Bản dịch
THA -ap344 — Ký Sự về Trưởng Lão Ti-uppalamāliya
2 Tīṇuppalamāliyattheraapadāna
BJT 3084Lúc bấy giờ, tôi đã là con khỉ ở bờ sông Candabhāgā. Tôi đã nhìn thấy đức Phật, bậc Vô Nhiễm, đang ngồi ở trong vùng đồi núi.
BJT 3085(Đức Phật) đang làm cho tất cả các phương rực sáng tợ như cây sālā chúa đã được trổ hoa. Sau khi nhìn thấy bậc hội đủ các tướng mạo chính và phụ, tôi đã trở nên hoan hỷ.
BJT 3086Với tâm phấn chấn, với ý vui mừng, có tâm ý mừng rỡ vì phỉ lạc, tôi đã nâng ba đóa sen xanh lên ở trên đầu.
BJT 3087Sau khi dâng lên các bông hoa đến bậc Đại Ẩn Sĩ Vipassī, sau khi đạt đến sự tôn kính, tôi đã ra đi, mặt hướng phía bắc.
BJT 3088Trong khi đang cúi mình ra đi với tâm ý trong sạch, tôi đã rơi xuống ở giữa tảng đá và đã đi đến sự chấm dứt mạng sống.
BJT 3089Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 3090Tôi đã cai quản Thiên Quốc ba trăm lần và đã là đấng Chuyển Luân Vương năm trăm lần.
BJT 3091(Kể từ khi) tôi đã cúng dường bông hoa trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 3092Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Ti-uppalamāliyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
2. Tīṇuppalamāliyattheraapadānaṃ
2. The Apadāna of the Elder Tīṇuppalamāliya
2. Thánh tích của trưởng lão Tīṇuppalamāliya
11.
11.
11.
‘‘Candabhāgānadītīre, ahosiṃ vānaro tadā;
Addasaṃ virajaṃ buddhaṃ, nisinnaṃ pabbatantare.
On the bank of the Candabhāgā river, I was a monkey at that time. I saw the stainless Buddha seated within a mountain pass.
“Khi ấy, tôi là con khỉ ở trên bờ sông Candabhāgā. Tôi đã nhìn thấy đức Phật không còn bụi bẩn, đang ngồi ở khe núi.”
12.
12.
12.
‘‘Obhāsentaṃ disā sabbā, sālarājaṃva phullitaṃ;
Lakkhaṇabyañjanūpetaṃ, disvā attamano ahuṃ.
Illuminating all directions, like a royal sāla tree in full bloom, endowed with the major and minor marks; having seen him, I was delighted.
“Sau khi nhìn thấy ngài, bậc được trang bị các tướng chính và tướng phụ, đang tỏa sáng khắp các phương trời giống như cây sala chúa đang trổ hoa, tôi đã được vui mừng.”
13.
13.
13.
‘‘Udaggacitto sumano, pītiyā haṭṭhamānaso;
Tīṇi uppalapupphāni, matthake abhiropayiṃ.
With an uplifted mind, a gladdened mind, my heart joyful with rapture, I placed three white water lily flowers upon his head.
“Với tâm ý phấn khởi, vui mừng, với tâm trí hoan hỷ do sự vui thích, tôi đã đặt ba đóa hoa sen xanh ở trên đầu.”
14.
14.
14.
‘‘Pupphāni abhiropetvā, vipassissa mahesino;
Sagāravo bhavitvāna †, pakkāmiṃ uttarāmukho.
Having placed the flowers upon Vipassī, the Great Sage, becoming reverent, I departed facing north.
“Sau khi dâng lên những đóa hoa đến bậc Đại Ẩn Sĩ Vipassī, sau khi đã trở nên kính trọng, tôi đã ra đi về hướng bắc.”
15.
15.
15.
‘‘Gacchanto paṭikuṭiko, vippasannena cetasā;
Selantare patitvāna †, pāpuṇiṃ jīvitakkhayaṃ.
Going backwards with a very serene mind, I fell within a mountain pass and reached the end of my life.
“Trong khi đi giật lùi với tâm ý vô cùng trong sạch, sau khi bị té ngã ở khe núi, tôi đã đi đến sự chấm dứt mạng sống.”
16.
16.
16.
‘‘Tena kammena sukatena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ †, tāvatiṃsamagacchahaṃ.
Through that well-done deed and through my volitions and aspirations, having abandoned the human body, I went to the Tāvatiṃsa realm.
“Do nghiệp đã được làm tốt ấy và do các tâm nguyện, sau khi từ bỏ thân người, tôi đã đi đến cõi trời Ba Mươi Ba.”
17.
17.
17.
‘‘Satānaṃ tīṇikkhattuñca, devarajjaṃ akārayiṃ;
Satānaṃ pañcakkhattuñca, cakkavattī ahosahaṃ.
Three hundred times I exercised the sovereignty of the devas, and five hundred times I was a wheel-turning monarch.
“Ba trăm lần, tôi đã làm vua cõi trời; và năm trăm lần, tôi đã là vị Chuyển Luân Vương.”
18.
18.
18.
‘‘Ekanavutito kappe, yaṃ pupphamabhipūjayiṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
In the ninety-first eon from this one, I made an offering of a flower; since then, I have known no woeful destination. This is the fruit of worshipping the Buddha.
Cách đây chín mươi mốt kiếp, do con đã cúng dường đóa hoa; con không hề biết đến khổ cảnh, đây là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
19.
19.
19.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, and these eight liberations, the six super-knowledges have been realized; the teaching of the Buddha has been fulfilled.
Bốn Tuệ phân tích ... (v.v.) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā tīṇuppalamāliyo † thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Tīṇuppalamāliya spoke these verses.
Quả thật, Trưởng lão Tīṇuppalamāliya đã nói những câu kệ này như thế ấy.
Tīṇuppalamāliyattherassāpadānaṃ dutiyaṃ.
The second Apadāna of the Elder Tīṇuppalamāliya is concluded.
Thánh tích của Trưởng lão Tīṇuppalamāliya, câu chuyện thứ hai.