Bản dịch
THA -ap375 — Ký Sự về Trưởng Lão Ti-uppalamāliya
3 Tīṇuppalamāliyattheraapadāna
BJT 3232Lúc bấy giờ, tôi đã là con khỉ ở bờ sông Candabhāgā. Tôi đã nhìn thấy đức Phật, bậc Vô Nhiễm, đang ngồi ở trong vùng đồi núi.
BJT 3233(Đức Phật) đang làm cho tất cả các phương rực sáng tợ như cây sālā chúa đã được trổ hoa. Sau khi nhìn thấy bậc hội đủ các tướng mạo chính và phụ, tôi đã trở nên hoan hỷ.
BJT 3234Với tâm phấn chấn, với ý vui mừng, có tâm ý mừng rỡ vì phỉ lạc, tôi đã nâng ba đóa sen xanh lên ở trên đầu.
BJT 3235Sau khi cúng dường các bông hoa đến bậc Đại Ẩn Sĩ Phussa, sau khi thể hiện sự tôn kính, tôi đã ra đi, mặt hướng phía bắc.
BJT 3236Trong khi đang cúi mình ra đi với tâm ý trong sạch, tôi đã rơi xuống ở giữa tảng đá và đã đi đến sự chấm dứt mạng sống.
BJT 3237Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ cuộc sống trước đây, tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 3238Và tôi đã cai quản Thiên quốc ba trăm lần. Và tôi đã trở thành đấng Chuyển Luân Vương năm trăm lần.
BJT 3239(Kể từ khi) tôi đã cúng dường bông hoa trước đây chín mươi hai kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 3240Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Ti-uppalamāliyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
3. Tīṇuppalamāliyattheraapadānaṃ
3. The Apadāna of the Elder Tīṇuppalamāliya
3. Phẩm Thí Dụ về Trưởng lão Tīṇuppalamāliya
13.
13.
13.
‘‘Candabhāgānadītīre, ahosiṃ vānaro tadā;
Addasaṃ virajaṃ buddhaṃ, nisinnaṃ pabbatantare.
“On the bank of the Candabhāgā river, I was a monkey at that time. I saw the stainless Buddha, seated in a mountain cleft.”
Khi ấy, con đã là con khỉ ở trên bờ sông Candabhāgā. Con đã nhìn thấy đức Phật không còn bụi bẩn, đang ngồi ở trong khe núi.
14.
14.
14.
‘‘Obhāsentaṃ disā sabbā, sālarājaṃva phullitaṃ;
Lakkhaṇabyañjanūpetaṃ, disvānattamano ahaṃ.
“Illuminating all directions, like a blossoming kingly Sāla tree, endowed with the major and minor marks; seeing him, I was delighted.”
Vị ấy đang tỏa sáng tất cả các phương trời, giống như cây sala chúa đang trổ hoa, là bậc có được các tướng tốt và tướng phụ. Sau khi nhìn thấy, con đã được vui mừng.
15.
15.
15.
‘‘Udaggacitto sumano, pītiyā haṭṭhamānaso;
Tīṇi uppalapupphāni, matthake abhiropayiṃ.
“With an uplifted mind, gladdened, my heart joyful with rapture, I placed three water lilies upon his head.”
Với tâm phấn khởi, với ý vui mừng, với tâm hoan hỷ do có sự phỉ lạc, con đã đặt ba đóa hoa sen xanh lên trên đầu (của ngài).
16.
16.
16.
‘‘Pūjayitvāna pupphāni, phussassāhaṃ mahesino;
Sagāravo bhavitvāna, pakkāmiṃ uttarāmukho.
“Having offered the flowers to the great sage Phussa, and being respectful, I departed facing north.”
Sau khi đã cúng dường các đóa hoa đến đấng Đại Ẩn Sĩ Phussa, con đã trở nên kính trọng và đã ra đi, mặt hướng về phương bắc.
17.
17.
17.
‘‘Gacchanto paṭikuṭiko, vippasannena cetasā;
Selantare patitvāna, pāpuṇiṃ jīvitakkhayaṃ.
“Walking backwards with a serene mind, I fell into a mountain cleft and came to the end of my life.”
Trong khi đi giật lùi với tâm vô cùng trong sáng, con đã bị té vào trong khe núi và đã đi đến chỗ mạng chung.
18.
18.
18.
‘‘Tena kammena sukatena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā purimaṃ jātiṃ, tāvatiṃsamagacchahaṃ.
“By that well-done deed, and by my volition and aspirations, having abandoned my former birth, I went to Tāvatiṃsa heaven.”
Do nghiệp đã được làm tốt ấy và do các tác ý và sự ước nguyện, sau khi từ bỏ kiếp sống trước, con đã đi đến cõi trời Ba Mươi Ba.
19.
19.
19.
‘‘Satānaṃ tīṇikkhattuñca, devarajjamakārayiṃ;
Satānaṃ pañcakkhattuñca, cakkavattī ahosahaṃ.
“Three hundred times I exercised the kingship of the devas, and five hundred times I was a wheel-turning monarch.”
Con đã trị vì vương quốc của chư Thiên trong ba trăm lần, và con đã là vị Chuyển Luân Vương trong năm trăm lần.
20.
20.
20.
‘‘Dvenavute ito kappe, yaṃ pupphamabhipūjayiṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
“Ninety-two aeons ago, I made that flower offering; since then, I have known no bad destination. This is the fruit of offering to the Buddha.”
Kể từ khi con đã cúng dường đóa hoa ấy ở kiếp thứ chín mươi hai tính từ kiếp này, con không còn biết đến khổ cảnh. Đây là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
21.
21.
21.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
“The four analytical knowledges… and so on… the teaching of the Buddha has been fulfilled.”
Bốn Tuệ Phân Tích ... (v.v.) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā tīṇuppalamāliyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed, the Venerable Elder Tīṇuppalamāliya recited these verses.
Như vậy, quả thực Trưởng lão Tīṇuppalamāliya đã nói những vần kệ này.
Tīṇuppalamāliyattherassāpadānaṃ tatiyaṃ.
The third Apadāna of the Elder Tīṇuppalamāliya.
Phẩm Thí Dụ về Trưởng lão Tīṇuppalamāliya là phẩm thứ ba.