Bản dịch
THA -ap384 — Ký Sự về Trưởng Lão Labujadāyaka
Labujadāyakattheraapadāna
BJT 3284Tôi đã là người phụ việc chùa ở thành phố Bandhumatī. Tôi đã nhìn thấy đức Phật, bậc Vô Nhiễm, đang di chuyển ở trên không trung.
BJT 3285Tôi đã cầm lấy trái cây bánh mì và đã dâng cúng đến đức Phật tối thượng. Bậc có danh vọng lớn lao đã thọ nhận, trong khi đang đứng ở hư không.
BJT 3286Sau khi tôi đã dâng cúng trái cây đến đức Phật với tâm ý trong sạch, tôi có được sự sanh khởi niềm vui, (điều ấy là) nguồn đem lại sự an lạc trong thời hiện tại.
BJT 3287Khi ấy, tôi đã đạt đến niềm phỉ lạc bao la và sự an lạc tối thượng. Còn có châu báu sanh lên (cho tôi) khi tôi được sanh ra nơi này nơi khác.
BJT 3288Kể từ khi tôi đã dâng cúng trái cây trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
BJT 3289Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật vào thời hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 3290Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 3291Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Labujadāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
2. Labujadāyakattheraapadānaṃ
2. The Apadāna of the Elder Labujadāyaka
2. Thiên sự của trưởng lão Labujadāyaka
7.
7.
7.
‘‘Nagare bandhumatiyā, āsiṃ ārāmiko tadā;
Addasaṃ virajaṃ buddhaṃ, gacchantaṃ anilañjase.
In the city of Bandhumatī, I was then a park-keeper; I saw the stainless Buddha traveling through the sky.
“Lúc bấy giờ, ở tại thành phố Bandhumatī, tôi đã là người giữ vườn. Tôi đã nhìn thấy đức Phật không còn bụi bẩn (phiền não), đang đi ở trên hư không (lối đi của gió).”
8.
8.
8.
‘‘Labujassa phalaṃ gayha, buddhaseṭṭhassadāsahaṃ;
Ākāse ṭhitako santo, paṭigaṇhi mahāyaso.
Taking a labuja fruit, I gave it to the best of Buddhas; standing in the sky, the one of great renown accepted it.
“Tôi đã lấy quả mít rừng dâng cúng đến đấng Phật Tối Thượng. Vị có danh tiếng lẫy lừng đã đứng ở trên hư không và đã thọ nhận.”
9.
9.
9.
‘‘Vittisañjananaṃ mayhaṃ, diṭṭhadhammasukhāvahaṃ;
Phalaṃ buddhassa datvāna, vippasannena cetasā.
Having given the fruit to the Buddha with a completely serene mind, a gift that produced my delight and brought happiness in this very life,
“Do đã dâng quả trái cây đến đức Phật với tâm ý trong sạch, (quả trái cây ấy) là vật tạo ra sự hoan hỷ cho tôi, là vật mang lại sự an lạc trong hiện tại.”
10.
10.
10.
‘‘Adhigacchiṃ tadā pītiṃ, vipulañca sukhuttamaṃ;
Uppajjateva ratanaṃ, nibbattassa tahiṃ tahiṃ.
I then attained joy and vast, supreme bliss; jewels arose for me wherever I was reborn.
“Lúc bấy giờ, tôi đã đạt được niềm hỷ lạc và sự an lạc cao thượng, rộng lớn. Các vật báu đã luôn luôn sanh khởi cho tôi, người đã được tái sanh ở tại nơi này nơi kia.”
11.
11.
11.
‘‘Ekanavutito kappe, yaṃ phalamadadiṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, phaladānassidaṃ phalaṃ.
Ninety-one aeons ago, when I gave that fruit, since then I have not known a woeful state; this is the fruit of that gift of fruit.
“Vào kiếp thứ chín mươi mốt tính từ kiếp này, khi ấy tôi đã dâng cúng quả trái cây nào, (kể từ đó) tôi không còn biết đến khổ cảnh. Đây là quả báu của việc dâng cúng quả trái cây.”
12.
12.
12.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
My defilements are burnt away… I dwell without taints.
“Các phiền não của tôi đã được đốt cháy ... (tôi) sống không còn lậu hoặc.”
13.
13.
13.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Welcome indeed was my coming… the Buddha’s teaching has been fulfilled.
“Quả thật, sự đến của tôi là sự đến tốt đẹp ... (tôi) đã thực hành lời dạy của đức Phật.”
14.
14.
14.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges… the Buddha’s teaching has been fulfilled.
“Bốn Tuệ Phân Tích ... (tôi) đã thực hành lời dạy của đức Phật.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā labujadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed, the venerable Elder Labujadāyaka spoke these verses.
Quả thật, trưởng lão Labujadāyaka đã nói những câu kệ này như thế ấy.
Labujadāyakattherassāpadānaṃ dutiyaṃ.
The second apadāna of the Elder Labujadāyaka is finished.
Phần Thạnh đức của trưởng lão Labujadāyaka là phần thứ nhì.