Bản dịch
THA -ap358 — Ký Sự về Trưởng Lão Ambayāgudāyaka
Ambayāgudāyakattheraapadāna
BJT 3161Bậc Giác Ngộ tên Sataraṁsī, đấng Tự Chủ, bậc không bị đánh bại, sau khi xuất khỏi định đã đi đến tôi về việc khất thực.
BJT 3162Sau khi nhìn thấy vị Phật Độc Giác có tâm thanh tịnh, tôi đã dâng cúng món cháo xoài đến Ngài với tâm ý trong sạch.
BJT 3163Kể từ khi tôi đã thực hiện việc làm ấy trước đây 94 kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của món cháo xoài.
BJT 3164Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Ambayāgudāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Ambayāgudāyaka là phần thứ sáu.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
6. Ambayāgudāyakattheraapadānaṃ
6. The Apadāna of the Elder Ambayāgudāyaka
6. Thánh tích của Trưởng lão Ambayāgudāyaka
22.
22.
22.
‘‘Sataraṃsī nāma sambuddho, sayambhū aparājito;
Vuṭṭhahitvā samādhimhā, bhikkhāya mamupāgami.
The Paccekabuddha named Sataraṃsi, self-arisen and unconquered, having arisen from concentration, approached me for alms-food.
“Vị Phật Toàn Giác tên là Sataraṃsī, bậc Tự Giác Ngộ, vị Bất Bại, sau khi xuất khỏi định, đã đi đến chỗ tôi để khất thực.
23.
23.
23.
‘‘Paccekabuddhaṃ disvāna, ambayāguṃ adāsahaṃ;
Vippasannamanaṃ tassa, vippasannena cetasā.
Having seen the Paccekabuddha of especially serene mind, I gave mango gruel with a serene mind.
“Sau khi nhìn thấy vị Phật Độc Giác, vị có tâm ý trong sạch, tôi đã dâng cúng cháo xoài với tâm trong sạch.
24.
24.
24.
‘‘Catunnavutito kappe, yaṃ kammamakariṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, ambayāguyidaṃ phalaṃ.
In the ninety-fourth aeon from this one, for the deed that I did then, I know of no woeful state; this is the fruit of the mango gruel.
“Cách đây chín mươi bốn kiếp, tôi đã thực hiện nghiệp ấy vào lúc đó. Tôi không hề biết đến khổ cảnh. Đây là quả báu của việc cúng dường cháo xoài.
25.
25.
25.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, the eight liberations, and the six supernormal knowledges have been realized. The teaching of the Buddha has been fulfilled.
“Bốn Tuệ Phân Tích ... (v.v.) ... giáo huấn của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā ambayāgudāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Ambayāgudāyaka spoke these verses.
Như vậy, quả thật trưởng lão Ambayāgudāyaka đáng kính đã nói lên những câu kệ này.
Ambayāgudāyakattherassāpadānaṃ chaṭṭhaṃ.
The sixth Apadāna of the Elder Ambayāgudāyaka is concluded.
Phẩm sự tích của trưởng lão Ambayāgudāyaka là phẩm thứ sáu.