Bản dịch
THA -ap388 — Ký Sự về Trưởng Lão Valliphaladāyaka
Valliphaladāyakattheraapadāna
BJT 3308Lúc bấy giờ, tất cả dân chúng đã tụ hội lại và đã đi đến khu rừng. Khi ấy, trong lúc tìm kiếm trái cây, họ đã đạt được trái cây.
BJT 3309Tại nơi ấy, tôi đã nhìn thấy bậc Toàn Giác, đấng Tự Chủ, bậc không bị đánh bại. Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã dâng cúng trái cây valli.
BJT 3310Kể từ khi tôi đã dâng cúng trái cây trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
BJT 3311Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật vào thời hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 3312Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 3313Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Valliphaladāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
6. Valliphaladāyakattheraapadānaṃ
6. The Apadāna of the Elder Who Gave a Creeper Fruit
6. Thánh nhân ký sự của trưởng lão Valliphaladāyaka
31.
31.
31.
‘‘Sabbe janā samāgamma, agamiṃsu vanaṃ tadā;
Phalamanvesamānā te, alabhiṃsu phalaṃ tadā.
All the people, having gathered together, then went to the forest; seeking fruit, they then obtained fruit.
“Khi ấy, tất cả mọi người đã tụ họp lại rồi đi vào khu rừng. Trong khi tìm kiếm trái cây, họ đã tìm được trái cây vào lúc ấy.”
32.
32.
32.
‘‘Tatthaddasāsiṃ sambuddhaṃ, sayambhuṃ aparājitaṃ;
Pasannacitto sumano, valliphalamadāsahaṃ.
There I saw the Perfectly Enlightened One, the Self-Existent, the Unconquered; with a serene and joyful mind, I gave a creeper fruit.
“Ở nơi ấy, tôi đã nhìn thấy đấng Chánh Đẳng Giác, bậc Tự Hữu, đấng Bất Bại. Với tâm ý trong sạch và hoan hỷ, tôi đã dâng cúng trái cây dây leo.”
33.
33.
33.
‘‘Ekattiṃse ito kappe, yaṃ phalamadadiṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, phaladānassidaṃ phalaṃ.
Thirty-one aeons from this one, when I gave that fruit, I do not know of a woeful state; this is the fruit of the gift of fruit.
“Cách đây ba mươi mốt kiếp, vào lúc ấy tôi đã dâng cúng quả ấy. Tôi không còn biết đến khổ cảnh. Đây là kết quả của việc dâng cúng trái cây.”
34.
34.
34.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
My defilements are burnt away… I dwell without taints.
“Các phiền não đã được tôi thiêu đốt ... (như trên) ... tôi sống không còn lậu hoặc.”
35.
35.
35.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Welcome indeed was my coming… the Buddha’s teaching has been fulfilled.
“Sự hiện diện của tôi quả là khéo đến ... (như trên) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
36.
36.
36.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges… the Buddha’s teaching has been fulfilled.
“Bốn Tuệ Phân Tích ... (như trên) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā valliphaladāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Valliphaladāyaka spoke these verses.
Như vậy, quả thật trưởng lão Valliphaladāyaka đã nói những câu kệ này.
Valliphaladāyakattherassāpadānaṃ chaṭṭhaṃ.
The sixth Apadāna of the Elder Valliphaladāyaka is finished.
Thánh nhân ký sự của trưởng lão Valliphaladāyaka, thiên thứ sáu.