Bản dịch
THA -ap367 — Ký Sự về Trưởng Lão Aṅkolapupphiya
Aṅkolapupphiyattheraapadāna
BJT 3195Lúc bấy giờ, bậc Giác Ngộ tên Paduma đã sống ở ngọn núi Cittakūṭa. Tôi đã nhìn thấy đức Phật, đấng Tự Chủ, bậc không bị đánh bại ấy.
BJT 3196Sau khi nhìn thấy cây aṅkola đã được trổ hoa, khi ấy tôi đã thu nhặt (bông hoa). Tôi đã đi đến gặp bậc Giác Ngộ và đã cúng dường đấng Chiến Thắng Paduma.
BJT 3197(Kể từ khi) tôi đã cúng dường bông hoa trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 3198Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Aṅkolapupphiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
5. Aṅkolapupphiyattheraapadānaṃ
5. The Apadāna of the Elder Aṅkolapupphiya
5. Thiên A-hàm về trưởng lão Aṅkolapupphiya
16.
16.
16.
‘‘Padumo nāma sambuddho, cittakūṭe vasī tadā;
Disvāna taṃ ahaṃ buddhaṃ, sayambhuṃ aparājitaṃ †.
The Fully Enlightened One named Paduma was at that time dwelling on Cittakūṭa mountain; having seen that Buddha, the Self-Become, the Unconquered One,
Khi ấy, bậc Chánh Đẳng Giác danh hiệu Paduma đã ngự tại núi Cittakūṭa. Sau khi nhìn thấy đức Phật ấy, bậc Tự Sanh, bậc Bất Bại.
17.
17.
17.
‘‘Aṅkolaṃ pupphitaṃ disvā, ocinitvānahaṃ tadā;
Upagantvāna sambuddhaṃ, pūjayiṃ padumaṃ jinaṃ.
Having seen a flowering Aṅkola tree, I then gathered its flowers. Approaching the Fully Enlightened One, the Conqueror Paduma, I worshipped him.
Sau khi nhìn thấy cây aṅkola đang trổ hoa, khi ấy tôi đã hái (hoa), rồi đến gần bậc Chánh Đẳng Giác, bậc Chiến Thắng Paduma, và đã cúng dường.
18.
18.
18.
‘‘Ekattiṃse ito kappe, yaṃ pupphamabhipūjayiṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
In the thirty-first aeon from this one, for the flower I offered in worship, I have known no woeful state since then. This is the fruit of a flower-offering to a Buddha.
Trong kiếp thứ ba mươi mốt kể từ kiếp này, do tôi đã cúng dường đóa hoa ấy, tôi không hề biết đến khổ cảnh. Đây là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
19.
19.
19.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, the eight liberations, and the six supernormal knowledges have been realized. The teaching of the Buddha has been fulfilled.
Bốn Tuệ Phân Tích ... (v.v.) ... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā aṅkolapupphiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Aṅkolapupphiya spoke these verses.
Như vậy, quả thật trưởng lão Aṅkolapupphiya đã nói những câu kệ này.
Aṅkolapupphiyattherassāpadānaṃ pañcamaṃ.
The Fifth Apadāna of the Elder Aṅkolapupphiya
Thiên A-hàm thứ năm về trưởng lão Aṅkolapupphiya đã kết thúc.