Bản dịch
THA -ap376 — Ký Sự về Trưởng Lão Paṭṭipupphiya
4 Paṭṭipupphiyattheraapadāna
BJT 3241Vào lúc đấng Toàn Giác, bậc Đại Ẩn Sĩ Padumuttara đã Niết Bàn, tất cả dân chúng đã tụ hội lại và họ đã di chuyển nhục thân (của Ngài).
BJT 3242Trong khi nhục thân đang được di chuyển, trong khi các chiếc trống đang được vang lên, với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã cúng dường bông hoa paṭṭi.
BJT 3243(Kể từ khi) tôi đã cúng dường bông hoa trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; (điều này) là quả báu ở việc đã cúng dường nhục thân (đức Phật).
BJT 3244Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật vào thời hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 3245Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 3246Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Paṭṭipupphiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
4. Paṭṭipupphiyattheraapadānaṃ
4. The Apadāna of the Elder Paṭṭipupphiya
4. Phẩm Thí Dụ về Trưởng lão Paṭṭipupphiya
22.
22.
22.
‘‘Yadā nibbāyi sambuddho, mahesī padumuttaro;
Samāgamma janā sabbe, sarīraṃ nīharanti te.
“When the Fully Enlightened One, the Great Seer named Padumuttara, attained Parinibbāna, all the people, having gathered together, carried forth his bodily relics.”
Khi đấng Chánh Đẳng Chánh Giác, bậc Đại Ẩn Sĩ Padumuttara, đã nhập Niết-bàn, tất cả dân chúng tụ tập lại, họ đã mang nhục thân (của ngài) đi.
23.
23.
23.
‘‘Nīharante sarīramhi, vajjamānāsu bherisu;
Pasannacitto sumano, paṭṭipupphaṃ apūjayiṃ.
“While the bodily relics were being carried forth and the drums were being beaten, with a confident and gladdened mind, I offered a paṭṭi flower.”
Trong khi nhục thân đang được mang đi, trong khi các trống đang được đánh lên, với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, con đã cúng dường đóa hoa paṭṭi.
24.
24.
24.
‘‘Satasahassito kappe, yaṃ pupphamabhipūjayiṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, sarīrapūjite phalaṃ.
One hundred thousand aeons ago, I offered that flower; since then, I have not known a woeful state. This is the fruit of worshipping the body.
Kể từ khi con đã cúng dường đóa hoa ấy ở kiếp thứ một trăm ngàn tính từ kiếp này, con không còn biết đến khổ cảnh. Đây là quả báu của việc cúng dường nhục thân.
25.
25.
25.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ, bhavā sabbe samūhatā;
Nāgova bandhanaṃ chetvā, viharāmi anāsavo.
My defilements are burned; all states of existence are uprooted. Like a great elephant that has broken its bonds, I dwell without cankers.
Các phiền não của con đã được đốt cháy, tất cả các hữu đã được nhổ lên. Giống như con voi đực đã bẻ gãy các dây trói buộc, con sống không còn lậu hoặc.
26.
26.
26.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi, mama buddhassa † santike;
Tisso vijjā anuppattā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Indeed, my coming to the presence of the Buddha was a good one; the three knowledges have been attained, the teaching of the Buddha has been fulfilled.
Quả vậy, sự đến của con là khéo đến, (sự đến) của con ở tại sự hiện diện của đức Phật. Ba Minh đã được chứng đắc, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.