Bản dịch
THA -ap357 — Ký Sự về Trưởng Lão Daṇḍadāyaka
Daṇḍadāyakattheraapadāna
BJT 3157Lúc bấy giờ, tôi đã đi sâu vào khu rừng hoang rậm và đã đốn cây tre. Sau khi cầm lấy thanh đòn ngang, tôi đã dâng cúng đến Hội Chúng.
BJT 3158Do sự tịnh tín ấy ở trong tâm, tôi đã đảnh lễ các bậc có sự hành trì tốt đẹp. Tôi cũng đã dâng cúng thanh đòn ngang, rồi đã ra đi, mặt hướng phía bắc.
BJT 3159Kể từ khi tôi đã dâng cúng cây gậy trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng cây gậy.
BJT 3160Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Daṇḍadāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Daṇḍadāyaka là phần thứ năm.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
5. Daṇḍadāyakattheraapadānaṃ
5. The Apadāna of the Elder Daṇḍadāyaka
5. Thánh tích của Trưởng lão Daṇḍadāyaka
18.
18.
18.
‘‘Kānanaṃ vanamogayha, veḷuṃ chetvānahaṃ tadā;
Ālambanaṃ karitvāna, saṅghassa adadaṃ ahaṃ.
Having gone down into the forest grove, I cut a bamboo at that time; having made it into a staff, I gave it to the Saṅgha.
“Khi ấy, sau khi đi vào khu rừng, tôi đã chặt cây tre, sau khi làm thành cây gậy chống, tôi đã dâng cúng đến Tăng chúng.
19.
19.
19.
‘‘Tena cittappasādena, subbate abhivādiya;
Ālambanampi datvāna, pakkāmiṃ uttarāmukho.
With that confidence of mind, having paid homage to those of good conduct, and having given the staff, I departed facing north.
“Với tâm tín thành ấy, sau khi đảnh lễ bậc có giới hạnh tốt đẹp, và sau khi dâng cúng cây gậy chống, tôi đã ra đi hướng về phương bắc.
20.
20.
20.
‘‘Catunnavutito kappe, yaṃ daṇḍamadadiṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, daṇḍadānassidaṃ phalaṃ.
In the ninety-fourth aeon from this one, for the staff that I gave at that time, I know of no woeful state. This is the fruit of the gift of a staff.
“Cách đây chín mươi bốn kiếp, tôi đã dâng cúng cây gậy ấy vào lúc đó. Tôi không hề biết đến khổ cảnh. Đây là quả báu của việc cúng dường cây gậy.
21.
21.
21.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, the eight liberations, and the six supernormal knowledges have been realized. The teaching of the Buddha has been fulfilled.
“Bốn Tuệ phân tích ... (v.v.) ... giáo huấn của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā daṇḍadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Daṇḍadāyaka spoke these verses.
Như vậy, quả thật Trưởng lão Daṇḍadāyaka đã nói lên những câu kệ này.
Daṇḍadāyakattherassāpadānaṃ pañcamaṃ.
The fifth Apadāna of the Elder Daṇḍadāyaka is concluded.
Thánh tích của Trưởng lão Daṇḍadāyaka, phần thứ năm.