‘Trong khi đang đi du hành, được các đệ tử vây quanh, (tôi đã thấy) vị ẩn sĩ tên là Keṇiya, người mang gánh nặng bối tóc.
235.
235.
235.
‘‘Paṭiyattāhutiṃ disvā, idaṃ vacanamabraviṃ;
‘Āvāho vā vivāho vā, rājā vā te nimantito’.
“Seeing the sacrificial preparations, I spoke this word: ‘Is there a giving in marriage or a taking in marriage, or have you invited the king?’
‘Sau khi nhìn thấy vật cúng dường đã được chuẩn bị, tôi đã nói lên lời này: ‘Phải chăng có lễ cưới gả, hay lễ cưới hỏi, hoặc phải chăng nhà vua đã được ngài mời đến?’.
236.
236.
236.
‘‘Āhutiṃ † yiṭṭhukāmohaṃ, brāhmaṇe devasammate;
Na nimantemi rājānaṃ, āhutī me na vijjati.
“‘I wish to make an offering, but I do not invite brahmins esteemed by the gods, nor do I invite the king. This is no sacrifice of mine.’
‘Tôi không có ý muốn thực hiện lễ cúng dường, tôi không mời các vị Bà-la-môn được xem là chư thiên, tôi không mời nhà vua, tôi không có lễ cúng dường.
237.
237.
237.
‘‘Na catthi mayhamāvāho, vivāho me na vijjati;
Sakyānaṃ nandijanano, seṭṭho loke sadevake.
“‘For me, there is no giving in marriage, nor is there for me taking in marriage; He who brings delight to the Sakyans, the most excellent in the world with its devas—
‘Tôi không có lễ cưới gả, tôi không có lễ cưới hỏi. Bậc làm phát sinh niềm hoan hỷ cho dòng dõi Sakya, bậc tối thắng ở trên đời cùng với cõi trời.
238.
238.
238.
‘‘Sabbalokahitatthāya, sabbasattasukhāvaho;
So me nimantito ajja, tassetaṃ paṭiyādanaṃ.
“—for the welfare of the entire world, who brings happiness to all beings, that Buddha has been invited by me today; this is the preparation for him.
‘Vị ấy vì lợi ích cho toàn thể thế gian, vị ấy mang lại an lạc cho tất cả chúng sanh. Vị ấy đã được tôi thỉnh mời hôm nay, sự chuẩn bị này là dành cho vị ấy.
239.
239.
239.
‘‘Timbarūsakavaṇṇābho, appameyyo anūpamo;
Rūpenāsadiso buddho, svātanāya nimantito.
“‘With a complexion like the Timbarūsaka fruit, immeasurable, incomparable, the Buddha unequalled in form, is invited for tomorrow.
‘Vị Phật có màu sắc giống như trái timbarūsaka, không thể đo lường, không thể so sánh, không có ai sánh bằng về sắc tướng, đã được thỉnh mời cho ngày mai.
240.
240.
240.
‘‘Ukkāmukhapahaṭṭhova, khadiraṅgārasannibho;
Vijjūpamo mahāvīro, so me buddho nimantito.
“‘Like refined gold from a crucible, resembling a heap of Khadira embers; like lightning, the great hero, that Buddha is invited by me.
‘Vị ấy giống như vàng đã được tinh luyện trong lò, giống như than hồng của cây khadira, ví như tia chớp, bậc Đại Hùng. Vị Phật ấy đã được tôi thỉnh mời.
241.
241.
241.
‘‘Pabbatagge yathā acci, puṇṇamāyeva candimā;
Naḷaggivaṇṇasaṅkāso, so me buddho nimantito.
“‘Like a flame on a mountain peak, like the full moon; like the color of a reed-flame, that Buddha is invited by me.
‘Vị ấy như ngọn lửa trên đỉnh núi, như vầng trăng vào đêm rằm, có màu sắc giống như ngọn lửa lau sậy. Vị Phật ấy đã được tôi thỉnh mời.
242.
242.
242.
‘‘Asambhīto bhayātīto, bhavantakaraṇo muni;
Sīhūpamo mahāvīro, so me buddho nimantito.
“‘Unafraid, who has overcome fear, the sage who makes an end of existence; like a lion, the great hero, that Buddha is invited by me.
‘Vị ấy không run sợ, đã vượt qua sự sợ hãi, là bậc Mâu-ni chấm dứt sự hiện hữu, ví như con sư tử, bậc Đại Hùng. Vị Phật ấy đã được tôi thỉnh mời.
243.
243.
243.
‘‘Kusalo buddhadhammehi, apasayho parehi so;
Nāgūpamo mahāvīro, so me buddho nimantito.
“‘Skilled in the qualities of a Buddha, unassailable by others; like a great elephant, the great hero, that Buddha is invited by me.
‘Vị ấy thiện xảo về các Phật pháp, không thể bị kẻ khác áp đảo, ví như con voi chúa, bậc Đại Hùng. Vị Phật ấy đã được tôi thỉnh mời.
244.
244.
244.
‘‘Saddhammācārakusalo, buddhanāgo asādiso;
Usabhūpamo mahāvīro, so me buddho nimantito.
“‘Skilled in the practice of the good Dhamma, the Buddha who is a great being, without equal; like a bull, the great hero, that Buddha is invited by me.
‘Vị ấy thiện xảo trong việc thực hành Chánh Pháp, là bậc Phật-Long vương, không ai sánh bằng, ví như con bò đực đầu đàn, bậc Đại Hùng. Vị Phật ấy đã được tôi thỉnh mời.
245.
245.
245.
‘‘Anantavaṇṇo amitayaso, vicittasabbalakkhaṇo;
Sakkūpamo mahāvīro, so me buddho nimantito.
“‘Of infinite virtue, of immeasurable retinue, possessing all the varied characteristics; like Sakka, the great hero, that Buddha is invited by me.
‘Vị ấy có phẩm hạnh vô biên, danh tiếng vô lượng, có đầy đủ tất cả các tướng tốt đa dạng, ví như vị trời Đế Thích, bậc Đại Hùng. Vị Phật ấy đã được tôi thỉnh mời.
246.
246.
246.
‘‘Vasī gaṇī patāpī ca, tejassī ca durāsado;
Brahmūpamo mahāvīro, so me buddho nimantito.
“‘A master, leader of a following, of great effort and of great power, difficult to approach; like a Brahmā, the great hero, that Buddha is invited by me.
‘Vị ấy là bậc tự chủ, là vị giáo chủ, và là bậc oai hùng, và là bậc oai lực, khó có thể tiếp cận, ví như vị trời Phạm Thiên, bậc Đại Hùng. Vị Phật ấy đã được tôi thỉnh mời.
247.
247.
247.
‘‘Pattadhammo dasabalo, balātibalapārago;
Dharaṇūpamo mahāvīro, so me buddho nimantito.
“‘Who has attained the Dhamma, the Ten-Powered One, who has gone to the far shore of powers beyond powers; like the earth, the great hero, that Buddha is invited by me.
‘Vị ấy đã chứng đắc Chánh Pháp, là bậc Thập Lực, đã đi đến bờ kia của năng lực vượt trên năng lực, ví như quả đất, bậc Đại Hùng. Vị Phật ấy đã được tôi thỉnh mời.
248.
248.
248.
‘‘Sīlavīcisamākiṇṇo, dhammaviññāṇakhobhito;
Udadhūpamo mahāvīro, so me buddho nimantito.
“‘Replete with the waves of virtue, stirred by the special knowledge of the Dhamma; like the ocean, the great hero, that Buddha is invited by me.
‘Vị ấy tràn ngập những làn sóng của giới hạnh, được khuấy động bởi sự liễu tri về Chánh Pháp, ví như đại dương, bậc Đại Hùng. Vị Phật ấy đã được tôi thỉnh mời.
249.
249.
249.
‘‘Durāsado duppasaho, acalo uggato brahā;
Nerūpamo mahāvīro, so me buddho nimantito.
“‘Difficult to approach, invincible, unshakable, lofty, and great; like Mount Neru, the great hero, that Buddha is invited by me.
‘Vị ấy khó có thể tiếp cận, không thể bị khuất phục, không bị lay chuyển, là bậc cao cả, vĩ đại, ví như núi Neru, bậc Đại Hùng. Vị Phật ấy đã được tôi thỉnh mời.
250.
250.
250.
‘‘Anantañāṇo asamasamo, atulo aggataṃ gato;
Gaganūpamo mahāvīro, so me buddho nimantito.
“‘Of infinite knowledge, equal to the unequalled, without peer, who has attained the highest state; like the sky, the great hero, that Buddha is invited by me.
‘Vị ấy có trí tuệ vô biên, ngang bằng với bậc không ai sánh bằng, không thể so sánh, đã đạt đến trạng thái tối thượng, ví như hư không, bậc Đại Hùng. Vị Phật ấy đã được tôi thỉnh mời.
Pannarasamaṃ bhāṇavāraṃ.
The fifteenth recitation section.
Phẩm tụng thứ mười lăm.
251.
251.
251.
‘‘Patiṭṭhā bhayabhītānaṃ, tāṇo saraṇagāminaṃ;
Assāsako mahāvīro, so me buddho nimantito.
“‘A support for the fearful, a protection for those who go for refuge, a bringer of comfort, the great hero, that Buddha is invited by me.
‘Vị ấy là nơi nương tựa cho những người kinh hãi vì sợ hãi, là nơi ẩn náu cho những người đi đến quy y, là bậc an ủi, bậc Đại Hùng. Vị Phật ấy đã được tôi thỉnh mời.
252.
252.
252.
‘‘Āsayo buddhimantānaṃ, puññakkhettaṃ sukhesinaṃ;
Ratanākaro mahāvīro, so me buddho nimantito.
“‘A resort for the wise, a field of merit for seekers of happiness; a mine of jewels, the great hero, that Buddha is invited by me.
‘Vị ấy là nơi trú ẩn của những người có trí tuệ, là ruộng phước cho những người tìm cầu an lạc, là kho tàng châu báu, bậc Đại Hùng. Vị Phật ấy đã được tôi thỉnh mời.
253.
253.
253.
‘‘Assāsako vedakaro, sāmaññaphaladāyako;
Meghūpamo mahāvīro, so me buddho nimantito.
“‘A bringer of comfort, a producer of joy, a giver of the fruit of recluseship; like a cloud, the great hero, that Buddha is invited by me.
‘Vị ấy là bậc an ủi, là bậc tạo ra sự hân hoan, là bậc ban cho quả vị Sa-môn, ví như đám mây, bậc Đại Hùng. Vị Phật ấy đã được tôi thỉnh mời.
254.
254.
254.
‘‘Lokacakkhu mahātejo, sabbatamavinodano;
Sūriyūpamo mahāvīro, so me buddho nimantito.
“‘The eye of the world, of great power, the dispeller of all darkness; like the sun, the great hero, that Buddha is invited by me.
‘Vị ấy là con mắt của thế gian, có oai lực vĩ đại, là bậc xua tan mọi bóng tối, ví như mặt trời, bậc Đại Hùng. Vị Phật ấy đã được tôi thỉnh mời.
255.
255.
255.
‘‘Ārammaṇavimuttīsu, sabhāvadassano muni;
Candūpamo mahāvīro, so me buddho nimantito.
“‘The sage who sees the intrinsic nature in objects and in liberations; like the moon, the great hero, that Buddha is invited by me.
‘Vị Mâu-ni thấy được tự tánh trong các đối tượng và các sự giải thoát, ví như mặt trăng, bậc Đại Hùng. Vị Phật ấy đã được tôi thỉnh mời.
256.
256.
256.
‘‘Buddho samussito loke, lakkhaṇehi alaṅkato;
Appameyyo mahāvīro, so me buddho nimantito.
“‘The Buddha, exalted in the world, adorned with the characteristics, immeasurable, the great hero, that Buddha is invited by me.
“Đức Phật nổi bật ở thế gian, được trang hoàng với các tướng tốt; Ngài không thể đo lường, là bậc Đại Hùng, vị Phật ấy đã được tôi thỉnh mời.”
257.
257.
257.
‘‘Yassa ñāṇaṃ appameyyaṃ, sīlaṃ yassa anūpamaṃ;
Vimutti asadisā yassa, so me buddho nimantito.
“‘Whose knowledge is immeasurable, whose virtue is incomparable, whose liberation is without equal—that Buddha is invited by me.
“Vị nào có trí tuệ không thể đo lường, vị nào có giới hạnh không gì sánh bằng; vị nào có sự giải thoát không gì tương tự, vị Phật ấy đã được tôi thỉnh mời.”
258.
258.
258.
‘‘Yassa dhīti asadisā, thāmo yassa acintiyo;
Yassa parakkamo jeṭṭho, so me buddho nimantito.
“‘Whose steadfastness is without equal, whose strength is inconceivable, whose effort is supreme—that Buddha is invited by me.
“Vị nào có sự kiên định không gì tương tự, vị nào có sức mạnh không thể nghĩ bàn; vị nào có sự tinh tấn là tối thượng, vị Phật ấy đã được tôi thỉnh mời.”
259.
259.
259.
‘‘Rāgo doso ca moho ca, visā sabbe samūhatā;
Agadūpamo mahāvīro, so me buddho nimantito.
“‘Lust, hatred, and delusion—all these poisons have been uprooted; like an antidote, the great hero, that Buddha is invited by me.
“Tham, sân, và si, tất cả các chất độc đã được nhổ bật gốc; Ngài giống như thuốc giải độc, là bậc Đại Hùng, vị Phật ấy đã được tôi thỉnh mời.”
260.
260.
260.
‘‘Klesabyādhibahudukkha sabbatamavinodano †;
Vejjūpamo mahāvīro, so me buddho nimantito.
“‘The dispeller of the sickness of defilements, of many sufferings, and of all darkness; like a physician, the great hero, that Buddha is invited by me.’
“Ngài là đấng xua tan bệnh phiền não, nhiều khổ đau, và tất cả bóng tối; Ngài giống như vị thầy thuốc, là bậc Đại Hùng, vị Phật ấy đã được tôi thỉnh mời.”
261.
261.
261.
‘‘Buddhoti bho yaṃ vadesi, ghosopeso sudullabho;
Buddho buddhoti sutvāna, pīti me udapajjatha.
“Friend, this word ‘Buddha’ that you speak, this sound is exceedingly rare; having heard ‘Buddha, Buddha,’ joy arose in me.
“‘Này đạo sĩ, lời mà ông nói là ‘Phật,’ âm thanh ấy thật vô cùng khó được. Sau khi nghe ‘Phật, Phật,’ hỷ lạc đã khởi sanh nơi tôi.”
262.
262.
262.
‘‘Abbhantaraṃ agaṇhantaṃ, pīti me bahi nicchare;
Sohaṃ pītimano santo, idaṃ vacanamabraviṃ.
“My joy, not being contained within, flowed outwards; I, being one with a mind of joy, spoke this word:
“Hỷ lạc của tôi không chứa nổi ở bên trong, đã trào ra bên ngoài. Tôi ấy, với tâm tràn đầy hỷ lạc, đã nói lên lời này.”
263.
263.
263.
‘‘‘Kahaṃ nu kho so bhagavā, lokajeṭṭho narāsabho;
Tattha gantvā namassissaṃ, sāmaññaphaladāyakaṃ’.
“‘Where indeed is that Blessed One, the foremost in the world, the bull among men? Having gone there, I shall pay homage to the giver of the fruit of recluseship.’
“‘Vị Thế Tôn ấy, bậc Tối Thượng trong thế gian, bậc Nhân Ngưu Vương, hiện đang ở đâu? Sau khi đi đến nơi ấy, tôi sẽ đảnh lễ Ngài, đấng ban cho quả Sa-môn.’”
264.
264.
264.
‘‘‘Paggayha dakkhiṇaṃ bāhuṃ, vedajāto katañjalī;
Ācikkhi me dhammarājaṃ, sokasallavinodanaṃ.
“Raising his right arm, with joy arisen and with hands held in reverence, he pointed out to me the King of Dhamma, the remover of the dart of sorrow.
“‘(Vị đạo sĩ) giơ cánh tay phải lên, với niềm hoan hỷ sanh khởi, chắp tay lại, đã chỉ cho tôi về vị Pháp Vương, đấng nhổ đi mũi tên sầu muộn.”
265.
265.
265.
‘‘‘Udentaṃva mahāmeghaṃ, nīlaṃ añjanasannibhaṃ;
Sāgaraṃ viya dissantaṃ, passasetaṃ mahāvanaṃ.
“‘Like a great rising cloud, dark blue, resembling a mountain of collyrium, appearing like the ocean—do you see that great forest?
“‘Giống như đám mây lớn đang dâng lên, màu xanh sẫm, tựa như núi thuốc vẽ mắt, hiện ra như đại dương, ông có thấy khu rừng lớn này không?”
266.
266.
266.
‘‘‘Ettha so vasate buddho, adantadamako muni;
Vinayanto ca veneyye, bodhento bodhipakkhiye.
“‘Here dwells that Buddha, the Sage, the tamer of the untamed, training those who are to be trained and causing them to know the factors of enlightenment.’
“‘Ở nơi đây, vị Phật ấy đang ngự, bậc Thánh nhân điều phục những ai chưa được điều phục; Ngài đang huấn luyện những chúng sanh cần được huấn luyện, và làm cho giác ngộ về các pháp trợ Bồ-đề.’”
267.
267.
267.
‘‘‘Pipāsitova udakaṃ, bhojanaṃva jighacchito;
Gāvī yathā vacchagiddhā, evāhaṃ viciniṃ jinaṃ.
“As one who is thirsty seeks water, and one who is hungry seeks food; as a cow longing for her calf seeks her calf, so I sought the Conqueror.
“‘Như người khát tìm nước, như người đói tìm thức ăn; như bò mẹ thương nhớ con, tìm kiếm con bê, cũng vậy, tôi đã tìm kiếm bậc Chiến Thắng.”
268.
268.
268.
‘‘‘Ācāraupacāraññū, dhammānucchavisaṃvaraṃ;
Sikkhāpemi sake sisse, gacchante jinasantikaṃ.
“Knowing conduct and proper service, I train my own disciples in restraint that is in accordance with the Dhamma, as they go to the presence of the Conqueror.”
“‘Là người biết rõ về hành vi và cách ứng xử, tôi đã dạy dỗ các đệ tử của mình về sự thu thúc phù hợp với Pháp, khi họ đi đến gần bậc Chiến Thắng.”
269.
269.
269.
‘‘‘Durāsadā bhagavanto, sīhāva ekacārino;
Pade padaṃ nikkhipantā, āgaccheyyātha māṇavā.
Difficult to approach are the Blessed Ones, like solitary-faring lions. Placing footstep upon footstep, come, O young men.
“‘Này các thanh niên, các bậc Thế Tôn thật khó tiếp cận, giống như sư tử, các Ngài thường đi một mình. Các con hãy đặt dấu chân sau lên dấu chân trước mà đi đến.”
270.
270.
270.
‘‘‘Āsīviso yathā ghoro, migarājāva kesarī;
Mattova kuñjaro dantī, evaṃ buddhā durāsadā.
Like a fierce venomous snake, like a maned lion, the king of beasts, like a tusked elephant in rut—so are Buddhas difficult to approach.
“‘Giống như rắn độc hung dữ, như vua sư tử có bờm; như voi đực có ngà đang say, cũng vậy, các vị Phật thật khó tiếp cận.”
271.
271.
271.
‘‘‘Ukkāsitañca khipitaṃ, ajjhupekkhiya māṇavā;
Pade padaṃ nikkhipantā, upetha buddhasantikaṃ.
Suppressing coughing and sneezing, O young men, placing footstep upon footstep, approach the presence of the Buddha.
“‘Này các thanh niên, các con hãy chế ngự tiếng hắng giọng và hắt hơi; hãy đặt dấu chân sau lên dấu chân trước, và đến gần nơi đức Phật.”
272.
272.
272.
‘‘‘Paṭisallānagarukā, appasaddā durāsadā;
Durūpasaṅkamā buddhā, garū honti sadevake.
Esteeming seclusion, of few sounds, difficult to approach, Buddhas are difficult to draw near to; they are revered in the world with its gods.
“‘Các vị Phật tôn trọng sự độc cư, ít tiếng động, và khó tiếp cận; các Ngài khó đến gần, là bậc đáng kính trong thế giới cùng với chư Thiên.”
273.
273.
273.
‘‘‘Yadāhaṃ pañhaṃ pucchāmi, paṭisammodayāmi vā;
Appasaddā tadā hotha, munibhūtāva tiṭṭhatha.
When I ask a question or exchange courteous greetings, then be of few sounds; remain silent like sages.
“‘Khi ta hỏi câu hỏi, hoặc khi ta chào hỏi thân mật, khi ấy các con hãy giữ im lặng, hãy đứng yên như những bậc ẩn sĩ.”
274.
274.
274.
‘‘‘Yaṃ so deseti sambuddho †, khemaṃ nibbānapattiyā;
Tamevatthaṃ nisāmetha, saddhammasavanaṃ sukhaṃ’.
Whatever Dhamma that Perfectly Enlightened One teaches for the sake of attaining the secure state of Nibbāna—listen to that very meaning, for listening to the good Dhamma is happiness.
“‘Pháp nào mà bậc Chánh Đẳng Giác thuyết giảng, là pháp an ổn để đạt đến Niết-bàn, các con hãy chỉ lắng nghe ý nghĩa ấy. Việc nghe diệu pháp là an lạc.’”
275.
275.
275.
‘‘Upasaṅkamma sambuddhaṃ, sammodiṃ muninā ahaṃ;
Taṃ kathaṃ vītisāretvā, lakkhaṇe upadhārayiṃ.
Having approached the Perfectly Enlightened One, I exchanged courteous greetings with the Sage. Having concluded that conversation, I investigated his marks.
“Tôi đã đến gần bậc Chánh Đẳng Giác, và đã chào hỏi thân mật với bậc Thánh nhân. Sau khi kết thúc cuộc nói chuyện ấy, tôi đã xem xét các tướng tốt.”
276.
276.
276.
‘‘Lakkhaṇe dve ca kaṅkhāmi, passāmi tiṃsalakkhaṇe;
Kosohitavatthaguyhaṃ, iddhiyā dassayī muni.
I had doubt about two marks, while I saw the thirty marks. The Sage, by his psychic power, showed his male organ concealed in its sheath.
“Tôi còn nghi ngờ về hai tướng tốt, và chỉ thấy được ba mươi tướng. Bậc Thánh nhân đã dùng thần thông thị hiện tướng âm tàng được che kín trong vỏ bọc.”
277.
277.
277.
‘‘Jivhaṃ ninnāmayitvāna, kaṇṇasote ca nāsike;
Paṭimasi nalāṭantaṃ, kevalaṃ chādayī jino.
Having extended his tongue, he touched both his ear-holes and his nostrils; the Conqueror covered his entire forehead.
“Bậc Chiến Thắng đưa lưỡi ra, và đã chạm đến cả hai lỗ tai và hai lỗ mũi; Ngài đã che phủ toàn bộ trán.”
278.
278.
278.
‘‘Tassāhaṃ lakkhaṇe disvā, paripuṇṇe sabyañjane;
Buddhoti niṭṭhaṃ gantvāna, saha sissehi pabbajiṃ.
Having seen his marks, complete with the minor characteristics, I came to the conclusion, 'He is the Buddha,' and went forth together with my disciples.
“Sau khi thấy các tướng tốt của Ngài, viên mãn cùng với các tướng phụ, tôi đã đi đến kết luận rằng: ‘Đây là Phật,’ và đã xuất gia cùng với các đệ tử.”
279.
279.
279.
‘‘Satehi tīhi sahito, pabbajiṃ anagāriyaṃ;
Addhamāse asampatte, sabbe pattāmha nibbutiṃ.
Together with three hundred disciples, I went forth into the homeless life; before half a month was complete, we all attained Nibbāna.
“Cùng với ba trăm đệ tử, tôi đã xuất gia vào đời sống không nhà. Chưa đến nửa tháng, tất cả chúng tôi đã đạt được sự tịch tịnh.”
280.
280.
280.
‘‘Ekato kammaṃ katvāna, puññakkhette anuttare;
Ekato saṃsaritvāna, ekato vinivattayuṃ.
Having performed kamma together in the incomparable field of merit, having wandered in saṃsāra together, they were freed from the round of rebirths together.
“Sau khi cùng nhau tạo nghiệp trong ruộng phước vô thượng, chúng tôi đã cùng nhau luân hồi, và đã cùng nhau thoát khỏi vòng luân hồi.”
281.
281.
281.
‘‘Gopānasiyo datvāna, pūgadhamme vasiṃ ahaṃ;
Tena kammena sukatena, aṭṭha hetū labhāmahaṃ.
Having given rafters, I was devoted to the merit of the group. By that well-done kamma, I obtain eight benefits.
“Sau khi cúng dường các thanh rui, tôi đã thực hành việc thiện của hội chúng. Do nghiệp thiện đã làm tốt đẹp ấy, tôi đã nhận được tám nguyên nhân.”
282.
282.
282.
‘‘Disāsu pūjito homi, bhogā ca amitā mama;
Patiṭṭhā homi sabbesaṃ, tāso mama na vijjati.
I am honored in all directions, and my wealth is immeasurable; I am a support for all, and for me, there is no terror.
“Tôi được cúng dường ở các phương, và tài sản của tôi không thể đo lường; tôi là nơi nương tựa của tất cả mọi người, sự sợ hãi không tồn tại nơi tôi.”
283.
283.
283.
‘‘Byādhayo me na vijjanti, dīghāyuṃ pālayāmi ca;
Sukhumacchaviko homi, āvāse patthite vase †.
For me, there are no illnesses, and I maintain a long life; I have delicate skin, and I dwell in a desired abode.
“Bệnh tật không tồn tại nơi tôi, và tôi duy trì được tuổi thọ dài; tôi có làn da mịn màng, và tôi sống ở nơi ở được mong muốn.”
284.
284.
284.
‘‘Aṭṭha gopānasī datvā, pūgadhamme vasiṃ ahaṃ;
Paṭisambhidārahattañca, etaṃ me aparaṭṭhamaṃ.
Having given eight rafters, I was devoted to the merit of the group. And Arahantship with the analytical knowledges—this is my other eighth benefit.
“Sau khi cúng dường tám thanh rui, tôi đã thực hành việc thiện của hội chúng. Và quả A-la-hán cùng với các Tuệ Phân Tích, đây là quả thứ tám khác của tôi.”
285.
285.
285.
‘‘Sabbavositavosāno, katakicco anāsavo;
Aṭṭhagopānasī nāma, tava putto mahāmuni.
Having completely fulfilled his task, with duty done and without taints, is your son, O Great Sage, named Aṭṭhagopānasī.
“Hỡi bậc Đại Thánh, người con của Ngài tên là Aṭṭhagopānasī, đã hoàn thành tất cả phận sự, đã làm xong việc cần làm, không còn lậu hoặc.”
286.
286.
286.
‘‘Pañca thambhāni datvāna, pūgadhamme vasiṃ ahaṃ;
Tena kammena sukatena, pañca hetū labhāmahaṃ.
Having given five pillars, I was devoted to the merit of the group. By that well-done kamma, I obtain five benefits.
Sau khi đã dâng cúng năm cây cột trụ, tôi đã sống trong thiện pháp của hội chúng. Do nhờ nghiệp đã được khéo làm ấy, tôi đã đạt được năm nguyên nhân.
287.
287.
287.
‘‘Acalo homi mettāya, anūnaṅgo bhavāmahaṃ;
Ādeyyavacano homi, na dhaṃsemi yathā ahaṃ.
I am unshakable through loving-kindness; I am not deficient in any limb. I am one whose word is heeded; I do not cause harm.
Do nhờ lòng từ, tôi là người không bị dao động, tôi trở thành người có thân thể không bị khiếm khuyết. Tôi là người có lời nói đáng được tin cậy, do tôi đã không hủy hoại (điều gì).
288.
288.
288.
‘‘Abhantaṃ hoti me cittaṃ, akhilo homi kassaci;
Tena kammena sukatena, vimalo homi sāsane.
My mind is unagitated; I am without malice towards anyone. By that well-done kamma, I am stainless in the Dispensation.
Tâm của tôi không bị quay cuồng, tôi là người không có ác ý đối với bất cứ ai. Do nhờ nghiệp đã được khéo làm ấy, tôi là người không còn cấu uế ở trong Giáo Pháp.
289.
289.
289.
‘‘Sagāravo sappatisso, katakicco anāsavo;
Sāvako te mahāvīra, bhikkhu taṃ vandate muni.
With reverence and deference, with duty done and without taints, your disciple, O Great Hero, this monk, venerates you, O Sage.
Thưa bậc Đại Hùng, vị tỳ khưu đệ tử của Ngài là người có lòng tôn kính, có sự vâng phục, đã làm xong việc cần làm, là bậc vô lậu. Thưa bậc Thánh Giả, vị ấy đảnh lễ Ngài.
290.
290.
290.
‘‘Katvā sukatapallaṅkaṃ, sālāyaṃ paññapesahaṃ;
Tena kammena sukatena, pañca hetū labhāmahaṃ.
Having made a well-made couch, I had it prepared in the hall; by that well-done kamma, I obtain five benefits.
Sau khi đã làm ra chiếc sàng tọa được chế tạo tốt đẹp, tôi đã cho trải ra ở tại ngôi giảng đường. Do nhờ nghiệp đã được khéo làm ấy, tôi đã đạt được năm nguyên nhân.
291.
291.
291.
‘‘Ucce kule pajāyitvā, mahābhogo bhavāmahaṃ;
Sabbasampattiko homi, maccheraṃ me na vijjati.
Having been born into a high family, I become one of great wealth; I am endowed with all accomplishments, and for me, there is no stinginess.
Sau khi được sanh trong gia tộc cao quý, tôi trở thành người có nhiều của cải. Tôi là người có được tất cả sự thành tựu, và nơi tôi không có sự bỏn xẻn.
292.
292.
292.
‘‘Gamane patthite mayhaṃ, pallaṅko upatiṭṭhati;
Saha pallaṅkaseṭṭhena, gacchāmi mama patthitaṃ.
When I wish to travel, a couch presents itself; with that excellent couch, I go to my desired destination.
Khi việc đi lại được tôi mong muốn, chiếc sàng tọa liền hiện ra. Cùng với chiếc sàng tọa cao quý, tôi đi đến nơi tôi đã mong mỏi.
293.
293.
293.
‘‘Tena pallaṅkadānena, tamaṃ sabbaṃ vinodayiṃ;
Sabbābhiññābalappatto, thero † vandati taṃ muni.
Through that gift of a couch, I have dispelled all darkness. Having attained the power of all the direct knowledges, the Elder venerates you, O Sage.
Do nhờ sự dâng cúng sàng tọa ấy, tôi đã loại trừ tất cả bóng tối. Thưa bậc Thánh Giả, vị trưởng lão đã đạt đến năng lực của tất cả các thắng trí đảnh lễ Ngài.
294.
294.
294.
‘‘Parakiccattakiccāni, sabbakiccāni sādhayiṃ;
Tena kammena sukatena, pāvisiṃ abhayaṃ puraṃ.
The tasks of others and my own, all tasks I accomplished; by that well-done kamma, I entered the fearless city.
Tôi đã hoàn thành các công việc của người khác và của bản thân, (tức là) tất cả các công việc. Do nhờ nghiệp đã được khéo làm ấy, tôi đã đi vào thành phố vô úy.
295.
295.
295.
‘‘Pariniṭṭhitasālamhi, paribhogamadāsahaṃ;
Tena kammena sukatena, seṭṭhattaṃ ajjhupāgato.
In the completed hall, I gave requisites for use; by that well-done kamma, I have attained the state of excellence.
Ở tại ngôi giảng đường đã được xây dựng hoàn tất, tôi đã dâng cúng các vật dụng. Do nhờ nghiệp đã được khéo làm ấy, tôi đã đạt đến trạng thái cao quý.
296.
296.
296.
‘‘Ye keci damakā loke, hatthiasse damenti ye;
Karitvā kāraṇā nānā, dāruṇena damenti te.
Whatever tamers there are in the world who tame elephants and horses, having inflicted various afflictions, they tame them with harshness.
Bất cứ những người huấn luyện nào ở trên đời, những người ấy huấn luyện voi và ngựa; sau khi đã thực hiện nhiều cách hành hạ, họ huấn luyện một cách tàn nhẫn.
297.
297.
297.
‘‘Na hevaṃ tvaṃ mahāvīra, damesi naranāriyo;
Adaṇḍena asatthena, damesi uttame dame.
Not so do you, O Great Hero, tame men and women; without a rod, without a weapon, you tame with the supreme taming.
Thưa bậc Đại Hùng, Ngài không huấn luyện những người nam và người nữ theo cách như vậy. Không cần đến roi vọt, không cần đến khí giới, Ngài huấn luyện bằng sự huấn luyện cao thượng.
298.
298.
298.
‘‘Dānassa vaṇṇe kittento, desanākusalo muni;
Ekapañhaṃ kathentova, bodhesi tisate muni.
Proclaiming the virtues of giving, the Sage skilled in teaching, while answering but a single question, awakened three hundred.
Trong khi đang nói lên lời tán dương về sự bố thí, bậc Thánh Giả thiện xảo trong việc thuyết giảng, trong khi đang nói về một câu hỏi, bậc Thánh Giả đã làm cho ba trăm vị được giác ngộ.
299.
299.
299.
‘‘Dantā mayaṃ sārathinā, suvimuttā anāsavā;
Sabbābhiññābalapattā, nibbutā upadhikkhaye.
We, tamed by the Charioteer, are well-liberated and without taints; having attained the power of all the direct knowledges, we are quenched in the destruction of the substrates of existence.
Chúng tôi đã được huấn luyện bởi bậc Đánh Xe, đã được khéo giải thoát, là các bậc vô lậu. Sau khi đã đạt đến năng lực của tất cả các thắng trí, chúng tôi đã được tịch tịnh ở nơi sự đoạn tận của sanh y.
300.
300.
300.
‘‘Satasahassito kappe, yaṃ dānamadadiṃ tadā;
Atikkantā bhayā sabbe, sālādānassidaṃ phalaṃ.
One hundred thousand aeons ago, the gift I gave at that time; all fears have been overcome—this is the fruit of the gift of a hall.
Cách đây một trăm ngàn kiếp, vào lúc bấy giờ tôi đã thực hiện việc dâng cúng nào, (kể từ đó) tất cả các sự sợ hãi đã được vượt qua. Đây là quả báo của việc dâng cúng ngôi giảng đường.
301.
301.
301.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
My defilements are burned up... I dwell free from taints.
Các phiền não của tôi đã được đốt sạch ... (như trên) ... tôi sống không còn lậu hoặc.
302.
302.
302.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Welcome indeed was my coming... the Buddha’s teaching has been done.
Sự đến của tôi quả là tốt đẹp ... (như trên) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
303.
303.
303.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges... the Buddha’s teaching has been done.
Bốn Tuệ Phân Tích ... (như trên) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā selo sapariso bhagavato santike imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed, the Venerable Sela, together with his retinue, recited these verses in the presence of the Blessed One.
Chắc chắn như vậy, Trưởng lão Sela cùng với đoàn tùy tùng đã nói lên những câu kệ này ở nơi sự hiện diện của đức Thế Tôn.
Selattherassāpadānaṃ dutiyaṃ.
The Second Apadāna of the Elder Sela.
Thiên Thạnh Cảm của Trưởng lão Sela thứ nhì.