Bản dịch
THA -ap354 — Ký Sự về Trưởng Lão Yavakalāpiya
Yavakalāpiyattheraapadāna
BJT 3145Lúc bấy giờ, tôi đã là người trồng lúa mạch ở thành phố Aruṇavatī. Sau khi nhìn thấy bậc Toàn Giác ở đường lộ, tôi đã trải xuống bó rơm lúa mạch.
BJT 3146Biết được ý định của tôi, bậc có lòng thương tưởng, đấng Bi Mẫn, bậc Lãnh Đạo cao cả của thế gian Sikhī, đã ngồi xuống ở tấm trải bằng rơm lúa mạch.
BJT 3147Sau khi nhìn thấy bậc Vô Nhiễm, vị có thiền chứng vĩ đại, đấng Hướng Đạo, đã ngồi xuống, sau khi làm cho sanh khởi niềm hưng phấn, tại nơi ấy tôi đã mệnh chung.
BJT 3148Kể từ khi tôi đã thực hiện việc làm ấy trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc trải thảm rơm lúa mạch.
BJT 3149Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Yavakalāpiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Yavakalāpiya là phần thứ nhì.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
2. Yavakalāpiyattheraapadānaṃ
2. The Apadāna of the Elder Yavakalāpiya
2. Thánh tích về trưởng lão Yavakalāpiya
6.
6.
6.
‘‘Nagare aruṇavatiyā, āsiṃ yavasiko tadā;
Panthe disvāna sambuddhaṃ, yavakalāpaṃ santhariṃ †.
In the city named Aruṇavatī, I was a barley guard at that time. Having seen the Perfectly Enlightened One on the path, I spread out a sheaf of barley.
Khi ấy, ở tại thành Aruṇavatī, tôi đã là người giữ lúa mạch. Sau khi nhìn thấy đức Chánh Đẳng Giác ở trên đường, tôi đã trải ra bó lúa mạch.
7.
7.
7.
‘‘Anukampako kāruṇiko, sikhī lokagganāyako;
Mama saṅkappamaññāya, nisīdi yavasanthare.
The compassionate, the merciful Sikhī, the foremost guide of the world, having understood my intention, sat upon the barley-strewing.
“Vị có lòng thương xót, có lòng bi mẫn, đức Phật Sikhī, bậc Lãnh Đạo Tối Thượng của thế gian, sau khi biết được ý định của tôi, đã ngự trên tấm lót bằng lúa mạch.
8.
8.
8.
‘‘Disvā nisinnaṃ vimalaṃ, mahājhāyiṃ vināyakaṃ;
Pāmojjaṃ janayitvāna, tattha kālaṅkato ahaṃ.
Having seen the Guide seated—stainless, a great meditator—and having generated joy, I passed away in that place.
“Sau khi nhìn thấy bậc Lãnh Đạo đang ngự, vị trong sạch không tỳ vết, vị thường nhập đại thiền, tôi đã làm phát sanh niềm hân hoan và đã mệnh chung tại nơi ấy.
9.
9.
9.
‘‘Ekattiṃse ito kappe, yaṃ kammamakariṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, yavatthare idaṃ phalaṃ.
Thirty-one aeons ago, for the deed I performed at that time, I have known no woeful state since then. This is the fruit of spreading the barley.
“Cách đây ba mươi mốt kiếp, tôi đã thực hiện nghiệp ấy vào lúc đó. Tôi không hề biết đến khổ cảnh. Đây là quả báu của việc trải tấm lót bằng lúa mạch.
10.
10.
10.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, the eight liberations, and the six supernormal powers have been realized. The teaching of the Buddha has been fulfilled.
“Bốn Tuệ phân tích ... (v.v.) ... giáo huấn của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā yavakalāpiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Yavakalāpiya spoke these verses.
Như vậy, quả thật Trưởng lão Yavakalāpiya đã nói lên những câu kệ này.
Yavakalāpiyattherassāpadānaṃ dutiyaṃ.
The Second Apadāna of the Elder Yavakalāpiya is concluded.
Thánh tích của Trưởng lão Yavakalāpiya, phần thứ hai.