Bản dịch
THA -ap389 — Ký Sự về Trưởng Lão Kadaliphaladāyaka
Kadaliphaladāyakattheraapadāna
BJT 3314Tôi đã nhìn thấy đấng Lãnh Đạo Thế Gian tợ như cây kaṇikāra được cháy sáng, tợ như mặt trăng vào ngày rằm, tợ như cây đèn đang chiếu sáng.
BJT 3315Tôi đã cầm lấy trái chuối và đã dâng cúng đến bậc Đạo Sư. Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã đảnh lễ và ra đi.
BJT 3316Kể từ khi tôi đã dâng cúng trái cây trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
BJT 3317Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật vào thời hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 3318Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 3319Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Kadaliphaladāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
7. Kadaliphaladāyakattheraapadānaṃ
7. The Apadāna of the Elder Who Gave a Banana Fruit
7. Thánh nhân ký sự của trưởng lão Kadaliphaladāyaka
37.
37.
37.
‘‘Kaṇikāraṃva jalitaṃ, puṇṇamāyeva † candimaṃ;
Jalantaṃ dīparukkhaṃva, addasaṃ lokanāyakaṃ.
Like a blazing Kaṇikāra tree, like the full moon, like a shining lamp-tree, I saw the Leader of the World.
“Tôi đã nhìn thấy bậc Lãnh Đạo thế gian, giống như đóa hoa kaṇikāra rực rỡ, giống như vầng trăng vào đêm rằm, giống như cây đèn đang cháy sáng.”
38.
38.
38.
‘‘Kadaliphalaṃ paggayha, adāsiṃ satthuno ahaṃ;
Pasannacitto sumano, vanditvāna apakkamiṃ.
Having taken up a banana fruit, I gave it to the Teacher; with a serene and joyful mind, having paid homage, I departed.
“Sau khi cầm lấy quả chuối, tôi đã dâng cúng đến bậc Đạo Sư. Với tâm ý trong sạch và hoan hỷ, sau khi đảnh lễ, tôi đã ra đi.”
39.
39.
39.
‘‘Ekattiṃse ito kappe, yaṃ phalamadadiṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, phaladānassidaṃ phalaṃ.
Thirty-one aeons from this one, when I gave that fruit, I do not know of a woeful state; this is the fruit of the gift of fruit.
“Cách đây ba mươi mốt kiếp, vào lúc ấy tôi đã dâng cúng quả ấy. Tôi không còn biết đến khổ cảnh. Đây là kết quả của việc dâng cúng trái cây.”
40.
40.
40.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
My defilements are burnt away… I dwell without taints.
“Các phiền não đã được tôi thiêu đốt ... (như trên) ... tôi sống không còn lậu hoặc.”
41.
41.
41.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Welcome indeed was my coming… the Buddha’s teaching has been fulfilled.
“Sự hiện diện của tôi quả là khéo đến ... (như trên) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
42.
42.
42.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges… the Buddha’s teaching has been fulfilled.
“Bốn Tuệ Phân Tích ... (như trên) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā kadaliphaladāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Kadaliphaladāyaka spoke these verses.
Như vậy, quả thật trưởng lão Kadaliphaladāyaka đã nói những câu kệ này.
Kadaliphaladāyakattherassāpadānaṃ sattamaṃ.
The Seventh Apadāna of the Elder Kadaliphaladāyaka is concluded.
Thánh nhân ký sự của trưởng lão Kadaliphaladāyaka, thiên thứ bảy.