Bản dịch
THA -ap387 — Ký Sự về Trưởng Lão Phārusaphaladāyaka
Phārusaphaladāyakattheraapadāna
BJT 3303Trong khi bậc Toàn Giác có màu da vàng chói, vị thọ nhận các vật hiến cúng, đang đi trên đường, tôi đã dâng cúng trái cây phārusa.
BJT 3304(Kể từ khi) tôi đã dâng cúng trái cây trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
BJT 3305Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật vào thời hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 3306Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 3307Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Phārusaphaladāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
5. Phārusaphaladāyakattheraapadānaṃ
5. The Apadāna of the Elder Who Gave a Phārusaka Fruit
5. Thạnh đức của trưởng lão Phārusaphaladāyaka
26.
26.
26.
‘‘Suvaṇṇavaṇṇaṃ sambuddhaṃ, āhutīnaṃ paṭiggahaṃ;
Rathiyaṃ paṭipajjantaṃ, phārusaphalamadāsahaṃ.
To the Perfectly Enlightened One, of golden hue, worthy of receiving offerings, proceeding along the main road, I gave a phārusaka fruit.
“Tôi đã dâng cúng quả phārusa đến đức Chánh Đẳng Giác có màu da vàng ròng, là bậc đáng thọ nhận các vật dâng cúng, đang đi ở trên đường.”
27.
27.
27.
‘‘Ekanavutito kappe, yaṃ phalamadadiṃ ahaṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, phaladānassidaṃ phalaṃ.
Ninety-one aeons from this one, when I gave that fruit, I have not known a woeful state; this is the fruit of the gift of fruit.
“Vào kiếp thứ chín mươi mốt tính từ kiếp này, tôi đã dâng cúng quả trái cây nào, (kể từ đó) tôi không còn biết đến khổ cảnh. Đây là quả báu của việc dâng cúng quả trái cây.”
28.
28.
28.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
My defilements are burnt away… I dwell without taints.
“Các phiền não đã được tôi thiêu đốt ... (như trên) ... tôi sống không còn lậu hoặc.”
29.
29.
29.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Indeed, my coming was a good one… the Buddha's teaching has been fulfilled.
“Sự hiện diện của tôi quả là khéo đến ... (như trên) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
30.
30.
30.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, these eight liberations, and the six supernormal knowledges have been realized; the Buddha's teaching has been fulfilled.
“Bốn Tuệ Phân Tích ... (như trên) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā phārusaphaladāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus the venerable Elder Phārusaphaladāyaka spoke these verses.
Như vậy, quả thật trưởng lão Phārusaphaladāyaka đã nói những câu kệ này.
Phārusaphaladāyakattherassāpadānaṃ pañcamaṃ.
The fifth Apadāna of the Elder Phārusaphaladāyaka is finished.
Thánh nhân ký sự của trưởng lão Phārusaphaladāyaka, thiên thứ năm.