Bản dịch
THA -ap361 — Ký Sự về Trưởng Lão Saraṇagamaniya
9 Saraṇagamaniyattheraapadāna
BJT 3173Lúc bấy giờ, tôi là đạo sĩ lõa thể. Vị tỳ khưu và tôi đã bước lên chiếc thuyền. Trong khi chiếc thuyền đang bị đắm, vị tỳ khưu đã ban cho tôi sự nương nhờ.
BJT 3174(Kể từ khi) vị ấy ban cho sự nương nhờ đến tôi trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc đi đến nương nhờ.
BJT 3175Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Saraṇagamaniyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
9. Saraṇagamaniyattheraapadānaṃ
9. The Apadāna of the Elder Saraṇagamaniya
9. Phẩm sự tích của trưởng lão Saraṇagamaniya
34.
34.
34.
‘‘Āruhimha tadā nāvaṃ, bhikkhu cājīvako cahaṃ;
Nāvāya bhijjamānāya, bhikkhu me saraṇaṃ adā.
At that time, a monk, an Ājīvaka, and I boarded a boat. When the boat was breaking apart, the monk gave me the refuges.
“Khi ấy, vị tỳ khưu, vị lõa thể, và tôi đã lên thuyền. Khi thuyền bị vỡ, vị tỳ khưu đã ban cho tôi Tam quy.
35.
35.
35.
‘‘Ekattiṃse ito kappe, yañca me saraṇaṃ adā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, saraṇāgamane phalaṃ.
In the thirty-first aeon from this one, when he gave me the refuges, I have known no woeful state. This is the fruit of going for refuge.
“Kể từ kiếp thứ ba mươi mốt tính từ kiếp này, khi (vị ấy) đã ban cho tôi Tam quy, tôi không còn biết đến khổ cảnh. Đây là quả báu của việc quy y.
36.
36.
36.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, the eight liberations, and the six supernormal knowledges have been realized. The teaching of the Buddha has been fulfilled.
“Bốn Tuệ Phân Tích ... (v.v.) ... giáo huấn của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā saraṇagamaniyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Saraṇagamaniya Thera spoke these verses.
Như vậy, quả thật trưởng lão Saraṇagamaniya đáng kính đã nói lên những câu kệ này.
Saraṇagamaniyattherassāpadānaṃ navamaṃ.
The ninth Apadāna, that of the Elder Saraṇagamaniya, is concluded.
Phẩm sự tích của trưởng lão Saraṇagamaniya là phẩm thứ chín.