Bản dịch
THA -ap390 — Ký Sự về Trưởng Lão Panasaphaladāyaka
Panasaphaladāyakattheraapadāna
BJT 3320Lúc bấy giờ, đấng Giác Ngộ tên Ajjuna, đã cư ngụ ở núi Hi-mã-lạp. Ngài là bậc Hiền Trí, được thành tựu tánh hạnh, và thiện xảo về định.
BJT 3321Tôi đã cầm lấy trái mít jīvajīvaka có kích thước bằng hũ nước. Tôi đã đặt vào cái chậu bằng lá và đã dâng cúng đến bậc Đạo Sư.
BJT 3322Kể từ khi tôi đã dâng cúng trái cây trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
BJT 3323Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật vào thời hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 3324Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 3325Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Panasaphaladāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
8. Panasaphaladāyakattheraapadānaṃ
8. The Apadāna of the Elder Panasaphaladāyaka
8. Thánh nhân ký sự của trưởng lão Panasaphaladāyaka
43.
43.
43.
‘‘Ajjuno nāma sambuddho, himavante vasī tadā;
Caraṇena ca sampanno, samādhikusalo muni.
A Paccekabuddha named Ajjuna dwelt in the Himālaya at that time; a sage, accomplished in conduct and skilled in concentration.
“Vào lúc ấy, có vị Chánh Đẳng Giác tên là Ajjuna đã sống ở Hy-mã-lạp. Vị ẩn sĩ ấy đã được thành tựu về phẩm hạnh và thiện xảo về thiền định.”
44.
44.
44.
‘‘Kumbhamattaṃ gahetvāna, panasaṃ jīvajīvakaṃ †;
Chattapaṇṇe ṭhapetvāna, adāsiṃ satthuno ahaṃ.
Having taken a pot-sized, life-giving jackfruit and having placed it on a banana leaf, I gave it to the Paccekabuddha.
“Sau khi lấy quả mít có kích cỡ bằng cái bình, là thứ duy trì sự sống, và sau khi đặt lên trên lá cây chatta, tôi đã dâng cúng đến bậc Đạo Sư.”
45.
45.
45.
‘‘Ekattiṃse ito kappe, yaṃ phalamadadiṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, phaladānassidaṃ phalaṃ.
In the thirty-first aeon from this one, when I gave that fruit, I do not recall any woeful state; this is the fruit of the gift of fruit.
“Cách đây ba mươi mốt kiếp, vào lúc ấy tôi đã dâng cúng quả ấy. Tôi không còn biết đến khổ cảnh. Đây là kết quả của việc dâng cúng trái cây.”
46.
46.
46.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
My defilements are burnt away… I dwell without taints.
“Các phiền não đã được tôi thiêu đốt ... (như trên) ... tôi sống không còn lậu hoặc.”
47.
47.
47.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Welcome indeed was my coming… the Buddha’s teaching has been fulfilled.
“Sự hiện diện của tôi quả là khéo đến ... (như trên) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
48.
48.
48.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges… the Buddha’s teaching has been fulfilled.
“Bốn Tuệ Phân Tích ... (như trên) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā panasaphaladāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Panasaphaladāyaka spoke these verses.
Như vậy, nghe rằng, trưởng lão Panasaphaladāyaka đã nói lên những câu kệ này.
Panasaphaladāyakattherassāpadānaṃ aṭṭhamaṃ.
The Eighth Apadāna of the Elder Panasaphaladāyaka is concluded.
Thiên truyện về trưởng lão Panasaphaladāyaka là thiên thứ tám.