Bản dịch
THA -ap38 — Ký Sự về Trưởng Lão Adhimutta
6 Adhimuttattheraapadāna
BJT 1086Khi đấng Bảo Hộ Thế Gian, bậc Tối Thượng Nhân Atthadassī đã Niết Bàn, tôi đã hộ độ Hội Chúng tỳ khưu với tâm ý trong sạch.
BJT 1087Sau khi thỉnh mời Hội Chúng quý báu có bản thể chính trực, đã được định tĩnh, tôi đã thực hiện mái che bằng cây mía và đã phục vụ bữa ăn đến Hội Chúng tối thượng.
BJT 1088Nơi chốn nào tôi đi tái sanh dầu là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, tôi đều vượt trội tất cả chúng sanh; điều này là quả báu của nghiệp phước thiện.
BJT 1089Kể từ khi tôi đã dâng cúng vật thí trước đây một ngàn tám trăm kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng cây mía.
BJT 1090Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Adhimutta đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Adhimutta là phần thứ sáu.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
6. Adhimuttattheraapadānaṃ
6. The Apadāna of the Elder Adhimutta
6. Thánh tích của Trưởng lão Adhimutta
84.
84.
84.
‘‘Nibbute lokanāthamhi, atthadassīnaruttame;
Upaṭṭhahiṃ bhikkhusaṅghaṃ, vippasannena cetasā.
When the Protector of the world, Atthadassī, the supreme man, had attained Parinibbāna, I attended upon the community of monks with a serene mind.
Khi bậc Lãnh Đạo Thế Gian, đức Atthadassī, bậc Tối Thượng giữa loài người đã tịch diệt, tôi đã phục vụ chư Tăng với tâm ý vô cùng trong sạch.
85.
85.
85.
‘‘Nimantetvā bhikkhusaṅghaṃ †, ujubhūtaṃ samāhitaṃ;
Ucchunā maṇḍapaṃ katvā, bhojesiṃ saṅghamuttamaṃ.
Having invited the community of monks, who were upright and well-composed, and having made a pavilion with sugarcane, I fed the supreme Saṅgha.
Sau khi thỉnh mời chư Tăng, các vị ngay thẳng, có định tĩnh, sau khi làm ngôi lều bằng cây mía, tôi đã dâng vật thực đến chư Tăng tối thượng.
86.
86.
86.
‘‘Yaṃ yaṃ yonupapajjāmi, devattaṃ atha mānusaṃ;
Sabbe satte abhibhomi †, puññakammassidaṃ phalaṃ.
Whatever existence I am reborn into, whether as a deva or a human, I surpass all beings; this is the fruit of meritorious kamma.
Bất cứ sanh thú nào tôi sanh vào, hoặc là chư Thiên hoặc là loài người, tôi vượt trội hơn tất cả chúng sanh. Đây là quả của phước nghiệp.
87.
87.
87.
‘‘Aṭṭhārase kappasate, yaṃ dānamadadiṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, ucchudānassidaṃ phalaṃ.
For eighteen hundred aeons, because of the gift I gave then, I have not known a woeful state; this is the fruit of the gift of sugarcane.
Vào một ngàn tám trăm kiếp trước, khi ấy tôi đã thực hiện việc bố thí nào, tôi không còn biết đến khổ cảnh. Đây là quả của việc dâng cúng cây mía.
88.
88.
88.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā adhimutto thero imā gāthāyo abhāsitthāti;
‘The four analytical knowledges… and so forth… the Buddha’s Dispensation has been fulfilled.’ Thus, indeed, the Venerable Elder Adhimutta spoke these verses.
“Bốn Tuệ Phân Tích ... (như trên) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.” Như vậy, thật sự Đại đức Trưởng lão Adhimutta đã nói những câu kệ này.
Adhimuttattherassāpadānaṃ chaṭṭhaṃ.
The Sixth Apadāna of the Elder Adhimutta.
Thánh tích của Trưởng lão Adhimutta, phần thứ sáu.