Bản dịch
THA -ap391 — Ký Sự về Trưởng Lão Soṇakoṭivīsa
9 Soṇakoṭivīsattheraapadāna
BJT 3326Vào thời kỳ Giáo Pháp của (đức Phật) Vipassī, một hang động đã được tôi xây dựng dành cho Hội Chúng bốn phương ở tại kinh thành Bandhumā.
BJT 3327Sau khi trải lót nền đất của hang động bằng các tấm vải, tôi đã cống hiến. Với tâm phấn chấn, với ý vui mừng, khi ấy tôi đã thực hiện lời ước nguyện rằng:
BJT 3328“Mong rằng tôi có thể làm hài lòng bậc Toàn Giác, có thể đạt được sự xuất gia, và có thể đạt đến sự an tịnh tối thượng, Niết Bàn vô thượng.”
BJT 3329Do nhờ chính nhân tố trong sạch ấy, tôi đã luân hồi chín mươi kiếp. Dầu trở thành vị Thiên nhân hay là loài người, tôi đã chói sáng, là người có phước báu đã được tạo lập (trước đây).
BJT 3330Sau đó, nhờ vào phần dư sót của nghiệp, tại đây trong kiếp sống cuối cùng, tôi đã được sanh làm người con trai độc nhất của nhà bá hộ cao cả ở tại Campā.
BJT 3331Ngay khi tôi vừa được sanh ra, nghe tin người cha đã khởi ước muốn này: “Ta ban cho công tử hai chục koṭi (hai trăm triệu) tiền, không thiếu đồng nào.”
BJT 3332Các sợi lông của tôi, dài bốn ngón tay, được mọc lên ở cả hai lòng bàn chân. Chúng là mảnh mai, có sự xúc chạm mềm mại, xinh xắn như là bông vải.
BJT 3333Chín mươi kiếp đã trôi qua, kiếp này là thêm một kiếp nữa, tôi không biết đến việc các bàn chân được đặt xuống ở mặt đất không có trải lót.
BJT 3334Tôi đã làm hài lòng bậc Toàn Giác, tôi đã xuất gia vào đời sống không gia đình. Và phẩm vị A-la-hán đã được tôi đạt đến. Tôi có được trạng thái mát mẻ, chứng được Niết Bàn.
BJT 3335Đấng Toàn Tri đã xác định tôi là người đứng đầu trong số các vị đã ra sức tinh tấn, và có lậu hoặc đã được đoạn tận, là bậc A-la-hán, có sáu thắng trí, có đại thần lực.
BJT 3336Kể từ khi tôi đã dâng cúng vật thí trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng hang động.
BJT 3337Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật vào thời hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 3338Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 3339Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
BJT 3340Tại hồ nước lớn Anotatta, ở trước Hội Chúng tỳ khưu, bậc trưởng lão Soṇa Koṭivisa khi được hỏi câu hỏi đã trả lời.
Đại đức trưởng lão Soṇa Koṭivisa đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
9. Soṇakoṭivīsattheraapadānaṃ
9. The Apadāna of the Elder Soṇakoṭivīsa
9. Thiên truyện về trưởng lão Soṇakoṭivīsa
49.
49.
49.
‘‘Vipassino pāvacane, ekaṃ leṇaṃ mayā kataṃ;
Cātuddisassa saṅghassa, bandhumārājadhāniyā.
In the dispensation of Vipassī, I made a single cave in the royal capital of King Bandhumā for the Sangha of the four directions.
“Trong giáo pháp của đức Phật Vipassī, một hang động đã được tôi thực hiện ở kinh thành Bandhumatī cho Tăng chúng bốn phương.
50.
50.
50.
‘‘Dussehi bhūmiṃ leṇassa, santharitvā pariccajiṃ;
Udaggacitto sumano, akāsiṃ paṇidhiṃ tadā.
Having spread the ground of the cave with cloths, I gave it away. With an uplifted and gladdened mind, I then made an aspiration.
“Sau khi đã trải vải trên nền đất của hang động, tôi đã từ bỏ (để cúng dường). Với tâm ý phấn khởi, với ý vui mừng, khi ấy tôi đã thực hiện lời nguyện.
51.
51.
51.
‘‘Ārādhayeyyaṃ sambuddhaṃ, pabbajjañca labheyyahaṃ;
Anuttarañca nibbānaṃ, phuseyyaṃ santimuttamaṃ.
May I gratify the Fully Enlightened One, and may I obtain the going forth; and may I realize the unsurpassed Nibbāna, the supreme peace.
“Mong rằng tôi làm hài lòng được đức Chánh Đẳng Giác, và mong rằng tôi được xuất gia. Và mong rằng tôi chứng đạt được trạng thái Tịch Tịnh, Vô Thượng, Tối Thắng là Niết Bàn.
52.
52.
52.
‘‘Teneva sukkamūlena, kappe † navuti saṃsariṃ;
Devabhūto manusso ca, katapuñño virocahaṃ.
By that very root of pure kamma, for ninety aeons I wandered in saṃsāra. Having become a deva and a human, I, having made merit, shone.
“Chính nhờ vào cội rễ trong sạch ấy, tôi đã luân chuyển trong chín mươi kiếp. Dù là hàng Thiên nhân hay là loài người, tôi là người đã tạo phước nên đã được rực rỡ.
53.
53.
53.
‘‘Tato kammāvasesena, idha pacchimake bhave;
Campāyaṃ aggaseṭṭhissa, jātomhi ekaputtako.
Then, by the remainder of that kamma, in this final existence, I was born as the only son of the chief merchant in Campā.
“Sau đó, do nghiệp còn dư sót, ở đây trong kiếp sống cuối cùng này, tôi đã sanh làm người con trai duy nhất của vị trưởng giả đứng đầu ở tại xứ Campā.
54.
54.
54.
‘‘Jātamattassa me sutvā, pitu chando ayaṃ ahu;
Dadāmahaṃ kumārassa, vīsakoṭī anūnakā.
Upon hearing of my very birth, this wish arose in my father: ‘I shall give the boy no less than twenty crores.’
“Ngay khi vừa được sanh ra, sau khi nghe (tin), người cha của tôi đã có ý muốn này: ‘Ta sẽ trao cho đứa bé trai hai mươi koṭi không thiếu.’
55.
55.
55.
‘‘Caturaṅgulā ca me lomā, jātā pādatale ubho;
Sukhumā mudusamphassā, tūlāpicusamā subhā.
And hairs four finger-breadths long grew on both soles of my feet; they were fine, soft to the touch, beautiful, like a tuft of cotton.
“Và những sợi lông của tôi dài bốn ngón tay đã mọc lên ở cả hai lòng bàn chân; (chúng) mịn màng, có sự xúc chạm mềm mại, giống như cụm bông gòn, và xinh đẹp.
56.
56.
56.
‘‘Atītā navuti kappā, ayaṃ eko ca uttari;
Nābhijānāmi nikkhitte, pāde bhūmyā asanthate.
Ninety aeons have passed, and this one in addition; I do not recall ever placing my feet on ground that was not spread with a covering.
“Chín mươi kiếp đã trôi qua, và thêm kiếp này nữa là hơn; tôi không hề biết đến việc đặt bàn chân xuống trên mặt đất không được trải lót.
57.
57.
57.
‘‘Ārādhito me sambuddho, pabbajiṃ anagāriyaṃ;
Arahattañca me pattaṃ, sītibhūtomhi nibbuto.
The Fully Enlightened One has been gratified by me; I have gone forth into homelessness. Arahantship has been attained by me; I have become cooled, extinguished.
“Đức Chánh Đẳng Giác đã được tôi làm cho hài lòng, tôi đã xuất gia vào đời sống không nhà. Quả vị A-la-hán cũng đã được tôi chứng đạt, tôi đã trở nên mát lạnh, đã được tịch tịnh.
58.
58.
58.
‘‘Aggo āraddhavīriyānaṃ, niddiṭṭho sabbadassinā;
Khīṇāsavomhi arahā, chaḷabhiñño mahiddhiko.
I was pointed out by the All-Seeing One as foremost among those with aroused energy. I am an arahant with taints destroyed, possessing the six higher knowledges and great psychic power.
“Tôi đã được vị Toàn Giác chỉ định là người đứng đầu trong số những vị có tinh tấn được khởi xướng. Tôi là vị A-la-hán đã đoạn tận các lậu hoặc, là người có sáu thắng trí, có đại thần lực.
59.
59.
59.
‘‘Ekanavutito kappe, yaṃ dānamadadiṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, leṇadānassidaṃ phalaṃ.
In the ninety-first aeon from this one, when I gave that gift, I do not recall any bad destination. This is the fruit of the gift of a cave.
“Kể từ kiếp thứ chín mươi mốt về trước, khi ấy tôi đã thực hiện việc bố thí; tôi không hề biết đến khổ cảnh. Đây là quả báu của việc cúng dường hang động.
60.
60.
60.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
My defilements are burnt away… I dwell without taints.
“Các phiền não đã được tôi đốt sạch... (v.v.)... tôi sống không còn lậu hoặc.
61.
61.
61.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Indeed, my coming was a good coming… the Buddha’s teaching has been done.
“Quả thật, sự đến của tôi là khéo đến... (v.v.)... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
62.
62.
62.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges… the Buddha’s teaching has been done.
“Bốn Tuệ Phân Tích... (v.v.)... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
63.
63.
63.
‘‘Thero koṭivīso † soṇo, bhikkhusaṅghassa aggato;
Pañhaṃ puṭṭho viyākāsi, anotatte mahāsare’’ti.
The Elder Soṇa Koṭivīsa, before the Sangha of monks, being asked a question, explained it at the great lake Anotatta.
“Trưởng lão Soṇa Koṭivīsa, ở trước Tăng chúng gồm các vị tỳ khưu, sau khi được hỏi câu hỏi đã giải đáp ở tại hồ lớn Anotatta.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā soṇo koṭivīso thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the venerable Elder Soṇa Koṭivīsa spoke these verses.
Như vậy, nghe rằng, trưởng lão Soṇa Koṭivīsa đã nói lên những câu kệ này.
Soṇakoṭivīsattherassāpadānaṃ navamaṃ.
The Ninth Apadāna of the Elder Soṇakoṭivīsa is finished.
Thiên truyện về trưởng lão Soṇakoṭivīsa là thiên thứ chín.