Bản dịch
THA -ap393 — Ký Sự về Trưởng Lão Piḷindivaccha
Pilindavacchattheraapadāna
BJT 3374Tôi đã là người gác cổng ở thành phố Haṁsavatī. Của cải đã được tích lũy trong nhà của tôi là không bị suy suyển, không thể đo lường.
BJT 3375Sau khi đi đến nơi vắng vẻ rồi ngồi xuống, tôi đã được vui vẻ tâm trí. Sau khi ngồi xuống ở nơi cao quý của tòa lâu đài, khi ấy tôi đã suy nghĩ như vầy:
BJT 3376“Ta đã đạt được nhiều của cải, nội phòng của ta là trù phú. Ngay cả đức vua Ānanda, vị chúa tể trái đất, cũng đã thỉnh mời (ta).
BJT 3377Và đức Phật này đã hiện khởi. Bậc Hiền Trí là hiện tượng hiếm hoi. Và của cải của ta được biết đến, ta sẽ dâng cúng vật thí đến bậc Đạo Sư.
BJT 3378Vật thí cao quý đã được vương tử Paduma dâng cúng đến đấng Chiến Thắng là các con long tượng cùng với các ghế bành, và sự ủng hộ không phải là ít ỏi.
BJT 3379Ta cũng sẽ dâng cúng vật thí chưa được những người khác dâng cúng trước đây đến Hội Chúng, tập thể cao quý tối thượng. Ta sẽ là người làm đầu tiên.”
BJT 3380Sau khi suy nghĩ về quả báu hạnh phúc ở sự cống hiến của việc ấy theo nhiều cách, tôi đã nhìn thấy sự dâng cúng vật dụng là đáp ứng được ý định của tôi.
BJT 3381“Ta sẽ dâng cúng các loại vật dụng chưa được những người khác dâng cúng trước đây đến Hội Chúng, tập thể cao quý tối thượng. Ta sẽ là người làm đầu tiên.”
BJT 3382Ngay lập tức tôi đã đi đến các người làm nghề tre và đã bảo làm lọng che. Tôi đã tập trung một trăm ngàn chiếc lọng che thành một đống.
BJT 3383Tôi đã tập trung một trăm ngàn tấm vải thành một đống. Tôi đã tập trung một trăm ngàn bình bát thành một đống.
BJT 3384Tôi đã bảo làm đúng theo quy cách các chiếc búa nhỏ, các con dao nhỏ, và luôn cả các kim khâu, các đồ cắt móng, rồi đã cho treo chúng ở bên dưới chiếc lọng che.
BJT 3385Tôi đã bảo làm đúng theo quy cách các cây quạt gió, các cây quạt lá cọ, các quạt lông chim công, các quạt đuôi bò rừng, các đồ lọc nước, và các vật đựng dầu.
BJT 3386Tôi đã bảo làm đúng theo quy cách các hộp đựng kim, các dây đeo ở vai, luôn cả các dây buộc thân, và các chân kê (bình bát) đã được làm khéo léo.
BJT 3387Tôi đã chứa đầy các chậu đựng vật dụng và luôn cả các tô nhỏ bằng đồng với thuốc men, rồi đã đặt chúng ở bên dưới chiếc lọng che.
BJT 3388Tôi đã chứa đầy các chậu với mọi thứ như là rễ cây, cỏ usīra, mật mía, trái tiêu dài, các hạt tiêu, trái harītakī, củ gừng.
BJT 3389Tôi đã bảo làm đúng theo quy cách các đôi dép, các đôi giày, các vật lau khô nước, các cây gậy chống được làm khéo léo.
BJT 3390(Tôi đã bảo làm) các ống thuốc bôi, các que bôi thuốc, các bình lọc nước, các chìa khóa, các túi đựng chìa khóa được thêu với năm loại màu sắc.
BJT 3391Tôi đã bảo làm đúng theo quy cách các vải băng bó, các ống dẫn khói, và luôn cả các chân đèn, các vật đo lường, và các hòm nhỏ.
BJT 3392Tôi đã bảo làm đúng theo quy cách các kẹp gắp, các cây kéo, rồi các vật hốt rác, và luôn cả các túi đựng thuốc men.
BJT 3393Tôi đã bảo làm đúng theo quy cách các ghế dài, các ghế đẩu, và các ghế bành bằng bốn vật liệu và đã xếp đặt ở bên dưới chiếc lọng che.
BJT 3394Tôi đã bảo làm đúng theo quy cách các tấm nệm lông cừu, các tấm nệm bông gòn, luôn cả các tấm nệm ở ghế đẩu, và các chiếc gối đã được làm khéo léo.
BJT 3395(Tôi đã bảo làm) các vật kỳ cọ, các loại sáp ong, dầu ăn, lò sưởi ấm tay, hộp đựng, các tấm ván, kim khâu, cùng với tấm trải giường.
BJT 3396(Tôi đã bảo làm) các chỗ nằm ngồi, các thảm chùi chân, các gậy chống ở giường ghế, các vật chà răng và tăm xỉa răng, các dầu thơm bôi ở đầu.
BJT 3397(Tôi đã bảo làm) các vật tạo ra lửa, các ghế rơm, các nắp bình bát và các tô nhỏ, các vá múc nước, bột tắm, và chậu nhuộm.
BJT 3398(Tôi đã bảo làm) cái chổi, bể nước, tương tợ như thế là vải choàng tắm mưa, tấm lót ngồi, vải đắp ghẻ, và y nội.
BJT 3399(Tôi đã bảo làm) thượng y và y hai lớp, dụng cụ xông mũi, đồ làm sạch miệng, nhiều giấm chua và muối, mật ong và thức uống từ sữa chua.
BJT 3400(Tôi đã bảo làm) nhang thơm, sáp ong, vải vụn, khăn lau mặt, chỉ sợi, bất cứ vật gì được gọi là vật có thể dâng cúng, và bất cứ vật gì thích hợp đối với bậc Đạo Sư.
BJT 3401Sau khi tập hợp mọi thứ này lại, tôi đã đi đến gặp đức vua Ānanda. Sau khi đã gặp bậc sanh thành của vị Đại Ẩn Sĩ, tôi đã đê đầu đảnh lễ và đã nói lời nói này:
BJT 3402“(Chúng ta) đã được sanh ra và lớn lên cùng nhau, tâm ý của cả hai là tương đồng, có sự chia sẻ sướng khổ, và cả hai có cùng chí hướng.
BJT 3403Tâu vị cảm hóa kẻ thù địch, (thần) có nỗi khổ trong tâm có liên quan đến bệ hạ. Tâu vị Sát-đế-lỵ, nếu bệ hạ có khả năng xin bệ hạ hãy dẹp tan nỗi khổ ấy.”
BJT 3404“Nỗi khổ của ngươi là nỗi khổ của trẫm, tâm ý của cả hai là tương đồng. Nếu là việc có liên quan đến trẫm thì ngươi hãy nhận biết rằng: ‘Việc đã được hoàn tất.’”
BJT 3405“Tâu đại vương, xin bệ hạ hiểu cho thần, nỗi khổ của thần là khó mà dẹp tan. Trong khi có thể, xin bệ hạ hãy tuyên bố rằng có một vật quý giá mà bệ hạ khó từ bỏ được.”
BJT 3406“Cho dù là vương quốc, cho đến sanh mạng của trẫm, nếu có sự lợi ích cho ngươi với những vật này, thì trẫm sẽ ban cho, không ngần ngại.”
BJT 3407“Tâu bệ hạ, quả nhiên bệ hạ đã tuyên bố. (Tuy nhiên) điều ấy đã được nhiều người tuyên bố một cách xằng bậy. Hôm nay thần sẽ biết rằng bệ hạ có được cương quyết trong mọi vấn đề (hay không?).”
BJT 3408“Ngươi đã ép buộc trẫm quá đáng trong khi trẫm đang ban phát cho ngươi. Ngươi được lợi ích gì với việc đã ép buộc trẫm? Ngươi hãy nói cho trẫm điều đã được ngươi mong mỏi.”
BJT 3409“Tâu đại vương, thần ao ước đức Phật tối thượng, đấng Vô Thượng. Thần sẽ chăm lo bữa ăn đến bậc Toàn Giác, xin chớ để cho cuộc sống của thần trở thành tội lỗi.”
BJT 3410“Trẫm sẽ ban cho ngươi điều ân huệ khác, chớ cầu xin (trẫm về) đức Như Lai. Đức Phật tợ như viên ngọc ma-ni như ý, không thể ban tặng cho bất cứ ai.”
BJT 3411“Tâu bệ hạ, phải chăng điều đã được ngài tuyên bố là (sẽ ban tặng) ngay cả sanh mạng của chính mình? Đúng ra nên ban tặng đức Như Lai hơn là bố thí sanh mạng.”
BJT 3412“Bậc Đại Hùng nên được đặt riêng, đấng Chiến Thắng không thể ban tặng cho bất cứ ai, đức Phật sẽ không được trẫm đồng ý. Ngươi hãy chọn lấy tài sản vô hạn lượng đi.”
BJT 3413“Chúng ta hãy tìm đến sự phân xử, chúng ta sẽ hỏi các vị quan tòa. Chúng ta hãy tranh cãi về vấn đề ấy theo cách thức mà họ sẽ giải bày.”
BJT 3414Tôi đã nắm lấy tay của đức vua rồi đã đi đến tòa án. Trước các vị quan phán xử, tôi đã nói lời nói này:
BJT 3415“Xin các quan phán xử hãy lắng nghe tôi. Đức vua đã ban cho tôi điều ân huệ, không loại trừ bất cứ vật gì, ngài cũng đã ban luôn cả sanh mạng nữa.
BJT 3416Khi ngài đã ban điều ân huệ cho tôi, tôi đã cầu xin đức Phật tối thượng. (Như vậy) đức Phật là đã được ban cho tôi một cách tốt đẹp, hay là tôi còn có điều nghi ngờ?”
BJT 3417“Chúng tôi sẽ lắng nghe lời nói của ngươi và của đức vua là vị hộ trì xứ sở. Sau khi lắng nghe lời nói của cả hai, chúng tôi sẽ chặt đứt điều nghi hoặc ở tại nơi đây.”
BJT 3418“Tâu bệ hạ, có phải ngài đã ban cho tất cả mọi thứ thuộc quyền sở hữu đến người này, và cũng đã ban luôn cả sanh mạng nữa, không loại trừ bất cứ vật gì?”
BJT 3419“Chính vì bị lâm vào tình cảnh khó khăn, (người này) đã cầu xin điều ân huệ vô thượng. Sau khi biết được người này vô cùng đau khổ, trẫm đã ban cho mọi thứ thuộc quyền sở hữu.”
BJT 3420“Tâu bệ hạ, phần thua là thuộc về ngài, đức Như Lai nên được ban cho người này. Sự nghi hoặc của hai vị đã được chặt đứt, xin hai vị hãy duy trì đúng theo sự việc.”
BJT 3421Đứng ngay tại nơi ấy, đức vua đã nói điều này với vị quan phán xử: “Này các hiền thần, nếu các ngươi cũng có thể ban cho trẫm (điều ân huệ) thì trẫm (sẽ) nhận lại đức Phật.”
BJT 3422“Sau khi đã làm tròn đủ ý định của ngươi, sau khi đã chăm lo bữa ăn cho đức Như Lai, ngươi nên giao lại bậc Toàn Giác cho vị có danh vọng lớn lao Ānanda.”
BJT 3423Sau khi đảnh lễ các vị quan phán xử và cả vị Sát-đế-lỵ Ānanda nữa, tôi đã trở nên hớn hở vui mừng và đã đi đến gặp đấng Toàn Giác.
BJT 3424Sau khi đã đi đến gặp đấng Toàn Giác, bậc đã vượt qua dòng nước lũ, không còn lậu hoặc, tôi đã đê đầu đảnh lễ và đã nói lời nói này:
BJT 3425“Bạch đấng Hữu Nhãn, xin Ngài hãy nhận lời cùng với một trăm ngàn vị có năng lực. Ngài đang đem lại nỗi vui mừng cho tâm của con, xin Ngài hãy ngự đến căn nhà của con.”
BJT 3426Biết được ý định của tôi, đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, bậc Hữu Nhãn, đã nhận lời.
BJT 3427Sau khi biết được sự nhận lời (của đức Phật), tôi đã đảnh lễ bậc Đạo Sư. Trở nên mừng rỡ, có tâm phấn chấn, tôi đã đi về nhà.
BJT 3428Sau khi triệu tập lại bạn bè và các viên quan lại, tôi đã nói lời nói này: “Tôi đã đạt được sự thành tựu vô cùng khó khăn, giống như (đã đạt được) viên ngọc ma-ni như ý.
BJT 3429Ngài là đấng Vô Lượng, Vô Song, là bậc Trí Tuệ không người tương đương, không kẻ sánh bằng, là đấng Chiến Thắng không người đối thủ, chúng ta sẽ cúng dường Ngài bằng vật gì?
BJT 3430Tương tợ như vậy, đấng Nhân Ngưu chính là vị tương đương với bậc không thể sánh bằng, không có người thứ hai, vì thế hành động hướng thượng xứng đáng với đức Phật là việc làm khó khăn đối với tôi.
BJT 3431Chúng ta hãy thu thập những bông hoa khác loại và hãy thực hiện mái che bằng bông hoa; mọi sự cúng dường này sẽ là xứng đáng với đức Phật.”
BJT 3432Tôi đã cho thực hiện mái che bằng hoa sen xanh, luôn cả hoa sen hồng, hoa vassika, hoa adhimuttaka, hoa campaka, và hoa nāga.
BJT 3433Tôi đã sắp đặt một trăm ngàn chỗ ngồi ở bóng râm của các chiếc lọng che. Chỗ ngồi cuối cùng dành cho tôi trị giá hơn một trăm (đồng tiền).
BJT 3434Tôi đã sắp đặt một trăm ngàn chỗ ngồi ở bóng râm của các chiếc lọng che. Sau khi cho chuẩn bị cơm nước, tôi đã thông báo về thời điểm.
BJT 3435Khi thời điểm đã được thông báo, bậc Đại Hiền Trí Padumuttara cùng với một trăm ngàn vị có năng lực đã đi đến căn nhà của tôi.
BJT 3436Cùng với một trăm ngàn vị có năng lực, đấng Tối Thượng Nhân đã ngồi xuống (chỗ ngồi) có chiếc lọng che đang được duy trì ở phía bên trên, ở mái che làm bằng bông hoa khéo được nở rộ.
BJT 3437“Bạch đấng Hữu Nhãn, xin Ngài hãy thọ nhận một trăm ngàn chiếc lọng che, một trăm ngàn chỗ ngồi đúng phép tắc và không phạm sai trái.”
BJT 3438Có ý định giúp cho tôi vượt qua, đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, bậc Đại Hiền Trí ấy đã tiếp nhận.
BJT 3439Tôi đã dâng cúng mỗi vị tỳ khưu một cái bình bát riêng biệt. Các vị đã xả bỏ bình bát trước đây và đã sử dụng bình bát bằng kim loại.
BJT 3440Đức Phật đã ngồi ở mái che bông hoa bảy ngày đêm. Trong khi giúp cho nhiều chúng sanh được giác ngộ, Ngài đã chuyển vận bánh xe Giáo Pháp.
BJT 3441Trong khi Ngài đang chuyển vận bánh xe Giáo Pháp ở bên dưới mái che bông hoa, đã có sự lãnh hội Giáo Pháp của tám mươi bốn ngàn (chúng sanh).
BJT 3442Khi ngày thứ bảy đã đến, bậc Đại Hiền Trí Padumuttara ngồi ở bóng râm của chiếc lọng che đã nói lên những lời kệ này:
BJT 3443“Người thanh niên nào đã dâng cúng vật thí cao quý không thiếu sót món gì đến Ta, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hãy lắng nghe Ta nói.
BJT 3444Các con voi, các con ngựa, các cỗ xe, các binh lính và quân đội gồm bốn binh chủng sẽ thường xuyên hộ tống người này; điều này là quả báu của việc dâng cúng mọi thứ.
BJT 3445Phương tiện di chuyển bằng voi, phương tiện di chuyển bằng ngựa, các kiệu khiêng, và các cỗ xe kéo sẽ thường xuyên phục vụ người này; điều này là quả báu của việc dâng cúng mọi thứ.
BJT 3446Sáu mươi ngàn cỗ xe ngựa được trang hoàng với tất cả các loại trang sức sẽ thường xuyên hộ tống người này; điều này là quả báu của việc dâng cúng mọi thứ.
BJT 3447Sáu mươi ngàn nhạc cụ và những chiếc trống lớn được tô điểm sẽ thường xuyên trình tấu đến người này; điều này là quả báu của việc dâng cúng mọi thứ.
BJT 3448Tám mươi sáu ngàn phụ nữ được trang điểm, được trang hoàng bằng các loại vải vóc nhiều màu sắc, có các bông tai bằng ngọc trai và ngọc ma-ni.
BJT 3449Có lông mi cong, có nụ cười, có điệu bộ duyên dáng, có eo thon, các nàng sẽ thường xuyên vây quanh người này; điều này là quả báu của việc dâng cúng mọi thứ.
BJT 3450(Người này) sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên trong 30.000 kiếp, và sẽ là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc 1.000 lần.
BJT 3451Và (người này) sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương một ngàn lần. Lãnh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.
BJT 3452Trong khi đang sống ở thế giới chư Thiên, người có được nghiệp phước thiện sở hữu chiếc lọng che bằng châu báu bao trùm toàn bộ thế giới chư Thiên.
BJT 3453Khi (người này) ước ao bóng râm, thì có chiếc lọng che được tạo ra từ vải và bông hoa sẽ che bóng râm một cách thường xuyên, thuận theo tâm ý của người này.
BJT 3454Sau khi mệnh chung từ thế giới chư Thiên, được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch, được gắn liền với nghiệp phước thiện, (người này) sẽ trở thành thân quyến của Phạm Thiên (dòng dõi Bà-la-môn).
BJT 3455Vào một trăm ngàn kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 3456Biết rõ về toàn bộ việc này, đức Gotama bậc cao quý dòng Sakya, sau khi ngồi xuống ở Hội Chúng tỳ khưu, sẽ thiết lập (người này) vào vị thế tối thắng.
BJT 3457(Người này) sẽ trở thành Thinh Văn của bậc Đạo Sư, có tên là Piḷindivaccha, và sẽ được kính trọng trong số chư Thiên, các A-tu-la, và các Càn-thát-bà.
BJT 3458Sau khi trở thành người được mến mộ đối với tất cả, đối với các vị tỳ khưu, đối với các vị tỳ khưu ni, và tương tợ như thế ấy đối với các người tại gia, vị ấy sẽ sống, không còn lậu hoặc.”
BJT 3459Việc làm đã được thực hiện (trước đây) một trăm ngàn kiếp, đã cho tôi nhìn thấy quả báu tại đây. Như là tốc độ của mũi tên khéo được bắn ra, tôi đã thiêu đốt các phiền não của tôi.
BJT 3460Ôi, việc làm đã khéo được tôi thực hiện ở Phước Điền vô thượng. Sau khi thực hiện việc làm ở tại nơi ấy, tôi đã đạt được vị thế Bất Động.
BJT 3461Chính người thanh niên đã dâng cúng vật thí cao quý không thiếu sót món gì, đã là người đầu tiên, đã là vị tiên phong; điều này là quả báu của việc dâng cúng ấy.
BJT 3462Sau khi dâng cúng các chiếc lọng che đến đức Thiện Thệ và Hội Chúng, tập thể cao quý tối thượng, tôi thọ hưởng tám phước báu tương xứng với nghiệp của tôi.
BJT 3463Tôi không biết đến sự lạnh, sự nóng, bụi bặm và mồ hôi không vấy bẩn, không có sự nguy khốn, và không có tai họa, tôi luôn luôn được tôn trọng.
BJT 3464Tôi có làn da mềm mại, có tâm ý trong sạch, một trăm ngàn chiếc lọng che là thuộc về tôi trong khi tôi luân hồi ở cõi hữu.
BJT 3465Do tác động của nghiệp ấy, (các chiếc lọng ấy) được gắn mọi thứ trang sức và được duy trì ở đỉnh đầu của tôi, ngoại trừ đời sống này.
BJT 3466Tại sao không có sự duy trì các chiếc lọng cho tôi trong đời sống này? Vì tất cả các nghiệp đã được tôi làm là nhằm đạt đến chiếc lọng giải thoát.
BJT 3467Sau khi dâng cúng các tấm vải đến đức Thiện Thệ và Hội Chúng, tập thể cao quý tối thượng, tôi thọ hưởng tám phước báu tương xứng với nghiệp của tôi.
BJT 3468Trong khi tôi luân hồi ở cõi hữu, tôi có màu da vàng chói, không lấm bụi, có sự phát ánh sáng, có sự huy hoàng, cơ thể của tôi là bóng láng.
BJT 3469Có một trăm ngàn tấm vải màu trắng, màu vàng, và màu đỏ được duy trì ở đỉnh đầu của tôi; điều này là quả báu của việc dâng cúng các tấm vải.
BJT 3470Từ thành quả của những việc ấy, ở tất cả các nơi tôi đều có được y phục làm bằng tơ lụa, bằng sợi len, bằng chỉ lanh, và bằng bông vải.
BJT 3471Sau khi dâng cúng các bình bát đến đức Thiện Thệ và Hội Chúng, tập thể cao quý tối thượng, tôi thọ hưởng mười phước báu tương xứng với nghiệp của tôi.
BJT 3472Tôi sử dụng các đĩa làm bằng hồng ngọc, các đĩa bằng vàng, các đĩa bằng ngọc ma-ni, và luôn cả các tô nhỏ bằng bạc vào mọi thời điểm.
BJT 3473Tôi không có sự nguy khốn và không có tai họa, luôn luôn được tôn trọng. Tôi có sự thành tựu về cơm ăn, nước uống, vải vóc, và giường nằm.
BJT 3474Các của cải của tôi không bị tiêu hoại, tôi có tâm vững chãi. Tôi luôn luôn có sự mong muốn về Giáo Pháp, ít phiền não, không còn lậu hoặc.
BJT 3475Ở tất cả các nơi, ở thế giới chư Thiên hay ở loài người, những đức tính này là gắn bó không lìa bỏ tôi, cũng giống như bóng râm của cây cối vậy.
BJT 3476Sau khi dâng cúng nhiều chiếc búa nhỏ được gắn liền với chùm tua có màu sắc, khéo được thực hiện, đến đức Phật tối thượng và tương tợ y như thế đến Hội Chúng, tôi thọ hưởng tám phước báu tương xứng với nghiệp của tôi.
BJT 3477Tôi luôn luôn dũng cảm, không có sự loạn động, và có sự toàn hảo về các lòng tự tin, có nghị lực, có sự tinh cần, có tâm ý được tập trung.
BJT 3478Từ thành quả của việc ấy, ở khắp mọi nơi tôi đều đạt được sự dứt trừ phiền não, (cùng với) trí tuệ tinh tế, không thể ước lượng, tinh khiết.
BJT 3479Với tâm tịnh tín, tôi đã dâng cúng nhiều con dao nhỏ không bị sần sùi, không thô kệch, rất bóng láng, đến đức Phật và tương tợ y như thế đến Hội Chúng.
BJT 3480Tôi thọ hưởng năm phước báu tương xứng với nghiệp của tôi. (Tôi có được) tâm tốt đẹp, sự tinh cần, sự nhẫn nại, và con dao từ ái.
BJT 3481(Và) lưỡi gươm tuệ vô thượng có tính chất dứt trừ mũi tên tham ái. Từ thành quả của những việc ấy, tôi đạt được trí tuệ sánh với kim cương.
BJT 3482Sau khi dâng cúng các cây kim khâu đến đức Thiện Thệ và Hội Chúng, tập thể cao quý tối thượng, tôi thọ hưởng năm phước báu tương xứng với nghiệp của tôi.
BJT 3483Trong khi luân hồi ở cõi này cõi khác, tôi luôn luôn có tuệ sắc bén, không có sự hoài nghi, có sự cắt đứt mọi điều nghi hoặc, có sắc đẹp và có của cải.
BJT 3484Tôi đã nhìn thấy ý nghĩa và nguyên nhân thâm sâu vi tế bằng trí tuệ. Trí tuệ của tôi là sự tiêu diệt điều tăm tối, được sánh với kim cương cao quý.
BJT 3485Sau khi dâng cúng các đồ cắt móng đến đức Thiện Thệ và Hội Chúng, tập thể tối thượng, tôi thọ hưởng năm phước báu tương xứng với nghiệp của tôi.
BJT 3486Tôi có được nhiều tôi nam tớ gái, bò, ngựa, người làm công, người canh gác, người hầu tắm, người phục vụ bữa ăn, người đầu bếp ở khắp tất cả các nơi.
BJT 3487Sau khi dâng cúng các cây quạt gió và các cây quạt lá cọ xinh xắn đến đức Thiện Thệ, tôi thọ hưởng tám phước báu tương xứng với nghiệp của tôi.
BJT 3488Tôi không biết đến sự lạnh (và) sự nóng, sự bứt rứt không hiện hữu, tôi không biết đến sự ưu phiền và sự bực bội ở tâm của tôi.
BJT 3489Từ thành quả của việc ấy của tôi, tất cả các ngọn lửa của tôi là lửa tham ái, lửa sân hận và si mê, lửa ngã mạn, và lửa tà kiến đã bị dập tắt.
BJT 3490Sau khi dâng cúng các quạt lông chim công, các quạt đuôi bò rừng đến Hội Chúng, tập thể tối thượng, tôi có phiền não được lặng yên, tôi sống không có tật xấu.
BJT 3491Sau khi dâng cúng các đồ lọc nước đến đức Thiện Thệ và các bậc tối thượng thực hành Giáo Pháp, tôi thọ hưởng năm phước báu tương xứng với nghiệp của tôi.
BJT 3492Tôi vượt trội tất cả và đạt được tuổi thọ ở cõi trời, tôi không bao giờ bị áp bức bởi những kẻ trộm cướp hoặc những kẻ thù địch.
BJT 3493Từ thành quả của những việc ấy, người ta cũng không làm tổn hại tôi bằng vũ khí hoặc bằng thuốc độc, tình trạng chết yểu không xảy đến cho tôi.
BJT 3494Sau khi dâng cúng các vật đựng dầu đến đức Thiện Thệ và Hội Chúng, tập thể cao quý tối thượng, tôi thọ hưởng năm phước báu tương xứng với nghiệp của tôi.
BJT 3495Tôi có dáng vóc vô cùng tao nhã, có giọng nói tốt, tâm ý khéo hướng thượng, tâm tư không rối loạn, tôi được bảo vệ bằng mọi phương cách bảo vệ.
BJT 3496Sau khi dâng cúng các hộp đựng kim đến đức Thiện Thệ và Hội Chúng, tập thể cao quý tối thượng, tôi thọ hưởng ba phước báu tương xứng với nghiệp của tôi.
BJT 3497Tôi có sự an lạc của tâm, có sự an lạc của thân, có sự an lạc sanh lên từ các oai nghi; tôi đạt được các đức tính này từ thành quả của việc ấy.
BJT 3498Sau khi dâng cúng các dây đeo ở vai đến đấng Chiến Thắng và Hội Chúng, tập thể cao quý tối thượng, tôi thọ hưởng ba phước báu tương xứng với nghiệp của tôi.
BJT 3499Và từ thành quả của việc ấy, tôi đạt được trí biết tâm của người khác, tôi nhớ lại kiếp sống thứ nhì, tôi có làn da đẹp toàn diện.
BJT 3500Sau khi dâng cúng các dây buộc thân đến đấng Chiến Thắng và Hội Chúng, tập thể cao quý tối thượng, tôi thọ hưởng sáu phước báu tương xứng với nghiệp của tôi.
BJT 3501Tôi không chao động ở các tầng định, tôi có năng lực đối với các tầng định, tôi có hội chúng không thể bị chia rẽ, có lời nói luôn luôn được thừa nhận.
BJT 3502Tôi có niệm đã được thiết lập, sự run sợ của tôi là không được biết đến, các đức tính này được gắn liền dầu ở thế giới chư Thiên hay là nhân loại.
BJT 3503Sau khi dâng cúng các chân kê (bình bát) đến đấng Chiến Thắng và Hội Chúng, tập thể cao quý tối thượng, tôi được thừa hưởng năm loại màu sắc, tôi không bị lay động bởi bất cứ điều gì.
BJT 3504Bất cứ các Pháp nào tôi đã được nghe đều là những sự thức tỉnh cho niệm và trí. Những gì đã được tôi ghi nhớ là không tiêu hoại, chúng được xét đoán cẩn thận.
BJT 3505Sau khi dâng cúng các chậu đựng cùng các vật dụng đến đức Phật và tập thể tối thượng, tôi thọ hưởng ba phước báu tương xứng với nghiệp của tôi.
BJT 3506Tôi đạt được các chậu đựng làm bằng vàng, làm bằng bạc, luôn cả làm bằng ngọc pha-lê, và còn làm bằng hồng ngọc nữa.
BJT 3507Những người vợ, và các tôi trai tớ gái, các tượng binh, kỵ binh, xa binh, bộ binh, và luôn cả những người nữ trung thành nữa, đều là thuộc quyền sử dụng (của tôi) vào mọi lúc.
BJT 3508Các môn khoa học, các từ ngữ về chú thuật, luôn cả nhiều kinh điển các loại, cùng tất cả các học nghệ, đều là thuộc quyền sử dụng (của tôi) vào mọi lúc.
BJT 3509Sau khi dâng cúng các tô nhỏ đến đức Thiện Thệ và Hội Chúng, tập thể cao quý tối thượng, tôi thọ hưởng ba phước báu tương xứng với nghiệp của tôi.
BJT 3510Tôi đạt được các tô nhỏ làm bằng vàng, làm bằng bạc, luôn cả làm bằng ngọc pha-lê, và còn làm bằng hồng ngọc nữa.
BJT 3511Tôi đạt được các tô nhỏ làm bằng gỗ assattha, bằng vỏ trái bầu, hoặc bằng các lá sen, và các vỏ sò ốc cho việc uống mật ong.
BJT 3512Tôi có sự thực hành về phận sự, về đức hạnh, về các hành động thuộc về ứng xử; tôi đạt được các đức tính này từ thành quả của việc ấy.
BJT 3513Sau khi dâng cúng thuốc men đến đức Thiện Thệ và Hội Chúng, tập thể cao quý tối thượng, tôi thọ hưởng mười phước báu tương xứng với nghiệp của tôi.
BJT 3514Từ thành quả của việc ấy, tôi có tuổi thọ, có sức mạnh, dũng cảm, có sắc đẹp, có uy quyền, có sự sung sướng, không có sự nguy khốn, không có tai họa, và luôn luôn được tôn trọng, không có sự xa lìa với những người yêu mến của tôi.
BJT 3515Sau khi dâng cúng các đôi dép đến đấng Chiến Thắng và Hội Chúng, tập thể cao quý tối thượng, tôi thọ hưởng ba phước báu tương xứng với nghiệp của tôi.
BJT 3516Sáu chục trăm ngàn (sáu triệu) phương tiện di chuyển bằng voi, phương tiện di chuyển bằng ngựa, các kiệu khiêng, và các cỗ xe kéo luôn luôn vây quanh tôi.
BJT 3517Trong khi tôi luân hồi ở cõi hữu, có những chiếc giày làm bằng ngọc ma-ni, bằng len, bằng vàng, và bằng bạc hiện ra ở những lần giở bàn chân lên.
BJT 3518Theo quy luật tự nhiên, chúng di chuyển hướng đến việc tẩy sạch các hành động tội lỗi; tôi đạt được các đức tính này từ thành quả của việc ấy.
BJT 3519Sau khi dâng cúng các đôi giày đến đức Thiện Thệ và Hội Chúng, tập thể cao quý tối thượng, tôi đã mang vào chiếc giày có thần lực và tôi sống theo như ước muốn.
BJT 3520Sau khi dâng cúng các miếng vải lau khô nước đến đức Phật và tập thể tối thượng, tôi thọ hưởng năm phước báu tương xứng với nghiệp của tôi.
BJT 3521Tôi có màu da vàng chói, không lấm bụi, có sự phát ánh sáng, có sự huy hoàng, cơ thể của tôi là bóng láng, không vấy bẩn bụi bặm và mồ hôi; tôi đạt được các đức tính này từ thành quả của việc ấy.
BJT 3522Sau khi dâng cúng các cây gậy chống đến đức Thiện Thệ và Hội Chúng, tập thể tối thượng, tôi thọ hưởng sáu phước báu tương xứng với nghiệp của tôi.
BJT 3523Tôi có nhiều người con trai, sự run sợ của tôi là không được biết đến, tôi không bao giờ bị áp bức, tôi được bảo vệ bằng mọi phương cách bảo vệ, thậm chí sự té ngã tôi cũng không biết, tâm ý của tôi không bị tản mạn.
BJT 3524Sau khi dâng cúng thuốc bôi đến đức Phật và Hội Chúng, tập thể tối thượng, tôi thọ hưởng tám phước báu tương xứng với nghiệp của tôi.
BJT 3525Tôi có (cặp) mắt to màu trắng, màu vàng, và màu đỏ, có nhãn quan được tịnh tín không bị vẩn đục, được lánh xa mọi tật bệnh.
BJT 3526Tôi đạt được Thiên nhãn, và tuệ nhãn vô thượng; tôi đạt được các đức tính này từ thành quả của việc ấy.
BJT 3527Sau khi dâng cúng các chìa khóa đến đức Thiện Thệ và Hội Chúng, tập thể cao quý tối thượng, tôi đạt được chìa khóa trí tuệ, vật mở ra cánh cửa Giáo Pháp.
BJT 3528Sau khi dâng cúng các túi đựng chìa khóa đến đức Phật và Hội Chúng, tập thể tối thượng, tôi thọ hưởng hai phước báu tương xứng với nghiệp của tôi. Trong khi luân hồi ở cõi hữu, tôi ít giận dữ, không buồn phiền.
BJT 3529Sau khi dâng cúng các vải băng bó đến đức Thiện Thệ và Hội Chúng, tập thể cao quý tối thượng, tôi thọ hưởng năm phước báu tương xứng với nghiệp của tôi.
BJT 3530Trong khi luân hồi ở cõi hữu, tôi không chao động ở các tầng định, tôi có năng lực đối với các tầng định, tôi có hội chúng không thể bị chia rẽ, có lời nói luôn luôn được thừa nhận, có sự thành tựu của cải được sanh lên.
BJT 3531Sau khi dâng cúng các ống dẫn khói đến đấng Chiến Thắng và Hội Chúng, tập thể cao quý tối thượng, tôi thọ hưởng ba phước báu tương xứng với nghiệp của tôi.
BJT 3532Niệm của tôi là trực chỉ, các sợi gân khéo được liên kết, tôi đạt được Thiên nhãn, là từ thành quả của của việc ấy.
BJT 3533Sau khi dâng cúng các chân đèn đến đấng Chiến Thắng và Hội Chúng, tập thể cao quý tối thượng, tôi thọ hưởng ba phước báu tương xứng với nghiệp của tôi.
BJT 3534Tôi có sự sanh ra tốt đẹp, được đầy đủ các phần thân thể, có tuệ hướng đến giác ngộ; tôi đạt được các đức tính này từ thành quả của việc ấy.
BJT 3535Sau khi dâng cúng các vật đo lường và các hòm nhỏ đến đức Phật và tập thể tối thượng, tôi thọ hưởng mười phước báu tương xứng với nghiệp của tôi.
BJT 3536Tôi luôn luôn cảnh giác, có được sự an lạc, có danh vọng lớn lao, đồng thời có cả tương lai, được xa lìa sự thất bại, có sự tinh tế, được lánh khỏi tất cả các hiểm họa.
BJT 35373538. Và tôi có sự đạt được các đức tính vĩ đại, tôi có hành vi bình lặng, sự kích động đã được xa lìa hẳn, tôi đạt được các vật đo lường và các hòm nhỏ có bốn màu, cùng với các con voi, các con ngựa, và châu báu, những vật này của tôi không bị tiêu hoại; điều này là quả báu của việc dâng cúng các vật đo lường.
BJT 3538Sau khi dâng cúng các ống đựng thuốc bôi đến đức Phật và Hội Chúng, tập thể tối thượng, tôi thọ hưởng năm phước báu tương xứng với nghiệp của tôi.
BJT 3539Tôi có đủ tất cả các tướng mạo, có tuổi thọ, trí tuệ, và (tâm) định tĩnh, thân của tôi luôn luôn được thoát khỏi mọi sự mệt nhọc.
BJT 3540Sau khi dâng cúng các cây kéo có cán nhỏ vô cùng bén đến Hội Chúng, tôi đạt được trí tuệ vô lượng và tinh khiết, vật cắt xén các phiền não.
BJT 3541Sau khi dâng cúng các kẹp gắp đến đức Thiện Thệ và Hội Chúng, tập thể cao quý tối thượng, tôi đạt được trí tuệ vô lượng và tinh khiết, vật gắp bỏ các phiền não.
BJT 3542Sau khi dâng cúng các dụng cụ xông mũi đến đức Thiện Thệ và Hội Chúng, tập thể cao quý tối thượng, tôi thọ hưởng tám phước báu tương xứng với nghiệp của tôi.
BJT 3543Tôi có đức tin, giới hạnh, luôn cả sự hổ thẹn tội lỗi, và đức tính ghê sợ (tội lỗi), có sự học hỏi, sự dứt bỏ của cải, sự nhẫn nại, và trí tuệ là đức tính thứ tám.
BJT 3544Sau khi dâng cúng các ghế đẩu đến đức Thiện Thệ và Hội Chúng, tập thể cao quý tối thượng, tôi thọ hưởng năm phước báu tương xứng với nghiệp của tôi.
BJT 3545Tôi được sanh ra ở gia tộc thượng lưu, tôi có của cải lớn lao, tất cả tôn trọng tôi, danh tiếng của tôi được lan truyền.
BJT 3546Trong một trăm ngàn kiếp, các chiếc ghế bành hình vuông thường xuyên vây quanh tôi, tôi vui thích trong sự ban phát.
BJT 3547Sau khi dâng cúng các tấm nệm đến đức Thiện Thệ và Hội Chúng, tập thể cao quý tối thượng, tôi thọ hưởng sáu phước báu tương xứng với nghiệp của tôi.
BJT 3548Tôi có thân thể đều đặn, được tôn trọng, là người mềm mỏng, có dáng vóc tao nhã, tôi đạt được nhóm tùy tùng có trí tuệ; điều này là quả báu của việc dâng cúng nệm.
BJT 3549Tôi đạt được các nệm bông vải đủ các hình dạng, nhiều tấm thảm dệt có hình vẽ, các tấm tranh vải quý giá, và nhiều loại chăn mền.
BJT 3550Tôi đạt được các tấm áo khoác mềm mại, các mảnh da dê mềm mại, và các tấm trải lót nhiều loại; điều này là quả báu của việc dâng cúng nệm.
BJT 3551Kể từ khi tôi nhớ được bản thân, kể từ khi tôi đạt được sự hiểu biết, tôi không là kẻ vô tích sự, tôi là chiếc nôi của thiền; điều này là quả báu của việc dâng cúng các tấm nệm.
BJT 3552Sau khi dâng cúng các chiếc gối đến đấng Chiến Thắng và Hội Chúng, tập thể cao quý tối thượng, tôi thọ hưởng sáu phước báu tương xứng với nghiệp của tôi.
BJT 3553Tôi luôn luôn kê đầu ở những chiếc gối len, những chiếc gối gương sen, và những chiếc gối gỗ trầm màu đỏ.
BJT 3554Sau khi hướng dẫn trí đến Đạo lộ cao quý tám chi phần, bốn quả vị Sa-môn, tôi an trú vào các pháp ấy trong mọi thời điểm.
BJT 3555Sau khi hướng dẫn trí đến sự bố thí, sự rèn luyện, sự thu thúc, và các pháp vô lượng tâm (từ, bi, hỷ, xả) thuộc sắc giới , tôi an trú vào các pháp ấy trong mọi thời điểm.
BJT 3556Sau khi đặt tâm trí vào phận sự, đức hạnh, sự thực hành, và các hành động thuộc về ứng xử, tôi an trú (vào các pháp ấy) trong mọi thời điểm.
BJT 3557Sau khi hướng dẫn trí đến dường kinh hành, hoặc sự nỗ lực tinh tấn ở các chi phần giác ngộ, tôi an trú vào các pháp ấy theo như ý thích.
BJT 3558Sau khi hướng dẫn trí đến Giới, Định, Tuệ, và sự Giải Thoát vô thượng, tôi an trú vào các pháp ấy một cách an lạc.
BJT 3559Sau khi dâng cúng các ghế rơm đến đấng Chiến Thắng và Hội Chúng, tập thể cao quý tối thượng, tôi thọ hưởng hai phước báu tương xứng với nghiệp của tôi.
BJT 3560Tôi hưởng thụ nhiều ghế bành thượng hạng làm bằng vàng, làm bằng ngọc ma-ni, làm bằng ngà voi và lõi gỗ; điều này là quả báu của chiếc ghế rơm.
BJT 3561Sau khi dâng cúng các ghế kê chân đến đấng Chiến Thắng và Hội Chúng, tập thể cao quý tối thượng, tôi thọ hưởng hai phước báu tương xứng với nghiệp của tôi.
BJT 3562Tôi đạt được nhiều phương tiện di chuyển; điều này là quả báu của chiếc ghế kê chân. Các tôi nam tớ gái, các người vợ, và những người khác sống nương tựa đều phục vụ tôi một cách nghiêm chỉnh; điều này là quả báu của chiếc ghế kê chân.
BJT 3563Sau khi dâng cúng các chất dầu bôi đến Hội Chúng, tập thể cao quý tối thượng, tôi thọ hưởng năm phước báu tương xứng với nghiệp của tôi.
BJT 3564Tôi có được sự không bệnh tật, sự thành tựu về dáng vóc, sự tiếp thu Giáo Pháp một cách nhạy bén, sự đạt được cơm ăn nước uống, và nhóm năm là tuổi thọ, sắc đẹp, an vui, sức mạnh, và trí tuệ.
BJT 3565Sau khi dâng cúng bơ lỏng và dầu ăn đến Hội Chúng, tập thể cao quý tối thượng, tôi thọ hưởng năm phước báu tương xứng với nghiệp của tôi.
BJT 3566Tôi luôn luôn có được sức mạnh, được thành tựu về dáng vóc, có cơ thể tươi vui, không có bệnh, sạch sẽ; điều này là quả báu của bơ lỏng và dầu ăn.
BJT 3567Sau khi dâng cúng vật làm sạch miệng đến đức Phật và Hội Chúng, tập thể tối thượng, tôi thọ hưởng năm phước báu tương xứng với nghiệp của tôi.
BJT 3568Tôi có cổ họng sạch sẽ, có giọng nói ngọt ngào, được tránh khỏi bệnh ho, bệnh suyển, và hương thơm của hoa sen luôn luôn tỏa ra từ miệng của tôi.
BJT 3569Sau khi dâng cúng sữa đông đầy đủ phẩm chất đến đức Phật và Hội Chúng, tập thể tối thượng, tôi thọ hưởng tài sản bất tử cao quý, đó là niệm hướng đến thân.
BJT 3570Sau khi dâng cúng mật ong đạt được màu sắc và hương vị đến đấng Chiến Thắng và Hội Chúng, tôi uống hương vị giải thoát không thể ước lượng, không gì sánh bằng.
BJT 3571Sau khi dâng cúng chất tinh túy ở trạng thái thiên nhiên đến đức Phật và Hội Chúng, tập thể tối thượng, tôi thọ hưởng bốn (Thánh) Quả tương xứng với nghiệp của tôi.
BJT 3572Sau khi dâng cúng cơm ăn và nước uống đến đức Phật và Hội Chúng, tập thể tối thượng, tôi thọ hưởng mười phước báu tương xứng với nghiệp của tôi.
BJT 3573Tôi luôn luôn có tuổi thọ, có sức mạnh, sáng suốt, có dung sắc, có uy quyền, có sự sung sướng, có sự thành tựu về cơm ăn và nước uống, dũng cảm, có trí tuệ, tôi đạt được những đức tính này trong khi luân hồi ở cõi hữu.
BJT 3574Sau khi dâng cúng nhang (thơm) đến đức Thiện Thệ và Hội Chúng, tập thể cao quý tối thượng, tôi thọ hưởng mười phước báu tương xứng với nghiệp của tôi.
BJT 35753577. Trong khi luân hồi ở cõi này cõi khác, tôi đạt được cơ thể có mùi thơm ngào ngạt, có uy quyền, có tuệ nhạy bén, có danh tiếng, có tuệ sắc bén, có tuệ bao la, có tuệ vi tiếu, và tuệ thâm sâu, có tuệ rộng lớn, và tuệ đổng tốc. Giờ đây, do nhờ tác động của chính việc ấy, tôi đạt đến sự tịnh lặng, an lạc, Niết Bàn.
BJT 3576Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật vào thời hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 3577Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 3578Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Piḷindivaccha đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
1. Pilindavacchattheraapadānaṃ
1. The Biographical Account of the Elder Pilindavaccha
1. Sự tích của trưởng lão Pilindavaccha
1.
1.
1.
‘‘Nagare haṃsavatiyā, āsiṃ dovāriko ahaṃ;
Akkhobhaṃ amitaṃ bhogaṃ, ghare sannicitaṃ mama.
“In the city of Haṃsavatī, I was a gatekeeper. In my home was amassed unshakable and immeasurable wealth.”
Tại thành phố Haṃsavatī, tôi đã là người gác cổng. Của cải không thể lay chuyển, vô lượng đã được tích trữ ở trong nhà của tôi.
2.
2.
2.
‘‘Rahogato nisīditvā, pahaṃsitvāna mānasaṃ †;
Nisajja pāsādavare, evaṃ cintesahaṃ tadā.
“Having gone into seclusion and sat down, delighting my mind, seated in the excellent palace, thus I pondered then.”
Sau khi đi đến nơi vắng vẻ và ngồi xuống, sau khi làm cho tâm được hoan hỷ, lúc ấy tôi ngồi ở trên lầu đài cao quý và đã suy nghĩ như vầy:
(Cintanākāro)
(The Manner of Pondering)
(Cách thức suy tư)
3.
3.
3.
‘‘‘Bahū medhigatā bhogā, phītaṃ antepuraṃ mama;
Rājāpi † sannimantesi, ānando pathavissaro.
“‘Many riches have been obtained by me; my inner household is prosperous. Even the king, Ānanda, lord of the earth, invites me.’”
‘Nhiều của cải đã được tôi đạt đến, nội cung của tôi được thịnh vượng. Vị vua Ānanda, là đấng cai trị đất đai, cũng đã mời mọc tôi.
4.
4.
4.
‘‘‘Ayañca buddho uppanno, adhiccuppattiko muni;
Saṃvijjanti ca me bhogā, dānaṃ dassāmi satthuno.
“‘And this Buddha has arisen, a sage of rare occurrence. My riches are also available; I shall give a gift to the Teacher.’”
‘Và vị Phật này đã xuất hiện, bậc Mâu-ni là người hiếm khi xuất hiện. Của cải của tôi cũng đang hiện hữu, tôi sẽ dâng cúng vật thí đến bậc Đạo Sư.
5.
5.
5.
‘‘‘Padumena rājaputtena, dinnaṃ dānavaraṃ jine;
Hatthināge ca pallaṅke, apassenañcanappakaṃ.
“‘By Prince Paduma, an excellent gift was given to the Conqueror: excellent elephants, palanquins, and many leaning-boards.’”
‘Vương tử Paduma đã dâng cúng vật thí cao quý đến đấng Chiến Thắng, gồm có các con voi chúa, các bảo tọa, và nhiều tấm dựa lưng.
6.
6.
6.
‘‘‘Ahampi dānaṃ dassāmi, saṅghe gaṇavaruttame;
Adinnapubbamaññesaṃ, bhavissaṃ ādikammiko.
“‘I too shall give a gift to the Saṅgha, the most excellent community. Having given what has not been given before by others, I shall be the originator.’”
‘Tôi cũng sẽ dâng cúng vật thí đến Tăng chúng, là hội chúng cao quý và tối thượng. Sau khi cúng dường vật phẩm chưa từng được những người khác cúng dường trước đây, tôi sẽ là người khởi xướng.’
7.
7.
7.
‘‘‘Cintetvāhaṃ bahuvidhaṃ, yāge yassa sukhaṃphalaṃ;
Parikkhāradānamaddakkhiṃ, mama saṅkappapūraṇaṃ.
“‘Having pondered in many ways about offerings and which would have a happy fruit, I saw the gift of requisites as the fulfillment of my aspiration.’”
‘Sau khi suy nghĩ về nhiều loại vật cúng dường, trong các sự cúng dường, loại nào có quả là an lạc, tôi đã thấy việc cúng dường các vật dụng là điều làm viên mãn ý nguyện của tôi.
8.
8.
8.
‘‘‘Parikkhārāni dassāmi, saṅghe gaṇavaruttame;
Adinnapubbamaññesaṃ, bhavissaṃ ādikammiko’.
‘I shall give requisites to the Saṅgha, the most excellent community. Having given what has not been given before by others, I shall be the originator.’
‘Tôi sẽ dâng cúng các vật dụng đến Tăng chúng, là hội chúng cao quý và tối thượng. Sau khi cúng dường vật phẩm chưa từng được những người khác cúng dường trước đây, tôi sẽ là người khởi xướng.’
(Dānavatthusampādanaṃ)
(Procurement of the Items for the Gift)
(Việc chuẩn bị các vật thí)
9.
9.
9.
‘‘Naḷakāre upāgamma, chattaṃ kāresi tāvade;
Chattasatasahassāni, ekato sannipātayiṃ.
Approaching the reed-workers, I had a parasol made at that very moment. I gathered together one hundred thousand parasols.
Sau khi đi đến những người thợ làm đồ tre, ngay lúc ấy tôi đã cho làm chiếc dù. Tôi đã cho tập hợp một trăm ngàn chiếc dù lại cùng một nơi.
10.
10.
10.
‘‘Dussasatasahassāni, ekato sannipātayiṃ;
Pattasatasahassāni, ekato sannipātayiṃ.
I gathered together one hundred thousand cloths. I gathered together one hundred thousand bowls.
Tôi đã cho tập hợp một trăm ngàn tấm vải lại cùng một nơi. Tôi đã cho tập hợp một trăm ngàn chiếc bát lại cùng một nơi.
11.
11.
11.
‘‘Vāsiyo satthake cāpi, sūciyo nakhachedane;
Heṭṭhāchatte ṭhapāpesiṃ, kāretvā tadanucchave.
Adzes, small knives, needles, and nail-clippers, having had them made as was suitable, I had them placed beneath the parasols.
Sau khi cho làm các vật thích hợp gồm có các chiếc rìu, các con dao nhỏ, các cây kim, các đồ cắt móng tay, tôi đã cho đặt chúng ở dưới chiếc dù.
12.
12.
12.
‘‘Vidhūpane tālavaṇṭe, morahatthe ca cāmare;
Parissāvane teladhāre †, kārayiṃ tadanucchave.
Fans, palm-leaf fans, peacock-feather fans, and yak-tail whisks; water-strainers and oil containers, I had them made as was suitable.
Tôi đã cho làm các vật thích hợp gồm có các loại quạt, quạt lá cọ, quạt lông công, và phất trần, các đồ lọc nước, các bình đựng dầu.
13.
13.
13.
‘‘Sūcighare aṃsabaddhe, athopi kāyabandhane;
Ādhārake ca sukate, kārayiṃ tadanucchave.
Needle-cases, shoulder-straps, and also waist-bands; and well-made bowl-stands, I had them made as was suitable.
Tôi đã cho làm các vật thích hợp gồm có các ống đựng kim, các dây đeo vai, và cả các dây thắt lưng, và các đế bát được làm một cách khéo léo.
14.
14.
14.
‘‘Paribhogabhājane ca, athopi lohathālake;
Bhesajje pūrayitvāna, heṭṭhāchatte ṭhapesahaṃ.
Vessels for use and also bronze bowls; having filled them with medicines, I placed them beneath the parasols.
Các vật dụng, các bát bằng đồng, tôi đã cho đổ đầy dược phẩm, rồi đặt ở bên dưới lọng.
15.
15.
15.
‘‘Vacaṃ usīraṃ laṭṭhimadhuṃ, pipphalī maricāni ca;
Harītakiṃ siṅgīveraṃ, sabbaṃ pūresi bhājane.
Sweet flag, vetiver, licorice, long pepper, and black pepper; myrobalan and ginger—I filled the vessels with all of these.
Thiên niên kiện, hương bài, cam thảo, tiêu lốt và các loại tiêu, quả hà lặc, gừng; tất cả tôi đã cho đầy vào trong vật dụng.
16.
16.
16.
‘‘Upāhanā pādukāyo, atho udakapuñchane;
Kattaradaṇḍe sukate, kārayiṃ tadanucchave.
Sandals, footwear, and also foot-wipers; well-made walking sticks, I had them made as was suitable.
Giày dép, guốc dép, và cả khăn lau nước, những cây gậy chống được làm khéo léo; tôi đã cho làm các vật thích hợp như thế.
17.
17.
17.
‘‘Osadhañjananāḷī ca †, salākā dhammakuttarā;
Kuñcikā pañcavaṇṇehi, sibbite kuñcikāghare.
Medicines, eyeliner tubes, and applicator sticks, water-strainers, keys, and key-cases stitched with five-colored thread.
Thuốc nhỏ mắt, ống thuốc nhỏ mắt, que nhỏ mắt, đồ lọc nước, chìa khóa, và túi đựng chìa khóa được may bằng chỉ năm màu.
18.
18.
18.
‘‘Āyoge dhūmanette ca, athopi dīpadhārake;
Tumbake ca karaṇḍe ca, kārayiṃ tadanucchave.
Cloth bands, smoke-inhalation tubes, and also lamp-stands; gourds and caskets, I had them made as was suitable.
Dây thắt lưng, ống xông khói, và cả chân đèn, các quả bầu, các hộp đựng; tôi đã cho làm các vật thích hợp như thế.
19.
19.
19.
‘‘Saṇḍāse pipphale ceva, athopi malahārake;
Bhesajjathavike ceva, kārayiṃ tadanucchave.
Tweezers and razors, and also ear-picks; and medicine bags, I had them made as was suitable.
Nhíp nhổ râu, dao cạo, và cả dụng cụ lấy ráy tai, các túi đựng thuốc; tôi đã cho làm các vật thích hợp như thế.
20.
20.
20.
‘‘Āsandiyo pīṭhake ca, pallaṅke caturomaye;
Tadanucchave kārayitvā, heṭṭhāchatte ṭhapesahaṃ.
Long chairs, stools, and couches of four kinds, having had them made as was suitable, I placed them beneath the parasols.
Các ghế dài, các ghế đẩu, và các giường thuộc bốn loại, sau khi cho làm các vật thích hợp như thế, tôi đã đặt ở bên dưới lọng.
21.
21.
21.
‘‘Uṇṇābhisī tūlabhisī, athopi pīṭhikābhisī †;
Bimbohane † ca sukate, kārayiṃ tadanucchave.
Wool-stuffed mattresses, cotton-stuffed mattresses, and also mattresses for stools; and well-made pillows, I had them made as was suitable.
Nệm nhồi lông cừu, nệm nhồi bông gòn, và cả nệm lót ghế, các gối nằm được làm khéo léo; tôi đã cho làm các vật thích hợp như thế.
22.
22.
22.
‘‘Kuruvinde madhusitthe, telaṃ hatthappatāpakaṃ;
Sipāṭiphalake sucī, mañcaṃ attharaṇena ca.
Whetstones, beeswax, oil, and hand-warmers; pure sipāṭi boards, and a couch with a spread.
Đá mài, sáp ong, dầu, lò sưởi tay, các tấm ván sipāṭi thanh sạch, và giường cùng với tấm trải.
23.
23.
23.
‘‘Senāsane pādapuñche, sayanāsanadaṇḍake;
Dantapoṇe ca āṭalī †, sīsālepanagandhake.
Lodgings, foot-wipers, and poles for beds and seats; tooth-cleaners, layered sandals, and perfumes for anointing the head.
Chỗ ở, đồ lau chân, các thanh gỗ của giường nằm, dụng cụ chà răng, dép nhiều lớp, và hương liệu thoa đầu.
24.
24.
24.
‘‘Araṇī phalapīṭhe † ca, pattapidhānathālake;
Udakassa kaṭacchū ca, cuṇṇakaṃ rajanambaṇaṃ †.
Fire-drills and board-stools, bowl-lids and plates; a ladle for water, bathing powder, and a dyeing vat.
Dụng cụ tạo lửa, ghế bằng tấm ván, bát có nắp đậy, muỗng múc nước, bột thơm để tắm, và chậu nhuộm.
25.
25.
25.
‘‘Sammajjanaṃ † udapattaṃ, tathā vassikasāṭikaṃ;
Nisīdanaṃ kaṇḍucchādi, atha antaravāsakaṃ.
A broom, a water pot, likewise a rains-cloth; a sitting-cloth, a cloth for covering sores, and then an under-robe.
Chổi, bình nước, cũng vậy là y dùng trong mùa mưa, tấm tọa cụ, vải che mụn ghẻ, và cả y nội.
26.
26.
26.
‘‘Uttarāsaṅgasaṅghāṭī, natthukaṃ mukhasodhanaṃ;
Biḷaṅgaloṇaṃ pahūtañca †, madhuñca dadhipānakaṃ.
The upper robe and the outer robe, an instrument for nasal inhalation, and a mouth-cleanser; medicated salt, honey, and a cup for drinking curd.
Y vai trái, y kép, dụng cụ xông mũi, dụng cụ làm sạch miệng, muối ngâm dấm dồi dào, mật ong, và sữa chua để uống.
27.
27.
27.
‘‘Dhūpaṃ † sitthaṃ pilotiñca, mukhapuñchanasuttakaṃ;
Dātabbaṃ nāma yaṃ atthi, yañca kappati satthuno.
Incense, wax, and coarse cloth, and face-wiping thread; whatever thing should be given, and whatever is suitable for the Teacher.
Nhang, sáp, vải thô, và chỉ để may khăn lau mặt. Bất cứ vật gì được gọi là vật nên cúng dường, và bất cứ vật gì là thích hợp đối với bậc Đạo Sư.
28.
28.
28.
‘‘Sabbametaṃ samānetvā, ānandaṃ upasaṅkamiṃ;
Upasaṅkamma rājānaṃ, janetāraṃ mahesino †;
Sirasā abhivādetvā, idaṃ vacanamabraviṃ.
Having gathered all this together, I approached Ānanda. Having approached the king, the lord of the earth, the bringer of happiness and prosperity, and having paid homage with my head, I spoke this word.
Sau khi tập hợp tất cả các vật ấy, tôi đã đi đến vua Ānanda. Sau khi đi đến đức vua, là người tạo ra (hạnh phúc), là bậc chúa tể, tôi đã dùng đầu đảnh lễ và đã nói lên lời này:
(Dānokāsayācanā)
(Request for an Opportunity to Give)
(Xin cơ hội để cúng dường)
29.
29.
29.
‘‘‘Ekato jātasaṃvaddhā, ubhinnaṃ ekato manaṃ †;
Sādhāraṇā sukhadukkhe, ubho ca anuvattakā.
‘We were born and grew up together; the minds of us both are one. We share in happiness and suffering, and we both are followers of one another.
‘Chúng ta được sinh ra và lớn lên cùng nhau, tâm của cả hai là một. Hạnh phúc và đau khổ là chung, và cả hai là người tùy thuận lẫn nhau.
30.
30.
30.
‘‘‘Atthi cetasikaṃ dukkhaṃ, tavādheyyaṃ arindama;
Yadi sakkosi taṃ dukkhaṃ, vinodeyyāsi khattiya.
‘O tamer of foes, there is a mental suffering that is connected with you. O Khattiya, if you are able, please dispel that suffering.
‘Hỡi ngài Arindama, có nỗi khổ về tâm tư liên quan đến ngài. Hỡi vị vua Sát-đế-lỵ, nếu ngài có thể, xin hãy xua tan nỗi khổ ấy.
31.
31.
31.
‘‘‘Tava dukkhaṃ mama dukkhaṃ, ubhinnaṃ ekato mano †;
Niṭṭhitanti vijānāhi, mamādheyyaṃ sace tuvaṃ.
‘Your suffering is my suffering; the minds of us both are one. If your suffering is connected with me, know that it is finished.
‘Nỗi khổ của ngươi là nỗi khổ của ta, tâm của cả hai là một. Nếu như việc ấy tùy thuộc vào ta, hãy biết rằng (nỗi khổ ấy) đã được chấm dứt.
32.
32.
32.
‘‘‘Jānāhi kho mahārāja, dukkhaṃ me dubbinodayaṃ;
Pahu samāno gajjasu, ekaṃ te duccajaṃ varaṃ.
‘Indeed, know, O great king, that my suffering is difficult to dispel. Only if you are able, should you make your vow. For you, one boon is difficult to renounce.
‘Tâu đại vương, xin hãy biết rằng nỗi khổ của tôi quả thật khó xua tan. Nếu có thể, ngài hãy tuyên bố. Đối với ngài, có một điều ước khó từ bỏ.
33.
33.
33.
‘‘‘Yāvatā vijite atthi, yāvatā mama jīvitaṃ;
Etehi yadi te attho, dassāmi avikampito.
‘Whatever is in my kingdom, and even my own life; if you have need of these, I will give them without wavering.
‘Bất cứ những gì có trong vương quốc, và cả mạng sống của ta, nếu ngươi cần đến những thứ ấy, ta sẽ trao cho không do dự.
34.
34.
34.
‘‘‘Gajjitaṃ kho tayā deva, micchā taṃ bahu gajjitaṃ;
Jānissāmi tuvaṃ ajja, sabbadhamme † patiṭṭhitaṃ.
‘O Deva, you have indeed made a vow. Is that great vow false? Today I shall know if you are established in all principles.
‘Tâu thiên tử, ngài quả thật đã tuyên bố. Lời tuyên bố hùng hồn ấy là sai lầm. Hôm nay, tôi sẽ biết được ngài có an trú trong tất cả các pháp hay không.
35.
35.
35.
‘‘‘Atibāḷhaṃ nipīḷesi, dadamānassa me sato;
Kiṃ te me pīḷitenattho, patthitaṃ te kathehi me.
‘You press me too severely, even as I am giving. What is the use for you in pressing me? Tell me what you desire.
‘Ngươi đang ép buộc ta quá mức, trong khi ta đang sẵn lòng cho. Việc ngươi ép buộc ta có lợi ích gì? Hãy nói cho ta biết điều ngươi mong muốn.
36.
36.
36.
‘‘‘Icchāmahaṃ mahārāja, buddhaseṭṭhaṃ anuttaraṃ;
Bhojayissāmi sambuddhaṃ, vajjaṃ † me māhu jīvitaṃ.
‘O great king, I desire the supreme, unsurpassed Buddha. I will feed the Sambuddha. Let there be no fault for my life.
‘Tâu đại vương, tôi mong muốn bậc Phật tối thắng, bậc vô song. Tôi sẽ cúng dường bậc Chánh Đẳng Giác. Mong rằng mạng sống của tôi không có lỗi lầm.
37.
37.
37.
‘‘‘Aññaṃ tehaṃ varaṃ dammi, mā yācittho tathāgataṃ †;
Adeyyo kassaci buddho, maṇi jotiraso yathā.
‘I will give you another boon; do not ask for the Tathāgata. The Buddha is not to be given to anyone, just as the Jotirasa gem is not to be given.
‘Ta ban cho ngươi điều ước khác, đừng xin đức Như Lai. Đức Phật không thể ban cho bất cứ ai, cũng như ngọc Jotirasa vậy.
38.
38.
38.
‘‘‘Nanu te gajjitaṃ deva, yāva jīvitamattano †;
Jīvitaṃ † dadamānena, yuttaṃ dātuṃ tathāgataṃ.
‘Did you not make your vow, O Deva, up to your own life? As one who was giving his life, is it not proper for you to give the Tathāgata?
‘Tâu thiên tử, chẳng phải ngài đã tuyên bố cho đến cả mạng sống của mình sao? Đối với người đang cho đi mạng sống, việc cho đi đức Như Lai là thích hợp, chẳng phải vậy sao?
39.
39.
39.
‘‘‘Ṭhapanīyo mahāvīro, adeyyo kassaci jino;
Na me paṭissuto buddho, varassu amitaṃ dhanaṃ.
‘The Great Hero is to be set aside; the Victor is not to be given to anyone. The Buddha was not promised by me; choose immeasurable wealth instead.
‘Bậc Đại Hùng nên được để riêng ra, bậc Chiến Thắng không thể ban cho bất cứ ai. Ta đã không hứa cho đức Phật, hãy chọn lấy của cải vô lượng.
40.
40.
40.
‘‘‘Vinicchayaṃ pāpuṇāma, pucchissāma vinicchaye;
Yathāsaṇṭhaṃ † kathessanti, paṭipucchāma taṃ tathā.
‘Let us go to the place of judgment; let us ask the judges. They will declare the law as it stands; let us question the matter accordingly.
‘Chúng ta hãy đến tòa án, chúng ta sẽ hỏi các vị thẩm phán. Các vị ấy sẽ nói theo như sự thật, chúng ta hãy hỏi về điều đó như vậy.
41.
41.
41.
‘‘‘Rañño hatthe gahetvāna, agamāsiṃ vinicchayaṃ;
Purato akkhadassānaṃ, idaṃ vacanamabraviṃ.
Taking the king by the hand, I went to the place of judgment. Before the judges, I spoke this word.
Sau khi nắm lấy tay của đức vua, tôi đã đi đến tòa án. Trước mặt các vị thẩm phán, tôi đã nói lên lời này:
42.
42.
42.
‘‘‘Suṇantu me akkhadassā, rājā varamadāsi me;
Na kiñci ṭhapayitvāna, jīvitampi † pavārayi.
‘Let the judges hear me: the king gave me a boon. Without setting anything aside, he even offered his life.
‘Xin các vị thẩm phán hãy nghe lời tôi, đức vua đã ban cho tôi một điều ước. Ngài đã mời nhận, không giữ lại bất cứ điều gì, cho đến cả mạng sống.
43.
43.
43.
‘‘‘Tassa me varadinnassa, buddhaseṭṭhaṃ variṃ ahaṃ;
Sudinno hoti me buddho, chindatha saṃsayaṃ mama.
‘To me, who was given that boon, I chose the supreme Buddha. Is the Buddha well-given to me? Please resolve my doubt.
‘Đối với tôi, người đã được ban cho điều ước, tôi đã chọn lựa Đức Phật tối thắng. Đức Phật đã được ban cho tôi một cách tốt đẹp rồi, xin các ngài hãy đoạn trừ sự nghi ngờ của tôi.’
44.
44.
44.
‘‘‘Sossāma tava vacanaṃ, bhūmipālassa rājino;
Ubhinnaṃ vacanaṃ sutvā, chindissāmettha saṃsayaṃ.
‘We will hear your word, and the word of the king, the protector of the earth. Having heard the words of both, we will then resolve the doubt.
‘Chúng tôi sẽ lắng nghe lời của ông, và (lời) của đức vua, vị hộ trì quốc thổ. Sau khi đã nghe lời của cả hai, chúng tôi sẽ đoạn trừ sự nghi ngờ ở đây.’
45.
45.
45.
‘‘‘Sabbaṃ deva tayā dinnaṃ, imassa sabbagāhikaṃ †;
Na kiñci ṭhapayitvāna, jīvitampi pavārayi.
‘O Deva, was everything given by you to this man, to be taken completely? Without setting anything aside, did you even offer your life?’
‘Tâu Đại vương, có phải ngài đã ban cho người này tất cả mọi thứ, để người ấy nhận lấy trọn vẹn? Không chừa lại bất cứ thứ gì, có phải ngài đã dâng tặng cả mạng sống?’
46.
46.
46.
‘‘‘Kicchappattova hutvāna, yācī varamanuttaraṃ †;
Imaṃ sudukkhitaṃ ñatvā, adāsiṃ sabbagāhikaṃ.
Having fallen into difficulty, he asked for the supreme boon; knowing him to be extremely afflicted, I gave the all-encompassing boon.
‘(Vị ấy) đã rơi vào cảnh khốn cùng, và đã cầu xin điều ước vô thượng. Do biết được nỗi khổ cùng cực này, tôi đã ban cho (điều ước) có thể nhận lấy trọn vẹn.’
47.
47.
47.
‘‘‘Parājayo tuvaṃ † deva, assa deyyo tathāgato;
Ubhinnaṃ saṃsayo chinno, yathāsaṇṭhamhi † tiṭṭhatha.
‘You are defeated, O Deva; the Tathāgata must be given to him. The doubt of you both is cut; stand by the law as it is established.’
‘Tâu Đại vương, ngài đã thua cuộc. Bậc Như Lai nên được trao cho người ấy. Sự nghi ngờ của cả hai đã được đoạn trừ. Các vị hãy tuân theo như đã được phán quyết.’
48.
48.
48.
‘‘‘Rājā tattheva ṭhatvāna, akkhadassetadabravi;
Sammā mayhampi deyyātha, puna buddhaṃ labhāmahaṃ.
The king, standing right there, said this to the judges: ‘Friends, you should give to me also, so that I may get the Buddha back again.’
‘Đức vua đứng ngay tại đó, đã nói lời này với các vị thẩm phán: ‘Này các khanh, xin hãy trao lại cho ta, ta muốn nhận lại Đức Phật một lần nữa.’
49.
49.
49.
‘‘‘Pūretvā tava saṅkappaṃ, bhojayitvā tathāgataṃ;
Puna deyyāsi † sambuddhaṃ, ānandassa yasassino’.
‘Having fulfilled your intention and having fed the Tathāgata, you should then give the Sambuddha back to the glorious Ānanda.’
‘Sau khi làm viên mãn ý nguyện của ông, sau khi đã cúng dường vật thực đến bậc Như Lai, ông hãy trao lại bậc Chánh Đẳng Giác cho đức vua Ānanda, bậc danh tiếng lẫy lừng.’
(Nimantanakathā)
(The Invitation)
(Lời thỉnh mời)
50.
50.
50.
‘‘Akkhadassebhivādetvā, ānandañcāpi khattiyaṃ;
Tuṭṭho pamudito hutvā, sambuddhamupasaṅkamiṃ.
Having paid homage to the judges and also to Ānanda the Khattiya, being pleased and joyful, I approached the Sambuddha.
Sau khi đã đảnh lễ các vị thẩm phán, và cả đức vua Ānanda thuộc dòng Sát-đế-lỵ, với tâm hoan hỷ, vui mừng, tôi đã đi đến yết kiến bậc Chánh Đẳng Giác.
51.
51.
51.
‘‘Upasaṅkamma sambuddhaṃ, oghatiṇṇamanāsavaṃ;
Sirasā abhivādetvā, idaṃ vacanamabraviṃ.
Having approached the Sambuddha, who has crossed over the flood and is without taints, and having paid homage with my head, I spoke this word.
Sau khi đi đến yết kiến bậc Chánh Đẳng Giác, là đấng đã vượt qua bộc lưu, không còn lậu hoặc, tôi đã cúi đầu đảnh lễ và đã nói lên lời này.
52.
52.
52.
‘Vasīsatasahassehi, adhivāsehi cakkhuma;
Hāsayanto mama cittaṃ, nivesanamupehi me’.
‘O One with Vision, with one hundred thousand masters, please consent. Causing my mind to rejoice, please come to my dwelling.’
‘Bạch ngài, bậc có Pháp nhãn, xin ngài cùng với một trăm ngàn vị đã tự chủ, hãy chấp nhận (lời thỉnh mời). Làm cho tâm con được hoan hỷ, xin ngài hãy quang lâm đến trú xứ của con.’
53.
53.
53.
‘‘Padumuttaro lokavidū, āhutīnaṃ paṭiggaho;
Mama saṅkappamaññāya, adhivāsesi cakkhumā.
Padumuttara, the Knower of the World, the worthy recipient of offerings, knowing my intention, the One with Vision consented.
Đức Phật Padumuttara, bậc Thông suốt Thế gian, bậc xứng đáng thọ nhận vật cúng dường, bậc có Pháp nhãn, do biết được ý nguyện của tôi, đã chấp nhận lời thỉnh mời.
54.
54.
54.
‘‘Adhivāsanamaññāya, abhivādiya satthuno;
Haṭṭho udaggacittohaṃ, nivesanamupāgamiṃ.
Knowing of the Teacher's consent, and having paid homage to the Teacher, I, joyful and with uplifted mind, went to my dwelling.
Do biết được sự chấp nhận của bậc Đạo Sư, tôi đã đảnh lễ ngài. Với tâm hoan hỷ, phấn chấn, tôi đã đi về trú xứ của mình.
(Dānapaṭiyādanaṃ)
(Preparation of the Offering)
(Sự chuẩn bị vật thí)
55.
55.
55.
‘‘Mittāmacce samānetvā, idaṃ vacanamabraviṃ;
‘Sudullabho mayā laddho, maṇi jotiraso yathā.
Having gathered friends and companions, I spoke these words: ‘Just as the Jotirasa gem is extremely difficult to obtain, so have I obtained that which is extremely difficult to obtain.’
Sau khi tập hợp bạn bè và các vị quan, tôi đã nói lời này: ‘Tôi đã có được điều vô cùng khó gặp, giống như ngọc jotirasa.’
56.
56.
56.
‘‘‘Kena taṃ pūjayissāma, appameyyo anūpamo;
Atulo asamo dhīro, jino appaṭipuggalo.
‘With what shall we honor him? The Conqueror is immeasurable, incomparable, peerless, unequalled, steadfast, and without a rival.
‘Chúng ta sẽ cúng dường ngài bằng vật gì? Bậc Chiến Thắng là đấng không thể đo lường, không có gì sánh bằng, không thể cân bằng, không ai ngang bằng, bậc Kiên định, không có đối thủ.’
57.
57.
57.
‘‘‘Tathāsamasamo ceva, adutiyo narāsabho;
Dukkaraṃ adhikārañhi, buddhānucchavikaṃ mayā.
Furthermore, he is equal to the unequalled, unique, a bull among men; I have performed an extraordinary service worthy of the Buddha, which is difficult to do.
‘Cũng vậy, Ngài là bậc vô song, không có người thứ hai, là bậc tối thắng giữa loài người; quả thật tôi đã thực hiện được đại sự khó làm, xứng đáng dành cho đức Phật.’
58.
58.
58.
‘‘‘Nānāpupphe samānetvā, karoma pupphamaṇḍapaṃ;
Buddhānucchavikaṃ etaṃ, sabbapūjā bhavissati’.
‘Having gathered various flowers, let us make a flower pavilion. This is worthy of the Buddha; it will be a complete offering.’
‘Sau khi thu gom các loại hoa khác nhau, chúng ta hãy làm một gian nhà hoa. Điều này sẽ xứng đáng với Đức Phật, và sẽ là một sự cúng dường trọn vẹn.’
59.
59.
59.
‘‘Uppalaṃ padumaṃ vāpi, vassikaṃ adhimuttakaṃ †;
Campakaṃ † nāgapupphañca, maṇḍapaṃ kārayiṃ ahaṃ.
With blue lotuses, lotuses, vassikā jasmine, adhimuttaka jasmine, campaka flowers, and nāga flowers, I had a pavilion made.
Tôi đã cho làm một gian nhà với hoa sen xanh, hoa sen hồng, hoa lài, hoa adhimuttaka, hoa ngọc lan, và hoa thiết mộc.
60.
60.
60.
‘‘Satāsanasahassāni, chattacchāyāya paññapiṃ;
Pacchimaṃ āsanaṃ mayhaṃ, adhikaṃ satamagghati.
I arranged one hundred thousand seats in the shade of parasols. My lowest seat was worth more than a hundred.
Tôi đã cho sắp đặt một trăm ngàn chỗ ngồi dưới bóng của những chiếc lọng. Chỗ ngồi thấp kém nhất của tôi cũng trị giá hơn một trăm (đồng tiền).
61.
61.
61.
‘‘Satāsanasahassāni, chattacchāyāya paññapiṃ;
Paṭiyādetvā annapānaṃ, kālaṃ ārocayiṃ ahaṃ.
Having arranged one hundred thousand seats in the shade of parasols, and having prepared food and drink, I announced the time.
Tôi đã cho sắp đặt một trăm ngàn chỗ ngồi dưới bóng của những chiếc lọng. Sau khi đã chuẩn bị đồ ăn thức uống, tôi đã đi thông báo thời gian.
62.
62.
62.
‘‘Ārocitamhi kālamhi, padumuttaro mahāmuni;
Vasīsatasahassehi, nivesanamupesi me.
When the time was announced, the great sage Padumuttara, together with one hundred thousand Arahants, approached my dwelling.
Khi thời gian đã được thông báo, bậc Đại ẩn sĩ Padumuttara, cùng với một trăm ngàn vị đã tự chủ, đã quang lâm đến trú xứ của tôi.
63.
63.
63.
‘‘Dhārentaṃ uparicchattaṃ †, suphullapupphamaṇḍape;
Vasīsatasahassehi, nisīdi purisuttamo.
While a parasol was being held above, in the pavilion of fully blossomed flowers, the supreme man sat down, together with one hundred thousand Arahants.
Bậc Tối Thượng Nhân, cùng với một trăm ngàn vị đã tự chủ, đã ngự tọa trong gian nhà hoa nở rộ, với chiếc lọng được che ở bên trên.
64.
64.
64.
‘‘‘Chattasatasahassāni, satasahassamāsanaṃ;
Kappiyaṃ anavajjañca, paṭigaṇhāhi cakkhuma’.
‘O One with Vision, please accept these one hundred thousand parasols and one hundred thousand seats, which are allowable and blameless.’
‘Bạch ngài, bậc có Pháp nhãn, xin ngài hãy thọ nhận một trăm ngàn chiếc lọng và một trăm ngàn chỗ ngồi, là những vật thích hợp và không có lỗi lầm.’
65.
65.
65.
‘‘Padumuttaro lokavidū, āhutīnaṃ paṭiggaho;
Mamaṃ tāretukāmo so, sampaṭicchi mahāmuni.
Padumuttara, the Knower of the World, the worthy recipient of offerings, that great sage, wishing to uplift me, accepted.
Bậc Đại ẩn sĩ Padumuttara, bậc Thông suốt Thế gian, bậc xứng đáng thọ nhận vật cúng dường, do mong muốn cứu độ tôi, ngài đã thọ nhận.
(Dānakathā)
(The Discourse on the Gift)
(Lời về việc bố thí)
66.
66.
66.
‘‘Bhikkhuno ekamekassa, paccekaṃ pattamadāsahaṃ;
Jahiṃsu sumbhakaṃ † pattaṃ, lohapattaṃ adhārayuṃ.
To each and every monk, I gave an individual bowl. They discarded their ordinary clay bowls and used the iron bowls.
Tôi đã dâng đến mỗi vị tỳ-khưu một chiếc bát. Các vị ấy đã từ bỏ bát bằng đất và đã thọ nhận bát bằng sắt.
67.
67.
67.
‘‘Sattarattindivaṃ buddho, nisīdi pupphamaṇḍape;
Bodhayanto bahū satte, dhammacakkaṃ pavattayi.
For seven nights and days the Buddha sat in the flower pavilion, awakening many beings and setting the Wheel of Dhamma in motion.
Trong bảy ngày bảy đêm, Đức Phật đã ngự tại gian nhà hoa. Trong khi làm giác ngộ nhiều chúng sanh, ngài đã chuyển Pháp luân.
68.
68.
68.
‘‘Dhammacakkaṃ pavattento, heṭṭhato pupphamaṇḍape;
Cullāsītisahassānaṃ, dhammābhisamayo ahu.
While setting the Wheel of Dhamma in motion beneath the flower pavilion, the understanding of the Dhamma occurred for eighty-four thousand beings.
Trong khi ngài đang chuyển Pháp luân ở bên dưới gian nhà hoa, sự thấu hiểu Giáo pháp đã khởi lên cho tám mươi bốn ngàn (chúng sanh).
69.
69.
69.
‘‘Sattame divase patte, padumuttaro mahāmuni;
Chattacchāyāyamāsīno, imā gāthā abhāsatha.
When the seventh day arrived, the great sage Padumuttara, seated in the shade of a parasol, spoke these verses.
Khi ngày thứ bảy đã đến, bậc Đại ẩn sĩ Padumuttara, trong khi đang ngự tọa dưới bóng lọng, đã nói lên những câu kệ này.
(Byākaraṇaṃ)
(The Declaration)
(Sự Thọ Ký)
70.
70.
70.
‘‘‘Anūnakaṃ dānavaraṃ, yo me pādāsi māṇavo;
Tamahaṃ kittayissāmi, suṇātha mama bhāsato.
‘That young man who gave to me this complete and excellent gift, him I shall praise. Listen to my words as I speak.
Chàng thanh niên nào đã dâng cúng đến ta vật bố thí cao quý không thiếu sót; ta sẽ tán dương người ấy, các ngươi hãy lắng nghe lời của ta đang nói.
71.
71.
71.
‘‘‘Hatthī assā rathā pattī, senā ca caturaṅginī;
Parivāressantimaṃ † niccaṃ, sabbadānassidaṃ phalaṃ.
‘Elephants, horses, chariots, and infantry, a four-limbed army, will always attend upon him. This is the fruit of this complete gift.
Tượng binh, mã binh, xa binh, và bộ binh là bốn quân phần sẽ luôn luôn vây quanh người này. Đây là quả báu của sự bố thí tất cả.
72.
72.
72.
‘‘‘Hatthiyānaṃ assayānaṃ, sivikā sandamānikā;
Upaṭṭhissantimaṃ niccaṃ, sabbadānassidaṃ phalaṃ.
‘Elephant vehicles, horse vehicles, palanquins, and litters will always be at his service. This is the fruit of this complete gift.
Xe voi, xe ngựa, kiệu, và võng cũng sẽ luôn luôn hầu hạ người này. Đây là quả báu của sự bố thí tất cả.
73.
73.
73.
‘‘‘Saṭṭhi rathasahassāni, sabbālaṅkārabhūsitā;
Parivāressantimaṃ niccaṃ, sabbadānassidaṃ phalaṃ.
‘Sixty thousand chariots, adorned with all ornaments, will always attend upon him. This is the fruit of this complete gift.
Sáu mươi ngàn cỗ xe được trang hoàng với tất cả vật trang sức sẽ luôn luôn vây quanh người này. Đây là quả báu của sự bố thí tất cả.
74.
74.
74.
‘‘‘Saṭṭhi tūriyasahassāni, bheriyo samalaṅkatā;
Vajjayissantimaṃ niccaṃ, sabbadānassidaṃ phalaṃ.
‘Sixty thousand musical instruments and well-adorned great drums will always play for him. This is the fruit of this complete gift.
Sáu mươi ngàn nhạc cụ, các trống lớn được trang hoàng kỹ lưỡng, sẽ luôn luôn tấu nhạc cho người này. Đây là quả báu của sự bố thí tất cả.
75.
75.
75.
‘‘‘Chaḷāsītisahassāni, nāriyo samalaṅkatā;
Vicittavatthābharaṇā, āmukkamaṇikuṇḍalā †.
‘Eighty-six thousand women, well adorned, with varied clothes and ornaments, wearing jeweled earrings,
Tám mươi sáu ngàn nữ nhân được trang hoàng kỹ lưỡng, y phục và trang sức lộng lẫy, đeo bông tai bằng ngọc quý.
76.
76.
76.
‘‘‘Aḷārapamhā hasulā, susaññā tanumajjhimā;
Parivāressantimaṃ niccaṃ, sabbadānassidaṃ phalaṃ.
‘with long eyelashes, prone to smiling, well-proportioned, and slender-waisted, will always attend upon him. This is the fruit of this complete gift.
Lông mi cong vút, hay mỉm cười, dáng điệu yêu kiều, eo lưng thon thả, (các nữ nhân ấy) sẽ luôn luôn vây quanh người này. Đây là quả báu của sự bố thí tất cả.
77.
77.
77.
‘‘‘Tiṃsakappasahassāni, devaloke ramissati;
Sahassakkhattuṃ devindo, devarajjaṃ karissati.
‘For thirty thousand eons he will delight in the deva realm. A thousand times he will rule the kingdom of the devas as their lord.
Trong ba mươi ngàn kiếp, vị ấy sẽ hưởng lạc ở cõi trời. Một ngàn lần làm vua trời, vị ấy sẽ trị vì vương quốc của chư thiên.
78.
78.
78.
‘‘‘Sahassakkhattuṃ rājā ca, cakkavattī bhavissati;
Padesarajjaṃ vipulaṃ, gaṇanāto asaṅkhiyaṃ.
‘A thousand times he will be a wheel-turning king. His regional kingships will be vast and innumerable by count.
Và một ngàn lần, vị ấy sẽ là vị vua Chuyển Luân Vương. Còn làm vua các xứ sở rộng lớn thì không thể đếm được.
79.
79.
79.
‘‘‘Devaloke vasantassa, puññakammasamaṅgino;
Devalokapariyantaṃ, ratanachattaṃ dharissati.
‘While he is dwelling in the deva realm, endowed with meritorious kamma, a jeweled parasol will be held for him up to the very limit of the deva realm.
Trong khi đang trú ở cõi trời, là người được hội đủ nghiệp phước, một lọng báu sẽ được che cho vị ấy, bao trùm đến tận cùng cõi trời.
80.
80.
80.
‘‘‘Icchissati yadā chāyaṃ †, chadanaṃ dussapupphajaṃ;
Imassa cittamaññāya, nibaddhaṃ chādayissati.
‘Whenever he shall desire shade, a canopy made of cloth and flowers, having known his thought, will always cover him.
Bất cứ khi nào vị ấy mong muốn bóng mát, một mái che được làm bằng vải và hoa, biết được tâm của vị này, sẽ luôn luôn che phủ.
81.
81.
81.
‘‘‘Devalokā cavitvāna, sukkamūlena codito;
Puññakammena saṃyutto, brahmabandhu bhavissati.
‘Having passed away from the deva realm, impelled by a pure root of merit, and connected with meritorious kamma, he will become a kinsman of Brahmā.’
Sau khi mệnh chung từ cõi trời, được thúc đẩy bởi căn lành trong sạch, hợp cùng với nghiệp phước, vị ấy sẽ là người thân của Phạm Thiên (sanh trong dòng dõi Bà-la-môn).
82.
82.
82.
‘‘‘Kappasatasahassamhi, okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena †, satthā loke bhavissati.
In a hundred thousand aeons, born of the Okkāka lineage, a Teacher named Gotama by clan will arise in the world.
Trong một trăm ngàn kiếp, vị Đạo Sư sanh ra trong dòng dõi Okkāka, tên là Gotama theo họ tộc, sẽ xuất hiện ở thế gian.
83.
83.
83.
‘‘‘Sabbametaṃ abhiññāya, gotamo sakyapuṅgavo;
Bhikkhusaṅghe nisīditvā, etadagge ṭhapessati.
Having directly known all this, Gotama, the bull of the Sakyans, seated in the assembly of monks, will establish him in the foremost place.
Vị Gotama, bậc đứng đầu dòng Sakya, sau khi thắng tri tất cả điều này, trong khi đang ngồi giữa chúng Tăng, sẽ đặt vị này vào địa vị tối thắng.
84.
84.
84.
‘‘‘Pilindavacchanāmena †, hessati satthusāvako;
Devānaṃ asurānañca, gandhabbānañca sakkato.
By the name of Pilindavaccha, he will be the Teacher’s disciple, honored by devas, asuras, and gandhabbas.
Vị ấy sẽ là vị Thinh văn của đức Đạo Sư, với tên là Pilindavaccha, được chư thiên, a-tu-la, và càn-thát-bà tôn kính.
85.
85.
85.
‘‘‘Bhikkhūnaṃ bhikkhunīnañca, gihīnañca tatheva so;
Piyo hutvāna sabbesaṃ, viharissatināsavo’.
Likewise, beloved by monks, nuns, and householders, indeed by all, he will dwell without taints.
Vị ấy cũng tương tự như thế, sau khi trở thành người thân yêu của tất cả các vị tỳ-khưu, tỳ-khưu-ni, và hàng tại gia, sẽ sống không còn lậu hoặc.
(Dānānisaṃsakathā)
(Discourse on the Benefits of Giving)
(Lời Nói về Phước Báu của sự Bố Thí)
86.
86.
86.
‘‘Satasahasse kataṃ kammaṃ, phalaṃ dassesi me idha;
Sumutto saravegova, kilese jhāpayī mama †.
The kamma done a hundred thousand aeons ago has shown its fruit to me here; like a swift, well-released arrow, it burned away my defilements.
Nghiệp đã được tạo trong một trăm ngàn kiếp đã cho tôi thấy quả báu ở đây. Giống như tốc độ của mũi tên được bắn đi khéo léo, đã thiêu đốt các phiền não của tôi.
87.
87.
87.
‘‘Aho me sukataṃ kammaṃ, puññakkhette anuttare;
Yattha kāraṃ karitvāna, pattomhi acalaṃ padaṃ.
Oh, my well-done kamma in the unsurpassed field of merit! Having performed a deed therein, I have attained the unshakeable state.
Ôi, nghiệp lành của tôi đã được làm tốt đẹp ở nơi ruộng phước vô thượng! Do đã thực hiện việc cúng dường ở nơi ấy, tôi đã đạt được trạng thái bất động.
88.
88.
88.
‘‘Anūnakaṃ dānavaraṃ, adāsi yo † hi māṇavo;
Ādipubbaṅgamo āsi, tassa dānassidaṃ phalaṃ.
That young man who gave the unblemished, supreme gift was the first and foremost; this is the fruit of that gift.
Chàng thanh niên nào đã thực hiện việc bố thí cao quý không thiếu sót, vị ấy đã là người đứng đầu tiên khởi. Đây là quả báu của sự bố thí ấy.
(1. Chattānisaṃso)
(1. The Benefits of the Parasol)
(1. Phước Báu của Lọng)
89.
89.
89.
‘‘Chatte ca sugate datvā †, saṅghe gaṇavaruttame;
Aṭṭhānisaṃse anubhomi, kammānucchavike mama.
Having given parasols to the Sugata and to the Saṅgha, the supreme, best of assemblies, I experience eight benefits, befitting my kamma.
Do đã dâng cúng các lọng đến bậc Thiện Thệ và đến Tăng chúng là đoàn thể cao quý và tốt đẹp, tôi thụ hưởng tám phước báu tương xứng với nghiệp của tôi.
90.
90.
90.
‘‘Sītaṃ uṇhaṃ na jānāmi, rajojallaṃ na limpati;
Anupaddavo anīti ca, homi apacito sadā.
I know neither cold nor heat; dust and dirt do not cling to me. Free from danger and affliction, I am always revered.
Tôi không biết đến lạnh và nóng, bụi bặm và vết bẩn không làm ô nhiễm. Tôi không bị nguy hiểm và không bị tai họa, và luôn luôn được tôn kính.
91.
91.
91.
‘‘Sukhumacchaviko homi, visadaṃ hoti mānasaṃ;
Chattasatasahassāni, bhave saṃsarato mama.
I have delicate skin, my mind is clear; for me, while wandering in existence, there are a hundred thousand parasols.
Tôi có làn da mịn màng, tâm ý được trong sáng. Đối với tôi, người đang trôi lăn trong vòng sanh hữu,
92.
92.
92.
‘‘Sabbālaṅkārayuttāni, tassa kammassa vāhasā;
Imaṃ jātiṃ ṭhapetvāna, matthake dhārayanti me.
Adorned with all ornaments, by the power of that kamma, setting aside this birth, they are held above my head.
Một trăm ngàn chiếc lọng được gắn đủ loại vật trang sức, do năng lực của nghiệp ấy, ngoại trừ kiếp sống này, đã được che ở trên đầu của tôi.
93.
93.
93.
‘‘Kasmā † imāya jātiyā, natthi me chattadhāraṇā;
Mama sabbaṃ kataṃ kammaṃ, vimuttichattapattiyā.
Why in this birth is there no holding of a parasol for me? All my kamma was done for the attainment of the parasol of liberation.
Vì sao trong kiếp sống này, tôi không có việc che lọng? Toàn thể nghiệp đã được tôi thực hiện là vì sự chứng đạt lọng giải thoát.
(2. Dussānisaṃso)
(2. The Benefits of Cloth)
(2. Phước Báu của Vải)
94.
94.
94.
‘‘Dussāni sugate datvā, saṅghe gaṇavaruttame;
Aṭṭhānisaṃse anubhomi, kammānucchavike mama.
Having given cloths to the Sugata and to the Saṅgha, the supreme, best of assemblies, I experience eight benefits, befitting my kamma.
Do đã dâng cúng các tấm vải đến bậc Thiện Thệ và đến Tăng chúng là đoàn thể cao quý và tốt đẹp, tôi thụ hưởng tám phước báu tương xứng với nghiệp của tôi.
95.
95.
95.
‘‘Suvaṇṇavaṇṇo virajo, sappabhāso patāpavā;
Siniddhaṃ hoti me gattaṃ, bhave saṃsarato mama.
Of golden complexion, dustless, radiant, and majestic; my body is smooth, for me, while wandering in existence.
Tôi có màu da vàng ròng, không bụi bặm, có ánh sáng rực rỡ, có nhiều oai lực. Thân thể của tôi được mịn màng, đối với tôi người đang trôi lăn trong vòng sanh hữu.
96.
96.
96.
‘‘Dussasatasahassāni, setā pītā ca lohitā;
Dhārenti matthake mayhaṃ, dussadānassidaṃ phalaṃ.
A hundred thousand cloths—white, yellow, and red—are held above my head; this is the fruit of the gift of cloth.
Một trăm ngàn tấm vải, màu trắng, màu vàng, và màu đỏ, được che trên đầu của tôi. Đây là quả báu của việc cúng dường vải.
97.
97.
97.
‘‘Koseyyakambaliyāni, khomakappāsikāni ca;
Sabbattha paṭilabhāmi, tesaṃ nissandato ahaṃ.
Silks and woolens, linens and cottons; I obtain them everywhere as a result of those gifts.
Do quả báu của các sự cúng dường ấy, ở mọi nơi tôi đều nhận được các loại vải lụa, vải len, vải lanh, và vải bông.
(3. Pattānisaṃso)
(3. The Benefits of the Bowl)
(3. Phước báu của việc cúng dường bình bát)
98.
98.
98.
‘‘Patte sugate datvāna, saṅghe gaṇavaruttame;
Dasānisaṃse anubhomi, kammānucchavike mama.
Having given bowls to the Sugata and to the Saṅgha, the supreme, best of assemblies, I experience ten benefits, befitting my kamma.
Do đã cúng dường các bình bát đến bậc Thiện Thệ và đến Tăng đoàn, hội chúng cao quý nhất, tôi được hưởng mười phước báu tương xứng với nghiệp của mình.
99.
99.
99.
‘‘Suvaṇṇathāle maṇithāle, rajatepi ca thālake;
Lohitaṅgamaye thāle, paribhuñjāmi sabbadā.
In golden bowls, jeweled bowls, and in silver bowls too, in bowls made of ruby, I always partake.
Tôi luôn luôn được dùng các đĩa bằng vàng, đĩa bằng ngọc, và cả đĩa bằng bạc, các đĩa làm bằng hồng ngọc.
100.
100.
100.
‘‘Anupaddavo anīti ca, homi apacito sadā;
Lābhī annassa pānassa, vatthassa sayanassa ca.
Free from danger and affliction, I am always revered; a recipient of food, drink, clothing, and lodging.
Tôi không gặp tai ương, không bị hoạn nạn, và luôn được tôn kính. Tôi là người được nhận thức ăn, thức uống, y phục, và chỗ ở.
101.
101.
101.
‘‘Na vinassanti me bhogā, ṭhitacitto bhavāmahaṃ;
Dhammakāmo sadā homi, appakleso anāsavo.
My possessions do not perish; I am of steadfast mind. I am always devoted to the Dhamma, with few defilements and without taints.
Tài sản của tôi không bị tiêu mất, tôi có tâm trí vững vàng. Tôi luôn ưa thích Pháp, ít phiền não, và không còn lậu hoặc.
102.
102.
102.
‘‘Devaloke manusse vā, anubandhā ime guṇā;
Chāyā yathāpi rukkhassa, sabbattha na jahanti maṃ.
In the world of devas or of humans, these qualities follow me; just as the shadow of a tree, they never abandon me anywhere.
Dù ở cõi trời hay cõi người, những phẩm chất này luôn đi theo tôi. Giống như bóng của cây, chúng không bao giờ rời bỏ tôi ở bất cứ đâu.
(4. Vāsiānisaṃso)
(4. The Benefits of the Adze)
(4. Phước báu của việc cúng dường cái rìu)
103.
103.
103.
‘‘Cittabandhanasambaddhā †, sukatā vāsiyo bahū;
Datvāna buddhaseṭṭhassa, saṅghassa ca tathevahaṃ.
Having given many well-made adzes, bound with decorative fastenings, to the best of Buddhas and likewise to the Saṅgha,
Do đã cúng dường nhiều cái rìu được làm khéo léo, có cán được trang trí đẹp mắt, đến bậc Phật tối thắng và cũng như đến Tăng đoàn.
104.
104.
104.
‘‘Aṭṭhānisaṃse anubhomi, kammānucchavike mama;
Sūro homavisārī ca, vesārajjesu pāramī.
I experience eight benefits, befitting my kamma; I am brave and confident, and have reached perfection in the grounds of self-assurance.
Tôi được hưởng tám phước báu tương xứng với nghiệp của mình. Tôi trở nên dũng cảm và tự tin, và đạt đến sự toàn hảo trong các pháp vô sở úy.
105.
105.
105.
‘‘Dhitivīriyavā homi, paggahītamano sadā;
Kilesacchedanaṃ ñāṇaṃ, sukhumaṃ atulaṃ suciṃ;
Sabbattha paṭilabhāmi, tassa nissandato ahaṃ.
I am resolute and energetic, with mind always uplifted; knowledge that is subtle, incomparable, pure, and cuts off defilements—I obtain it everywhere as a result of that gift.
Tôi trở nên kiên định và tinh tấn, tâm trí luôn được nâng cao. Do quả báu của sự cúng dường ấy, ở mọi nơi tôi đều nhận được trí tuệ vi tế, vô song, thanh tịnh, có khả năng đoạn trừ phiền não.
(5. Satthakānisaṃso)
(5. The Benefits of the Small Knife)
(5. Phước báu của việc cúng dường dao nhỏ)
106.
106.
106.
‘‘Akakkase apharuse, sudhote satthake bahū;
Pasannacitto datvāna, buddhe saṅghe tatheva ca.
Having given many small knives—not coarse, not rough, well-sharpened—to the Buddha and likewise to the Saṅgha, with a devoted mind,
Với tâm tín thành, do đã cúng dường nhiều con dao nhỏ không thô cứng, không xù xì, được mài sắc bén, đến đức Phật và cũng như đến Tăng đoàn.
107.
107.
107.
‘‘Pañcānisaṃse anubhomi, kammānucchavike mama;
Kalyāṇamittaṃ † vīriyaṃ, khantiñca mettasatthakaṃ.
I experience five benefits, suitable to my kamma: good friendship, energy, patience, and the weapon of loving-kindness.
Tôi được hưởng năm phước báu tương xứng với nghiệp của mình: có được bạn lành, có được sự tinh tấn, có được sự nhẫn nại, và có được tâm từ làm vũ khí.
108.
108.
108.
‘‘Taṇhāsallassa chinnattā, paññāsatthaṃ anuttaraṃ;
Vajirena samaṃ ñāṇaṃ, tesaṃ nissandato labhe.
As a result of those gifts, I obtain the supreme weapon of wisdom for cutting the dart of craving, and knowledge equal to a diamond.
Do quả báu của các sự cúng dường ấy, tôi nhận được vũ khí trí tuệ vô song để đoạn trừ mũi tên ái dục, và trí tuệ sắc bén như kim cương.
(6. Sūciānisaṃso)
(6. The Benefits of a Needle)
(6. Phước báu của việc cúng dường cây kim)
109.
109.
109.
‘‘Sūciyo sugate datvā, saṅghe gaṇavaruttame;
Pañcānisaṃse anubhomi, kammānucchavike mama.
Having given needles to the Sugata and to the Saṅgha, the supreme, excellent community, I experience five benefits, suitable to my kamma.
Do đã cúng dường các cây kim đến bậc Thiện Thệ và đến Tăng đoàn, hội chúng cao quý nhất, tôi được hưởng năm phước báu tương xứng với nghiệp của mình.
110.
110.
110.
‘‘Na saṃsayo kaṅkhacchedo, abhirūpo ca bhogavā;
Tikkhapañño sadā homi, saṃsaranto bhavābhave.
I am without doubt, a cutter of uncertainty, very handsome and wealthy; I am always sharp in wisdom, wandering through existence after existence.
Khi luân hồi trong các kiếp sống, tôi luôn không có hoài nghi, đoạn trừ được sự nghi ngờ, có dung sắc xinh đẹp, có tài sản, và có trí tuệ sắc bén.
111.
111.
111.
‘‘Gambhīraṃ nipuṇaṃ ṭhānaṃ, atthaṃ ñāṇena passayiṃ;
Vajiraggasamaṃ ñāṇaṃ, hoti me tamaghātanaṃ.
I saw with wisdom the profound, subtle, and established meaning; knowledge like a diamond’s edge, a destroyer of darkness, is mine.
Tôi thấy được ý nghĩa của các trạng thái sâu xa và vi tế bằng trí tuệ. Tôi có được trí tuệ giống như mũi kim cương, có khả năng phá tan bóng tối si mê.
(7. Nakhacchedanānisaṃso)
(7. The Benefits of Nail-Clippers)
(7. Phước báu của việc cúng dường đồ cắt móng tay)
112.
112.
112.
‘‘Nakhacchedane sugate, datvā saṅghe gaṇuttame;
Pañcānisaṃse anubhomi, kammānucchavike mama.
Having given nail-clippers to the Sugata and to the Saṅgha, the supreme community, I experience five benefits, suitable to my kamma.
Do đã cúng dường các đồ cắt móng tay đến bậc Thiện Thệ và đến Tăng đoàn, hội chúng cao quý nhất, tôi được hưởng năm phước báu tương xứng với nghiệp của mình.
113.
113.
113.
‘‘Dāsidāse † gavasse ca, bhatake nāṭake † bahū;
Nhāpite bhattake sūde, sabbattheva labhāmahaṃ.
Female and male slaves, cattle and horses, many hired servants and dancers, barbers, cooks, and chefs—I obtain them everywhere.
Ở mọi nơi, tôi đều nhận được các tôi tớ nam nữ, bò và ngựa, nhiều người làm công, vũ công, thợ cạo, người nấu ăn, và đầu bếp.
(8. Vidhūpanatālavaṇṭānisaṃso)
(8. The Benefits of a Square Fan and a Palm-leaf Fan)
(8. Phước báu của việc cúng dường quạt)
114.
114.
114.
‘‘Vidhūpane sugate datvā, tālavaṇṭe ca sobhaṇe;
Aṭṭhānisaṃse anubhomi, kammānucchavike mama.
‘Having given a square fan to the Sugata and a beautiful palm-leaf fan, I experience eight benefits, suitable to my kamma.
Do đã cúng dường các cây quạt và các quạt lá cọ xinh đẹp đến bậc Thiện Thệ, tôi được hưởng tám phước báu tương xứng với nghiệp của mình.
115.
115.
115.
‘‘Sītaṃ uṇhaṃ na jānāmi, pariḷāho na vijjati;
Darathaṃ nābhijānāmi, cittasantāpanaṃ mama.
‘I do not know cold or heat, burning does not exist for me; I do not know anxiety, the torment of my mind.
Tôi không biết đến lạnh và nóng, sự nóng bức không tồn tại. Tôi không biết đến sự phiền muộn, sự giày vò của tâm trí.
116.
116.
116.
‘‘Rāgaggi dosamohaggi, mānaggi diṭṭhiaggi ca;
Sabbaggī nibbutā mayhaṃ, tassa nissandato mama.
‘The fire of lust, the fires of hatred and delusion, the fire of conceit, and the fire of wrong views—all my fires are extinguished, as a result of that gift.
Do quả báu của sự cúng dường ấy, đối với tôi, tất cả các ngọn lửa: lửa tham, lửa sân, lửa si, lửa mạn, và lửa tà kiến, đều đã được dập tắt.
(9. Morahattha-cāmaraṃ)
(9. The Peacock-Tail Fan and Chowrie)
(9. Quạt lông công và phất trần)
117.
117.
117.
‘‘Morahatthe cāmariyo, datvā saṅghe gaṇuttame;
Upasantakilesohaṃ, viharāmi anaṅgaṇo.
‘Having given peacock-tail fans and chowries to the Saṅgha, the supreme community, I dwell with defilements calmed, free from blemishes.
Do đã cúng dường các quạt lông công và các phất trần đến Tăng đoàn, hội chúng cao quý nhất, tôi sống với các phiền não đã được lắng dịu, không còn cấu uế.
(10. Parissāvana-dhammakaraṃ)
(10. The Water Filter and Dhammakaraka)
(10. Dụng cụ lọc nước và bình pháp)
118.
118.
118.
‘‘Parissāvane sugate, datvā dhammakaruttame †;
Pañcānisaṃse anubhomi, kammānucchavike mama.
‘Having given a water filter to the Sugata and a supreme Dhammakaraka, I experience five benefits, suitable to my kamma.
Do con đã dâng cúng túi lọc nước và bình nước tốt đẹp đến bậc Thiện Thệ, con đang thọ hưởng năm quả báu tương xứng với nghiệp của con.
119.
119.
119.
‘‘Sabbesaṃ samatikkamma, dibbaṃ āyuṃ labhāmahaṃ;
Appasayho sadā homi, corapaccatthikehi vā.
‘Surpassing all, I obtain a divine lifespan; I am always unassailable, by thieves or by enemies.
Con vượt trội hơn tất cả (chư Thiên), con đạt được tuổi thọ cõi trời. Con luôn là người không thể bị áp đảo bởi kẻ trộm hoặc kẻ thù.
120.
120.
120.
‘‘Satthena vā visena vā, vihesampi na kubbate;
Antarāmaraṇaṃ natthi, tesaṃ nissandato mama.
‘Harm is not done to me by weapon or by poison; for me, there is no untimely death, as a result of those gifts.
Dù bằng vũ khí hay bằng độc dược, sự hãm hại cũng không thể được thực hiện (đối với con). Do quả báu của các vật dâng cúng ấy, con không có cái chết giữa chừng.
(11. Teladhārānisaṃso)
(11. The Benefits of an Oil Container)
(11. Phước báu của việc dâng cúng ống đựng dầu)
121.
121.
121.
‘‘Teladhāre sugate datvā, saṅghe gaṇavaruttame;
Pañcānisaṃse anubhomi, kammānucchavike mama.
‘Having given oil containers to the Sugata and to the Saṅgha, the supreme, excellent community, I experience five benefits, suitable to my kamma.
Do con đã dâng cúng các ống đựng dầu đến bậc Thiện Thệ và đến Tăng chúng, hội chúng cao quý nhất, con đang thọ hưởng năm quả báu tương xứng với nghiệp của con.
122.
122.
122.
‘‘Sucārurūpo subhaddo †, susamuggatamānaso;
Avikkhittamano homi, sabbārakkhehi rakkhito.
‘I am of very beautiful form, most auspicious, with a highly uplifted mind; I am of undistracted mind, protected by all protections.
Con có dung sắc rất xinh đẹp, là người hiền thiện, có tâm ý rất phấn chấn; con có tâm không bị phân tán, được bảo vệ bởi tất cả sự bảo hộ.
(12. Sūcigharānisaṃso)
(12. The Benefits of a Needle Case)
(12. Phước báu của việc dâng cúng hộp đựng kim)
123.
123.
123.
‘‘Sūcighare sugate datvā, saṅghe gaṇavaruttame;
Tīṇānisaṃse anubhomi, kammānucchavike mama.
‘Having given a needle case to the Sugata and to the Saṅgha, the supreme, excellent community, I experience three benefits, suitable to my kamma.
Do con đã dâng cúng các hộp đựng kim đến bậc Thiện Thệ và đến Tăng chúng, hội chúng cao quý nhất, con đang thọ hưởng ba quả báu tương xứng với nghiệp của con.
124.
124.
124.
‘‘Cetosukhaṃ kāyasukhaṃ, iriyāpathajaṃ sukhaṃ;
Ime guṇe paṭilabhe, tassa nissandato ahaṃ.
‘Mental happiness, bodily happiness, and happiness born of the four postures—these qualities I obtained, as a result of that gift.
Con đã đạt được tâm lạc, thân lạc, và sự an lạc phát sinh từ oai nghi. Do quả báu của việc dâng cúng ấy, con đã đạt được những phẩm chất này.
(13. Aṃsabaddhānisaṃso)
(13. The Benefits of a Shoulder Strap)
(13. Phước báu của việc dâng cúng dây đeo vai)
125.
125.
125.
‘‘Aṃsabaddhe jine datvā, saṅghe gaṇavaruttame;
Tīṇānisaṃse anubhomi, kammānucchavike mama.
‘Having given shoulder straps to the Conqueror and to the Saṅgha, the supreme, excellent community, I experience three benefits, suitable to my kamma.
Do con đã dâng cúng các dây đeo vai đến bậc Chiến Thắng và đến Tăng chúng, hội chúng cao quý nhất, con đang thọ hưởng ba quả báu tương xứng với nghiệp của con.
126.
126.
126.
‘‘Saddhamme gādhaṃ † vindāmi, sarāmi dutiyaṃ bhavaṃ;
Sabbattha succhavī homi, tassa nissandato ahaṃ.
‘I find a firm footing in the good Dhamma, I remember a second existence; everywhere I am of beautiful skin, as a result of that gift.
Con tìm thấy nền tảng vững chắc trong Chánh pháp, con nhớ lại được tiền kiếp. Do quả báu của việc dâng cúng ấy, con có được làn da đẹp ở mọi nơi.
(14. Kāyabandhanānisaṃso)
(14. The Benefits of a Waistband)
(14. Phước báu của việc dâng cúng dây thắt lưng)
127.
127.
127.
‘‘Kāyabandhe jine datvā, saṅghe gaṇavaruttame;
Chānisaṃse anubhomi, kammānucchavike mama.
‘Having given waistbands to the Conqueror and to the Saṅgha, the supreme among groups, I experience six benefits, fitting to my deed.
Do con đã dâng cúng các dây thắt lưng đến bậc Chiến Thắng và đến Tăng chúng, hội chúng cao quý nhất, con đang thọ hưởng sáu quả báu tương xứng với nghiệp của con.
128.
128.
128.
‘‘Samādhīsu na kampāmi, vasī homi samādhisu;
Abhejjapariso homi, ādeyyavacano sadā.
‘I do not waver in concentrations; I am a master of concentrations; I am one whose assembly cannot be broken; my words are always worthy of acceptance.
Con không bị dao động trong các định, con thuần thục trong các định. Con có hội chúng không thể bị chia rẽ, lời nói của con luôn đáng tin cậy.
129.
129.
129.
‘‘Upaṭṭhitasati homi, tāso mayhaṃ na vijjati;
Devaloke manusse vā, anubandhā ime guṇā.
‘I am one with established mindfulness; no fear exists for me; whether in the world of devas or among humans, these qualities follow.
Con có chánh niệm được thiết lập, đối với con không có sự kinh hãi. Dù ở cõi trời hay cõi người, những phẩm chất này luôn đi theo (con).
(15. Ādhārakānisaṃso)
(15. The Benefits of a Bowl-Stand)
(15. Phước báu của việc dâng cúng đế lót bát)
130.
130.
130.
‘‘Ādhārake jine datvā, saṅghe gaṇavaruttame;
Pañcavaṇṇehi dāyādo †, acalo homi kenaci.
‘Having given bowl-stands to the Conqueror and to the Saṅgha, the supreme among groups, I become an heir in five respects, unshaken by anything.
Do con đã dâng cúng các đế lót bát đến bậc Chiến Thắng và đến Tăng chúng, hội chúng cao quý nhất, con là người thừa tự của năm phẩm chất, con không bị lay chuyển bởi bất cứ điều gì.
131.
131.
131.
‘‘Ye keci me sutā dhammā, satiñāṇappabodhanā;
Dhatā † me na vinassanti, bhavanti suvinicchitā.
‘Whatever teachings I have heard that awaken mindfulness and knowledge are retained by me and do not perish; they become well-ascertained.
Bất cứ pháp nào con đã được nghe, là những pháp làm thức tỉnh chánh niệm và trí tuệ, (những pháp ấy) được con ghi nhớ và không bị hủy hoại; chúng trở nên được phân định rõ ràng.
(16. Bhājanānisaṃso)
(16. The Benefits of a Vessel)
(16. Phước báu của việc dâng cúng các vật chứa)
132.
132.
132.
‘‘Bhājane paribhoge ca, datvā buddhe gaṇuttame;
Tīṇānisaṃse anubhomi, kammānucchavike mama.
‘Having given vessels and requisites to the Buddha and to the supreme Saṅgha, I experience three benefits, fitting to my deed.
Do con đã dâng cúng các vật chứa và vật dụng đến đức Phật và hội chúng cao tột, con đang thọ hưởng ba quả báu tương xứng với nghiệp của con.
133.
133.
133.
‘‘Soṇṇamaye maṇimaye, athopi phalikāmaye;
Lohitaṅgamaye ceva, labhāmi bhājane ahaṃ.
‘I obtain vessels made of gold, of jewels, and also of crystal, and those made of ruby.
Con nhận được các vật chứa làm bằng vàng, bằng ngọc, và cả bằng pha lê, và làm bằng đá ruby.
134.
134.
134.
‘‘Bhariyā dāsadāsī † ca, hatthissarathapattike;
Itthī patibbatā ceva, paribhogāni sabbadā.
‘I always obtain wives, male and female slaves, elephants, horses, chariots, and foot-soldiers, women devoted to their husbands, and things for use.
Con luôn luôn có được vợ, các tôi tớ nam nữ, voi, ngựa, xe, bộ binh, và cả những người nữ trung thành với chồng, cùng các vật dụng.
135.
135.
135.
‘‘Vijjā mantapade ceva, vividhe āgame bahū;
Sabbaṃ sippaṃ nisāmemi, paribhogāni sabbadā.
‘I master various collections of knowledge and incantations, and many scriptures. I master all crafts and always obtain things for use.
Con học hỏi được các loại minh chú và câu thần chú, nhiều kinh điển đa dạng; con thông thạo tất cả các ngành nghề. Con luôn có được các vật dụng.
(17. Thālakānisaṃso)
(17. The Benefits of a Plate)
(17. Phước báu của việc dâng cúng các cái đĩa)
136.
136.
136.
‘‘Thālake sugate datvā, saṅghe gaṇavaruttame;
Tīṇānisaṃse anubhomi, kammānucchavike mama.
‘Having given plates to the Sugata and to the Saṅgha, the supreme among groups, I experience three benefits, fitting to my deed.
Do con đã dâng cúng các cái đĩa đến bậc Thiện Thệ và đến Tăng chúng, hội chúng cao quý nhất, con đang thọ hưởng ba quả báu tương xứng với nghiệp của con.
137.
137.
137.
‘‘Soṇṇamaye maṇimaye, athopi phalikāmaye;
Lohitaṅgamaye ceva, labhāmi thālake ahaṃ.
‘I obtain plates made of gold, of jewels, and also of crystal, and those made of ruby.
Con nhận được các cái đĩa làm bằng vàng, bằng ngọc, và cả bằng pha lê, và làm bằng đá ruby.
138.
138.
138.
‘‘Asatthake † phalamaye, atho pokkharapattake;
Madhupānakasaṅkhe ca, labhāmi thālake ahaṃ.
‘I obtain plates like Bodhi-tree leaves, plates made of fruit, and also plates like lotus leaves, and conch shells for drinking honey.
Con nhận được các cái đĩa (hình) lá bồ đề, (đĩa) làm bằng trái cây, và cả (đĩa hình) lá sen, và vỏ ốc để uống mật ong.
139.
139.
139.
‘‘Vatte guṇe paṭipatti, ācārakiriyāsu ca;
Ime guṇe paṭilabhe, tassa nissandato ahaṃ.
‘Practice in duties, virtues, and in conduct and actions—these qualities I obtain as a result of that.
Con đã đạt được sự thực hành trong các phận sự, các phẩm hạnh, và trong các hành vi và cử chỉ. Do quả báu của việc dâng cúng ấy, con đã đạt được những phẩm chất này.
(18. Bhesajjānisaṃso)
(18. The Benefits of Medicine)
(18. Phước báu của việc dâng cúng thuốc men)
140.
140.
140.
‘‘Bhesajjaṃ sugate datvā, saṅghe gaṇavaruttame;
Dasānisaṃse anubhomi, kammānucchavike mama.
‘Having given medicine to the Sugata and to the Saṅgha, the supreme among groups, I experience ten benefits, fitting to my deed.
“Con đã dâng cúng thuốc men đến bậc Thiện Thệ, đến Tăng chúng là hội chúng cao quý bậc nhất; con hưởng thụ mười quả báu, tương xứng với nghiệp của con.
141.
141.
141.
‘‘Āyuvā balavā dhīro, vaṇṇavā yasavā sukhī;
Anupaddavo anīti ca, homi apacito sadā;
Na me piyaviyogatthi, tassa nissandato mama.
‘I am long-lived, strong, wise, beautiful, famous, and happy, free from danger and affliction, and always revered. As a result of that, there is no separation from loved ones for me.
“Con được sống lâu, có sức mạnh, là bậc trí, có dung sắc, có danh tiếng, được an lạc; không có tai ương và không có khổ não, luôn luôn được kính trọng. Do kết quả của việc ấy, con không có sự chia ly với người thân yêu.
(19. Upāhanānisaṃso)
(19. The Benefits of Footwear)
(19. Quả báu của việc cúng dường giày dép)
142.
142.
142.
‘‘Upāhane jine datvā, saṅghe gaṇavaruttame;
Tīṇānisaṃse anubhomi, kammānucchavike mama.
Having given footwear to the Conqueror and to the Saṅgha, the supreme among groups, I experience three benefits, fitting to my deed.
“Con đã dâng cúng giày dép đến bậc Chiến Thắng, đến Tăng chúng là hội chúng cao quý bậc nhất; con hưởng thụ ba quả báu, tương xứng với nghiệp của con.
143.
143.
143.
‘‘Hatthiyānaṃ assayānaṃ, sivikā sandamānikā;
Saṭṭhisatasahassāni, parivārenti maṃ sadā.
Six million elephant-vehicles, six million horse-vehicles, six million palanquins, and six million litters always surround me.
“Sáu mươi ngàn xe voi, sáu mươi ngàn xe ngựa, sáu mươi ngàn kiệu, và sáu mươi ngàn võng luôn luôn vây quanh con.
144.
144.
144.
‘‘Maṇimayā tambamayā †, soṇṇarajatapādukā;
Nibbattanti paduddhāre, bhave saṃsarato mama.
Jeweled, copper, golden, and silver sandals are produced at every footstep for me as I wander in saṃsāra.
“Những đôi giày bằng ngọc, bằng đồng, bằng vàng và bạc phát sinh mỗi khi con nhấc chân lên, trong các kiếp sống khi con đang luân hồi.
145.
145.
145.
‘‘Niyāmaṃ sati dhāvanti †, āguācārasodhanaṃ †;
Ime guṇe paṭilabhe, tassa nissandato ahaṃ.
Mindfulness, which purifies bad conduct, runs towards the fixed course of the path. I obtain these qualities as a result of that.
“Niệm của con hướng đến con đường thanh lọc các hành vi xấu. Con đạt được những quả báu này là do kết quả của việc cúng dường ấy.
(20. Pādukānisaṃso)
(20. The Benefit of Sandals)
(20. Quả báu của việc cúng dường dép guốc)
146.
146.
146.
‘‘Pāduke sugate datvā, saṅghe gaṇavaruttame;
Iddhipādukamāruyha, viharāmi yadicchakaṃ.
Having given sandals to the Sugata and to the Saṅgha, the supreme among groups, I ascend the sandal of the bases of psychic power and dwell as I wish.
“Con đã dâng cúng dép guốc đến bậc Thiện Thệ, đến Tăng chúng là hội chúng cao quý bậc nhất; con mang vào đôi dép thần thông, an trú bất cứ nơi nào con mong muốn.
(21. Udakapuñchanānisaṃso)
(21. The Benefit of a Water-Wiping Cloth)
(21. Quả báu của việc cúng dường khăn lau mình)
147.
147.
147.
‘‘Udakapucchanacoḷe, datvā buddhe gaṇuttame;
Pañcānisaṃse anubhomi, kammānucchavike mama.
Having given water-wiping cloths to the Buddha and to the supreme Saṅgha, I experience five benefits, fitting to my deed.
“Con đã dâng cúng khăn lau mình đến đức Phật và Tăng chúng cao quý; con hưởng thụ năm quả báu, tương xứng với nghiệp của con.
148.
148.
148.
‘‘Suvaṇṇavaṇṇo virajo, sappabhāso patāpavā;
Siniddhaṃ hoti me gattaṃ, rajojallaṃ na limpati;
I am golden in color, dust-free, radiant, and majestic; my body is smooth; dust and dirt do not cling to it.
“Con có màu da như vàng, không bụi bẩn, có hào quang, có uy lực; thân của con trở nên mịn màng, bụi bặm và vết bẩn không bám vào;
Ime guṇe paṭilabhe, tassa nissandato ahaṃ.
I obtain these qualities as a result of that.
Con đạt được những quả báu này là do kết quả của việc cúng dường ấy.
(22. Kattaradaṇḍānisaṃso)
(22. The Benefits of a Staff)
(22. Quả báu của việc cúng dường gậy chống)
149.
149.
149.
‘‘Kattaradaṇḍe sugate, datvā saṅghe gaṇuttame;
Chānisaṃse anubhomi, kammānucchavike mama.
Having given staffs to the Sugata and to the Saṅgha, the most excellent community, I experience six benefits befitting my kamma.
“Con đã dâng cúng gậy chống đến bậc Thiện Thệ, đến Tăng chúng cao quý; con hưởng thụ sáu quả báu, tương xứng với nghiệp của con.
150.
150.
150.
‘‘Puttā mayhaṃ bahū honti, tāso mayhaṃ na vijjati;
Appasayho sadā homi, sabbārakkhehi rakkhito;
Khalitampi † na jānāmi, abhantaṃ mānasaṃ mama.
I have many sons; no fear exists for me; I am always unassailable, guarded by all protections; I do not know even a stumble; my mind is unshaken.
“Con có nhiều con trai, con không có sự sợ hãi; con luôn luôn không thể bị áp bức, được bảo vệ bởi tất cả sự bảo vệ; con không biết đến cả sự vấp ngã, tâm của con không dao động.
(23. Osadhañjanānisaṃso)
(23. The Benefits of Medicinal Eye-Ointment)
(23. Quả báu của việc cúng dường thuốc nhỏ mắt)
151.
151.
151.
‘‘Osadhaṃ añjanaṃ datvā, buddhe saṅghe gaṇuttame;
Aṭṭhānisaṃse anubhomi, kammānucchavike mama.
Having given medicinal eye-ointment to the Buddha and to the Saṅgha, the most excellent community, I experience eight benefits befitting my kamma.
“Con đã dâng cúng thuốc nhỏ mắt đến đức Phật và Tăng chúng cao quý; con hưởng thụ tám quả báu, tương xứng với nghiệp của con.
152.
152.
152.
‘‘Visālanayano homi, setapīto ca lohito;
Anāvilapasannakkho, sabbarogavivajjito.
I have wide eyes, with their whites, yellows, and reds; with untroubled, clear eyes, I am free from all disease.
“Con có đôi mắt to rộng, (mắt) có màu trắng, vàng, và đỏ (ở những nơi thích hợp); có đôi mắt trong sáng không vẩn đục, thoát khỏi mọi bệnh tật.
153.
153.
153.
‘‘Labhāmi dibbanayanaṃ, paññācakkhuṃ anuttaraṃ;
Ime guṇe paṭilabhe, tassa nissandato ahaṃ.
I obtain the divine eye and the unsurpassed eye of wisdom; I have obtained these qualities as a result of that.
“Con đạt được thiên nhãn, và tuệ nhãn vô thượng. Con đạt được những quả báu này là do kết quả của việc cúng dường ấy.
(24. Kuñcikānisaṃso)
(24. The Benefits of a Key)
(24. Quả báu của việc cúng dường chìa khóa)
154.
154.
154.
‘‘Kuñcike sugate datvā, saṅghe gaṇavaruttame;
Dhammadvāravivaraṇaṃ, labhāmi ñāṇakuñcikaṃ.
Having given keys to the Sugata and to the Saṅgha, the most excellent community, I obtain the key of knowledge for the opening of the door of the Dhamma.
“Con đã dâng cúng chìa khóa đến bậc Thiện Thệ, đến Tăng chúng là hội chúng cao quý bậc nhất; con đạt được chìa khóa trí tuệ để mở cánh cửa Chánh Pháp.
(25. Kuñcikāgharānisaṃso)
(25. The Benefit of a Lock)
(25. Quả báu của việc cúng dường ổ khóa)
155.
155.
155.
‘‘Kuñcikānaṃ ghare datvā, buddhe saṅghe gaṇuttame;
Dvānisaṃse anubhomi, kammānucchavike mama;
Appakodho anāyāso, saṃsaranto bhave ahaṃ.
Having given locks to the Buddha and to the Saṅgha, the most excellent community, I experience two benefits befitting my kamma; wandering in existence, I have little anger and am without fatigue.
“Con đã dâng cúng ổ khóa đến đức Phật và Tăng chúng cao quý; con hưởng thụ hai quả báu tương xứng với nghiệp của con; khi đang luân hồi trong các kiếp sống, con là người ít sân giận, không mệt mỏi.
(26. Āyogānisaṃso)
(26. The Benefits of a Belt)
(26. Quả báu của việc cúng dường dây thắt lưng)
156.
156.
156.
‘‘Āyoge sugate datvā, saṅghe gaṇavaruttame;
Pañcānisaṃse anubhomi, kammānucchavike mama.
Having given belts to the Sugata and to the Saṅgha, the most excellent community, I experience five benefits befitting my kamma.
“Con đã dâng cúng dây thắt lưng đến bậc Thiện Thệ, đến Tăng chúng là hội chúng cao quý bậc nhất; con hưởng thụ năm quả báu, tương xứng với nghiệp của con.
157.
157.
157.
‘‘Samādhīsu na kampāmi, vasī homi samādhisu;
Abhejjapariso homi, ādeyyavacano sadā;
Jāyati bhogasampatti, bhave saṃsarato mama.
I do not waver in concentrations; I am a master of concentrations; I have an unbreakable assembly; my words are always trustworthy; accomplishment in wealth arises for me as I wander through existence.
“Con không dao động trong các định, con thuần thục trong các định; con có hội chúng không thể bị chia rẽ, lời nói của con luôn đáng tin cậy; sự sung túc về tài sản phát sinh cho con, khi đang luân hồi trong các kiếp sống.
(27. Dhūmanettānisaṃso)
(27. The Benefits of a Fumigator)
(27. Quả báu của việc cúng dường ống xông thuốc)
158.
158.
158.
‘‘Dhūmanette jine datvā, saṅghe gaṇavaruttame;
Tīṇānisaṃse anubhomi, kammānucchavike mama.
Having given fumigators to the Victorious One and to the Saṅgha, the most excellent community, I experience three benefits befitting my kamma.
“Con đã dâng cúng ống xông thuốc đến bậc Chiến Thắng, đến Tăng chúng là hội chúng cao quý bậc nhất; con hưởng thụ ba quả báu, tương xứng với nghiệp của con.
159.
159.
159.
‘‘Sati me ujukā hoti, susambandhā ca nhāravo;
Labhāmi dibbanayanaṃ †, tassa nissandato ahaṃ.
My mindfulness is upright, and my sinews are well-connected; I obtain the divine eye as a result of that.
“Niệm của con trở nên ngay thẳng, và các dây gân được kết nối tốt đẹp; con đạt được thiên nhãn, là do kết quả của việc cúng dường ấy.
(28. Dīpadhārānisaṃso)
(28. The Benefit of a Lamp Stand)
(28. Phước báu của việc cúng dường cột đèn)
160.
160.
160.
‘‘Dīpadhāre † jine datvā, saṅghe gaṇavaruttame;
Tīṇānisaṃse anubhomi, kammānucchavike mama.
Having given lamp stands to the Victorious One and to the Saṅgha, the most excellent community, I experience three benefits befitting my kamma.
Do đã cúng dường các cột đèn đến đấng Chiến Thắng và đến Tăng chúng là đoàn thể cao quý và tối thượng, tôi được hưởng ba phước báu tương xứng với nghiệp của tôi.
161.
161.
161.
‘‘Jātimā aṅgasampanno, paññavā buddhasammato †;
Ime guṇe paṭilabhe, tassa nissandato ahaṃ.
Of noble birth, endowed with all limbs, wise, and esteemed by the wise—these qualities I have obtained as a result of that.
Tôi là người có dòng dõi cao quý, thân thể toàn vẹn, có trí tuệ, được bậc trí giả công nhận. Do quả báo của việc cúng dường ấy, tôi đã đạt được những phẩm chất này.
(29. Tumbaka-karaṇḍo)
(29. The Gourd and the Casket)
(29. Quả bầu và hộp đựng)
162.
162.
162.
‘‘Tumbake ca karaṇḍe ca, datvā buddhe gaṇuttame;
Dasānisaṃse anubhomi, kammānucchavike mama.
Having given gourds and caskets to the Buddha and the most excellent community, I experience ten benefits befitting my kamma.
Do đã cúng dường các quả bầu và các hộp đựng đến đức Phật và đoàn thể cao quý, tôi được hưởng mười phước báu tương xứng với nghiệp của tôi.
163.
163.
163.
‘‘Sugutto † sukhasamaṅgī, mahāyaso tathāgati;
Vipattivigato † sukhumālo, sabbītiparivajjito.
Well-protected, endowed with happiness, of great fame; furthermore, I am free from misfortune, delicate, and avoid all troubles.
Tôi được bảo vệ tốt đẹp, được trang bị đầy đủ sự an lạc, có danh tiếng lớn, có được thiện thú. Tôi thoát khỏi sự bất hạnh, có thân thể mịn màng, và tránh xa mọi tai ương.
164.
164.
164.
‘‘Vipule ca guṇe lābhī, samāva calanā mama;
Suvivajjitaubbego, tumbake ca karaṇḍake.
I am a gainer of vast virtues, my gait is even, and I am completely free from agitation, as a result of the gourd and casket.
Tôi là người đạt được các phẩm chất rộng lớn, bàn chân của tôi bằng phẳng. Tôi hoàn toàn tránh xa sự kinh hãi, (đây là quả của việc cúng dường) quả bầu và hộp đựng.
165.
165.
165.
‘‘Labhāmi caturo vaṇṇe, hatthissaratanāni ca;
Tāni me na vinassanti, tumbadāne idaṃ phalaṃ.
I obtain the four kinds of valuables, and treasures of elephants and horses; they do not perish for me. This is the fruit of the gift of a gourd.
Tôi nhận được (các vật dụng) có bốn màu sắc, và các báu vật voi và ngựa. Những vật ấy của tôi không bị hư hoại. Đây là quả báu của việc cúng dường quả bầu.
(30. Malaharaṇānisaṃso)
(30. The Benefits of a Towel)
(30. Phước báu của việc cúng dường vật lau chùi)
166.
166.
166.
‘‘Malaharaṇiyo † datvā, buddhe saṅghe gaṇuttame;
Pañcānisaṃse anubhomi, kammānucchavike mama.
Having given towels to the Buddha and to the Saṅgha, the most excellent community, I experience five benefits befitting my kamma.
Do đã cúng dường các vật lau chùi đến đức Phật và Tăng chúng là đoàn thể cao quý, tôi được hưởng năm phước báu tương xứng với nghiệp của tôi.
167.
167.
167.
‘‘Sabbalakkhaṇasampanno, āyupaññāsamāhito;
Sabbāyāsavinimutto, kāyo me hoti sabbadā.
Endowed with all the marks, possessed of longevity and wisdom, my body is always freed from all weariness.
Tôi được trang bị đầy đủ tất cả các tướng tốt, được hội đủ tuổi thọ và trí tuệ. Thân của tôi luôn luôn thoát khỏi mọi sự mệt nhọc.
(31. Pipphalānisaṃso)
(31. The Benefits of a Razor)
(31. Phước báu của việc cúng dường dao cạo)
168.
168.
168.
‘‘Taṇudhāre sunisite, saṅghe datvāna pipphale;
Kilesakantanaṃ ñāṇaṃ, labhāmi atulaṃ suciṃ.
Having given thin-bladed, well-sharpened razors to the Saṅgha, I obtain incomparable, pure wisdom that cuts through the defilements.
Do đã cúng dường đến Tăng chúng những con dao cạo có lưỡi mỏng và được mài sắc bén, tôi đạt được trí tuệ vô song và thanh tịnh, có khả năng cắt đứt các phiền não.
(32. Bhaṇḍāsānisaṃso)
(32. The Benefits of Tongs)
(32. Phước báu của việc cúng dường cái nhíp)
169.
169.
169.
‘‘Saṇḍāse sugate datvā, saṅghe gaṇavaruttame;
Kilesabhañjanaṃ † ñāṇaṃ, labhāmi atulaṃ suciṃ.
Having given tongs to the Sugata, and to the Sangha, the excellent supreme community, I obtain incomparable, pure wisdom that destroys the defilements.
Do đã cúng dường cái nhíp đến bậc Thiện Thệ và đến Tăng chúng là đoàn thể cao quý và tối thượng, tôi đạt được trí tuệ vô song và thanh tịnh, có khả năng bẻ gãy các phiền não.
(33. Natthukānisaṃso)
(33. The Benefits of Nose-Tweezers)
(33. Phước báu của việc cúng dường dụng cụ làm sạch mũi)
170.
170.
170.
‘‘Natthuke † sugate datvā, saṅghe gaṇavaruttame;
Aṭṭhānisaṃse anubhomi, kammānucchavike mama.
Having given nose-tweezers to the Sugata, and to the Sangha, the excellent supreme community, I experience eight benefits befitting my kamma.
Do đã cúng dường dụng cụ làm sạch mũi đến bậc Thiện Thệ và đến Tăng chúng là đoàn thể cao quý và tối thượng, tôi được hưởng tám phước báu tương xứng với nghiệp của tôi.
171.
171.
171.
‘‘Saddhaṃ sīlaṃ hiriñcāpi, atha ottappiyaṃ guṇaṃ;
Sutaṃ cāgañca khantiñca, paññaṃ me aṭṭhamaṃ guṇaṃ.
Faith, virtue, and moral shame; then the quality of moral dread; learning, generosity, and patience; and wisdom is my eighth quality.
Tín, giới, và cả tàm, rồi đến quý là phẩm chất; văn, thí, và nhẫn, và trí tuệ là phẩm chất thứ tám của tôi.
(34. Pīṭhakānisaṃso)
(34. The Benefits of a Seat)
(34. Phước báu của việc cúng dường ghế ngồi)
172.
172.
172.
‘‘Pīṭhake sugate datvā, saṅghe gaṇavaruttame;
Pañcānisaṃse anubhomi, kammānucchavike mama.
Having given seats to the Sugata, and to the Sangha, the excellent supreme community, I experience five benefits befitting my kamma.
Do đã cúng dường các ghế ngồi đến bậc Thiện Thệ và đến Tăng chúng là đoàn thể cao quý và tối thượng, tôi được hưởng năm phước báu tương xứng với nghiệp của tôi.
173.
173.
173.
‘‘Ucce kule pajāyāmi, mahābhogo bhavāmahaṃ;
Sabbe maṃ apacāyanti, kitti abbhuggatā mama.
I am born into a high family; I become one of great wealth. All pay homage to me; my fame has risen high.
Tôi được sanh trong gia đình cao quý, tôi trở thành người có nhiều tài sản. Tất cả mọi người đều tôn kính tôi, danh tiếng của tôi được vang xa.
174.
174.
174.
‘‘Kappasatasahassāni, pallaṅkā caturassakā;
Parivārenti maṃ niccaṃ, saṃvibhāgarato ahaṃ.
For one hundred thousand aeons, four-cornered couches constantly surround me. I am one who delights in sharing.
Trong một trăm ngàn kiếp, bốn ngàn chiếc ngai vàng luôn luôn vây quanh tôi. Tôi là người ưa thích trong việc phân chia (bố thí).
(35. Bhisiānisaṃso)
(35. The Benefits of a Cushion)
(35. Phước báu của việc cúng dường nệm ngồi)
175.
175.
175.
‘‘Bhisiyo sugate datvā, saṅghe gaṇavaruttame;
Chānisaṃse anubhomi, kammānucchavike mama.
Having given cushions to the Sugata, and to the Sangha, the excellent supreme community, I experience six benefits befitting my kamma.
Do đã cúng dường các nệm ngồi đến bậc Thiện Thệ và đến Tăng chúng là đoàn thể cao quý và tối thượng, tôi được hưởng sáu phước báu tương xứng với nghiệp của tôi.
176.
176.
176.
‘‘Samasugattopacito, muduko cārudassano;
Labhāmi ñāṇaparivāraṃ, bhisidānassidaṃ phalaṃ.
I have a well-proportioned body, am honored, gentle, and pleasant to behold. I obtain wisdom with a retinue. This is the fruit of giving a cushion.
Tôi có thân thể cân đối và tốt đẹp, được tôn kính, mềm mại, và có ngoại hình đáng yêu. Tôi đạt được trí tuệ và đoàn tùy tùng. Đây là quả báu của việc cúng dường nệm ngồi.
177.
177.
177.
‘‘Tūlikā vikatikāyo, kaṭṭissā † cittakā bahū;
Varapotthake kambale ca, labhāmi vividhe ahaṃ.
I obtain many various things: cotton mattresses, figured coverlets, many colorful carpets, excellent cloths, and woolen blankets.
Tôi nhận được nhiều nệm gòn, các loại thảm có hình thù, các tấm thảm Kaṭṭissa được trang trí đa dạng, các loại vải quý và các loại chăn len khác nhau.
178.
178.
178.
‘‘Pāvārike ca muduke, mudukājinaveṇiyo;
Labhāmi vividhatthāre †, bhisidānassidaṃ phalaṃ.
Soft cloaks and soft mats of antelope hide; I obtain various coverings. This is the fruit of giving a cushion.
Tôi nhận được các áo choàng mềm mại, các tấm da nai đen mềm mại, và các loại thảm trải đa dạng. Đây là quả báu của việc cúng dường nệm ngồi.
179.
179.
179.
‘‘Yato sarāmi attānaṃ, yato pattosmi viññutaṃ;
Atuccho jhānamañcomhi, bhisidānassidaṃ phalaṃ.
From when I remember myself, from when I reached discernment, I have not been without the couch of jhāna. This is the fruit of giving a cushion.
Kể từ khi tôi nhớ lại được tự thân, kể từ khi tôi đạt đến sự hiểu biết, tôi không phải là người trống rỗng, tôi có được chiếc giường thiền. Đây là quả báu của việc cúng dường nệm ngồi.
(36. Bibbohanānisaṃso)
(36. The Benefits of a Pillow)
(36. Phước báu của việc cúng dường gối nằm)
180.
180.
180.
‘‘Bibbohane jine datvā, saṅghe gaṇavaruttame;
Chānisaṃse anubhomi, kammānucchavike mama.
Having given pillows to the Jina, and to the Sangha, the excellent supreme community, I experience six benefits befitting my kamma.
Do đã cúng dường các gối nằm đến đấng Chiến Thắng và đến Tăng chúng là đoàn thể cao quý và tối thượng, tôi được hưởng sáu phước báu tương xứng với nghiệp của tôi.
181.
181.
181.
‘‘Uṇṇike padumake ca, atho lohitacandane;
Bibbohane upādhemi, uttamaṅgaṃ sadā mama.
I always rest my head upon pillows stuffed with wool, with lotus filaments, and also with red sandalwood.
Đầu của tôi luôn luôn được gối lên những chiếc gối nhồi bằng len, bằng nhị sen, và cả bằng gỗ đàn hương đỏ.
182.
182.
182.
‘‘Aṭṭhaṅgike maggavare, sāmaññe caturo phale;
Tesu ñāṇaṃ uppādetvā †, vihare niccakālikaṃ.
Having generated wisdom in the excellent eightfold path and in the four fruits of recluseship, I dwell there perpetually.
Trong Bát Chánh Đạo cao thượng, trong bốn quả Sa-môn, sau khi đã làm phát sanh trí tuệ ở trong các pháp ấy, tôi thường xuyên an trú.
183.
183.
183.
‘‘Dāne dame saṃyame ca, appamaññāsu rūpisu;
Tesu ñāṇaṃ uppādetvā †, vihare sabbakālikaṃ.
Having generated wisdom in giving, taming, and restraint, in the immeasurables and the form meditations, I dwell there at all times.
Trong bố thí, trong điều phục, trong chế ngự, trong các Vô lượng tâm, trong các Sắc thiền, sau khi đã làm phát sanh trí tuệ ở trong các pháp ấy, tôi an trú trong mọi lúc.
184.
184.
184.
‘‘Vatte guṇe paṭipatti, ācārakiriyāsu ca;
Tesu ñāṇaṃ uppādetvā †, vihare sabbadā ahaṃ.
Having generated wisdom in observances, virtues, practice, and in conduct and actions, I always dwell in them.
Trong phận sự, trong đức hạnh, trong sự thực hành, và trong các hành vi cử chỉ, sau khi đã làm phát sanh trí tuệ ở trong các pháp ấy, tôi luôn luôn an trú.
185.
185.
185.
‘‘Caṅkame vā padhāne vā, vīriye bodhipakkhiye;
Tesu ñāṇaṃ uppādetvā, viharāmi yadicchakaṃ.
In walking meditation or in striving, in energy or in the factors of enlightenment—having generated wisdom in these, I dwell as I wish.
Trong kinh hành, trong tinh tấn, trong nỗ lực, trong các pháp trợ Bồ-đề, sau khi đã làm phát sanh trí tuệ ở trong các pháp ấy, tôi an trú theo như ý muốn.
186.
186.
186.
‘‘Sīlaṃ samādhi paññā ca, vimutti ca anuttarā;
Tesu ñāṇaṃ uppādetvā †, viharāmi sukhaṃ ahaṃ.
Having generated wisdom in virtue, concentration, wisdom, and unsurpassed liberation, I dwell happily.
Giới, định, và tuệ, và giải thoát vô thượng, sau khi đã làm phát sanh trí tuệ ở trong các pháp ấy, tôi an trú một cách an lạc.
(37. Phalapīṭhānisaṃso)
(37. The Benefits of a Plank-Seat)
(37. Phước báu của việc cúng dường ghế tấm)
187.
187.
187.
‘‘Phalapīṭhe † jine datvā, saṅghe gaṇavaruttame;
Dvānisaṃse anubhomi, kammānucchavike mama.
Having given plank-seats to the Jina, and to the Sangha, the excellent supreme community, I experience two benefits befitting my kamma.
Sau khi đã cúng dường ghế tấm đến bậc Toàn Giác và đến Tăng chúng, hội chúng cao thượng nhất, tôi thụ hưởng hai phước báu tương xứng với nghiệp của mình.
188.
188.
188.
‘‘Soṇṇamaye maṇimaye, dantasāramaye bahū;
Pallaṅkaseṭṭhe vindāmi, phalapīṭhassidaṃ phalaṃ.
I obtain many excellent couches made of gold, of gems, and of ivory and sandalwood heartwood. This is the fruit of giving a plank-seat.
Tôi nhận được nhiều bảo tọa cao quý làm bằng vàng, làm bằng ngọc, làm bằng ngà voi và gỗ lõi. Đây là quả của việc cúng dường ghế tấm.
(38. Pādapīṭhānisaṃso)
(38. The Benefits of a Footstool)
(38. Phước báu của việc cúng dường ghế để chân)
189.
189.
189.
‘‘Pādapīṭhe jine datvā, saṅghe gaṇavaruttame;
Dvānisaṃse anubhomi, kammānucchavike mama;
Labhāmi bahuke yāne, pādapīṭhassidaṃ phalaṃ.
Having given a footstool to the Jina, and to the Sangha, the excellent supreme community, I experience two benefits befitting my kamma. I obtain many vehicles; this is the fruit of giving a footstool.
Sau khi đã cúng dường ghế để chân đến bậc Toàn Giác và đến Tăng chúng, hội chúng cao thượng nhất, tôi thụ hưởng hai phước báu tương xứng với nghiệp của mình. Tôi nhận được nhiều xe cộ. Đây là quả của việc cúng dường ghế để chân.
190.
190.
190.
‘‘Dāsī dāsā ca bhariyā, ye caññe anujīvino;
Sammā paricarante maṃ, pādapīṭhassidaṃ phalaṃ.
Female slaves, male slaves, and wives, and other dependents attend to me properly—this is the fruit of giving a footstool.
Các nữ tỳ, nam tỳ, và các người vợ, và những người tùy thuộc khác, họ phục vụ tôi một cách chu đáo. Đây là quả của việc cúng dường ghế để chân.
(39. Telabbhañjanānisaṃso)
(39. The Benefits of Anointing Oil)
(39. Phước báu của việc cúng dường dầu xoa bóp)
191.
191.
191.
‘‘Telaabbhañjane † datvā, saṅghe gaṇavaruttame;
Pañcānisaṃse anubhomi, kammānucchavike mama.
Having offered anointing oil to the Sangha, the supreme, excellent community, I experience five benefits befitting my kamma.
Sau khi đã cúng dường dầu xoa bóp đến Tăng chúng, hội chúng cao thượng nhất, tôi thụ hưởng năm phước báu tương xứng với nghiệp của mình.
192.
192.
192.
‘‘Abyādhitā rūpavatā, khippaṃ dhammanisantitā;
Lābhitā annapānassa, āyupañcamakaṃ mama.
The state of being free from illness, possessing beauty, being quick to investigate the Dhamma, obtaining food and drink—and my long life is the fifth benefit.
Không bệnh tật, có sắc đẹp, nhanh chóng thẩm sát Chánh pháp, được đồ ăn thức uống, và thứ năm là tuổi thọ của tôi.
(40. Sappitelānisaṃso)
(40. The Benefits of Ghee and Oil)
(40. Phước báu của việc cúng dường bơ lỏng và dầu)
193.
193.
193.
‘‘Sappitelañca datvāna, saṅghe gaṇavaruttame;
Pañcānisaṃse anubhomi, kammānucchavike mama.
Having offered ghee and oil to the Sangha, the supreme, excellent community, I enjoy five benefits befitting my kamma.
Sau khi đã cúng dường bơ lỏng và dầu đến Tăng chúng, hội chúng cao thượng nhất, tôi thụ hưởng năm phước báu tương xứng với nghiệp của mình.
194.
194.
194.
‘‘Thāmavā rūpasampanno, pahaṭṭhatanujo sadā;
Abyādhi visado homi, sappitelassidaṃ phalaṃ.
I am strong and endowed with beauty, always with joyful body-hair; I am free from illness and pure. This is the fruit of offering ghee and oil.
Tôi có sức mạnh, có dung sắc vẹn toàn, luôn có làn da tươi tắn, không bệnh tật, và trong sạch. Đây là quả của việc cúng dường bơ lỏng và dầu.
(41. Mukhasodhanakānisaṃso)
(41. The Benefits of a Mouth Cleanser)
(41. Phước báu của việc cúng dường vật làm sạch miệng)
195.
195.
195.
‘‘Mukhasodhanakaṃ datvā, buddhe saṅghe gaṇuttame;
Pañcānisaṃse anubhomi, kammānucchavike mama.
Having offered a mouth cleanser to the Buddha and the supreme Sangha, I experience five benefits befitting my kamma.
Sau khi đã cúng dường vật làm sạch miệng đến đức Phật và đến Tăng chúng, hội chúng cao thượng nhất, tôi thụ hưởng năm phước báu tương xứng với nghiệp của mình.
196.
196.
196.
‘‘Visuddhakaṇṭho madhurassaro, kāsasāsavivajjito;
Uppalagandho mukhato, upavāyati me sadā.
With a pure throat and a sweet voice, I am free from coughs and asthma; the fragrance of a blue lotus always wafts from my mouth.
Tôi có cổ họng trong trẻo, giọng nói ngọt ngào, không bị ho và hen suyễn. Mùi hương hoa sen xanh luôn tỏa ra từ miệng của tôi.
(42. Dadhiānisaṃso)
(42. The Benefits of Curd)
(42. Phước báu của việc cúng dường sữa đông)
197.
197.
197.
‘‘Dadhiṃ datvāna sampannaṃ, buddhe saṅghe gaṇuttame;
Bhuñjāmi amataṃ bhattaṃ †, varaṃ kāyagatāsatiṃ.
Having offered perfect curd to the Buddha and the supreme Sangha, I enjoy the deathless food and the excellent mindfulness directed to the body.
Sau khi đã cúng dường sữa đông hảo hạng đến đức Phật và đến Tăng chúng, hội chúng cao thượng nhất, tôi thụ hưởng món ăn bất tử và niệm thân cao quý.
(43. Madhuānisaṃso)
(43. The Benefit of Honey)
(43. Phước báu của việc cúng dường mật ong)
198.
198.
198.
‘‘Vaṇṇagandharasopetaṃ, madhuṃ datvā jine gaṇe;
Anūpamaṃ atuliyaṃ, pive muttirasaṃ ahaṃ.
Having offered honey endowed with color, fragrance, and taste to the Conqueror and the community, I drank the incomparable, matchless nectar of liberation.
Sau khi đã cúng dường mật ong có đủ màu sắc, hương thơm, và vị ngon đến bậc Toàn Giác và hội chúng, tôi được uống vị giải thoát không gì sánh bằng, không thể so bì.
(44.Rasānisaṃso)
(44. The Benefit of Flavors)
(44. Phước báu của việc cúng dường các vị)
199.
199.
199.
‘‘Yathābhūtaṃ rasaṃ datvā, buddhe saṅghe gaṇuttame;
Caturo phale anubhomi, kammānucchavike mama.
Having offered a genuine flavor to the Buddha and the supreme Sangha, the excellent community, I experience the four fruits befitting my kamma.
Sau khi đã cúng dường các vị đúng như thực chất đến đức Phật và đến Tăng chúng, hội chúng cao thượng nhất, tôi thụ hưởng bốn Thánh quả tương xứng với nghiệp của mình.
(45. Annapānānisaṃso)
(45. The Benefits of Food and Drink)
(45. Phước báu của việc cúng dường đồ ăn thức uống)
200.
200.
200.
‘‘Annaṃ pānañca datvāna, buddhe saṅghe gaṇuttame;
Dasānisaṃse anubhomi, kammānucchavike mama.
Having offered food and drink to the Buddha and the supreme Sangha, the excellent community, I enjoy ten benefits befitting my kamma.
Sau khi đã cúng dường đồ ăn và thức uống đến đức Phật và đến Tăng chúng, hội chúng cao thượng nhất, tôi thụ hưởng mười phước báu tương xứng với nghiệp của mình.
201.
201.
201.
‘‘Āyuvā balavā dhīro, vaṇṇavā yasavā sukhī;
Lābhī annassa pānassa, sūro paññāṇavā sadā;
Ime guṇe paṭilabhe, saṃsaranto bhave ahaṃ.
Long-lived, strong, steadfast, beautiful, glorious, and happy; a gainer of food and drink, heroic, and always wise—these qualities I obtained while wandering through existences.
Sống lâu, có sức mạnh, vững vàng, có sắc đẹp, có danh tiếng, được an lạc, được đồ ăn và thức uống, dũng cảm, và luôn có trí tuệ. Khi còn lang thang trong các kiếp sống, tôi đã nhận được những phẩm chất này.
(46. Dhūpānisaṃso)
(46. The Benefit of Incense)
(46. Phước báu của (việc cúng dường) hương)
202.
202.
202.
‘‘Dhūpaṃ † datvāna sugate, saṅghe gaṇavaruttame;
Dasānisaṃse anubhomi, kammānucchavike mama.
Having offered incense to the Sugata and to the Sangha, the supreme, excellent community, I experience ten benefits befitting my kamma.
“Do đã dâng cúng hương đến bậc Thiện Thệ và đến Tăng chúng là đoàn thể cao quý tối thượng, tôi đã hưởng được mười phước báu tương xứng với nghiệp của tôi.
203.
203.
203.
‘‘Sugandhadeho yasavā, sīghapañño ca kittimā;
Tikkhapañño bhūripañño, hāsagambhīrapaññavā.
I have a fragrant body, am glorious, swift in wisdom, and famed; sharp in wisdom, abundant in wisdom, and possessing joyful and profound wisdom.
“(Tôi có) thân tỏa hương thơm, có được danh vọng, có trí tuệ nhanh lẹ, và có tiếng tăm; (tôi) có trí tuệ sắc bén, có trí tuệ rộng lớn, có trí tuệ vui vẻ và sâu sắc.
204.
204.
204.
‘‘Vepullajavanapañño, saṃsaranto bhavābhave;
Tasseva vāhasā dāni, patto santisukhaṃ sivaṃ.
With extensive and swift wisdom, while wandering through various existences, now by the very power of that offering, I have attained the peaceful, blissful happiness.
“(Tôi) có trí tuệ rộng rãi và nhanh chóng. Trong khi đang trôi lăn trong các kiếp sống, chính nhờ vào năng lực của việc ấy, giờ đây tôi đã đạt đến sự an lạc tịch tịnh, là trạng thái an lành.”
(Sādhāraṇānisaṃso)
(47. Common Benefits)
(Phước báu chung)
205.
205.
205.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ, bhavā sabbe samūhatā;
Nāgova bandhanaṃ chetvā, viharāmi anāsavo.
My defilements are burnt up, all states of existence are uprooted; like an elephant breaking its bonds, I dwell without taints.
“Các phiền não đã được tôi đốt sạch, tất cả các hữu đã được nhổ lên. Giống như con voi chúa bứt đứt các dây trói, tôi sống không còn các lậu hoặc.”
206.
206.
206.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi, mama buddhassa santike †;
Tisso vijjā anuppattā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Indeed, my coming to the presence of the Buddha was a good one. The three knowledges have been attained; the Buddha’s teaching has been fulfilled.
“Sự đến của tôi quả là khéo đến, (sự đến) của tôi ở nơi sự hiện diện của đức Phật. Ba Minh đã được chứng đạt, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
207.
207.
207.
‘‘Paṭisambhidā catasso, vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, and these eight liberations, the six direct knowledges have been realized; the Buddha’s teaching has been fulfilled.
“Bốn Tuệ Phân Tích, tám giải thoát này, và sáu thắng trí đã được chứng ngộ, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā pilindavaccho thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed, the venerable elder Pilindavaccha spoke these verses.
Quả thật, trưởng lão Pilindavaccha đã nói lên những câu kệ này như thế ấy.
Pilindavacchattherassāpadānaṃ paṭhamaṃ.
The First Apadāna of the Elder Pilindavaccha.
(Ký sự về) trưởng lão Pilindavaccha là phần thứ nhất.