Bản dịch
THA -ap340 — Ký Sự về Trưởng Lão Uttareyyadāyaka
Uttareyyadāyakattheraapadāna
BJT 3021Lúc bấy giờ, ở thành phố Haṁsavatī tôi đã là vị Bà-la-môn, là vị giảng huấn, thông thạo về chú thuật, thông suốt về ba tập Vệ-đà.
BJT 3022Tôi là người có dòng dõi, khéo được học tập, được các người học trò của mình trọng vọng. Khi ấy, tôi đã đi ra khỏi thành phố nhằm mục đích rửa tội bằng nước.
BJT 3023Đấng Chiến Thắng tên Padumuttara là bậc thông suốt về tất cả các pháp. Được tháp tùng bởi một ngàn bậc Vô Lậu, đấng Chiến Thắng đã đi vào thành phố.
BJT 3024Tôi đã nhìn thấy vị có dáng vóc vô cùng tao nhã như là đã được tạo nên bởi sự không còn dục vọng, được tháp tùng bởi các vị A-la-hán. Sau khi nhìn thấy, tôi đã làm cho tâm được tịnh tín.
BJT 3025Tôi đã chắp tay lên ở đầu và đã cúi chào bậc có sự hành trì tốt đẹp. Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã dâng cúng tấm áo choàng.
BJT 3026Sau khi nâng lên bằng cả hai tay, tôi đã thảy tấm vải choàng lên. Hội chúng của đức Phật đứng đến nơi đâu thì tấm vải choàng đã che đến nơi ấy.
BJT 3027Khi ấy, trong lúc làm tấm che cho Hội Chúng tỳ khưu đông đảo, v.v… đang đi khất thực, (tấm vải choàng) đã đứng yên, khiến cho tôi được vui mừng.
BJT 3028Trong khi tôi đang từ nhà bước ra, đấng Tự Chủ, nhân vật cao cả, bậc Đạo Sư, đứng ở tại đường lộ, đã nói lời tùy hỷ với tôi rằng:
BJT 3029“Người nào với tâm tịnh tín, với ý vui mừng đã dâng cúng tấm vải choàng đến Ta, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hãy lắng nghe Ta nói.
BJT 3030(Người ấy) sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên ba mươi ngàn kiếp, và sẽ là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc năm mươi lần.
BJT 3031Người có được nghiệp phước thiện, trong khi đang sống ở thế giới chư Thiên, sẽ có được sự che phủ bằng tấm vải ở xung quanh một trăm do-tuần.
BJT 3032Và (người ấy) sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương ba mươi sáu lần. Lãnh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.
BJT 3033Người có được nghiệp phước thiện, trong khi luân hồi ở cõi hữu, sẽ tức thời đạt được mọi điều ước nguyện ở trong tâm.
BJT 3034Người nam này sẽ đạt được các tấm vải làm bằng tơ lụa, bằng sợi len, bằng chỉ lanh, và bằng bông vải có giá trị cao.
BJT 3035Người nam này sẽ đạt được mọi ước nguyện ở trong tâm và sẽ thọ hưởng quả thành tựu của (việc dâng cúng) một tấm vải vào mọi thời điểm.
BJT 3036Về sau, được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch, người ấy sẽ xuất gia và sẽ đắc chứng Giáo Pháp của đức Thế Tôn Gotama.”
BJT 3037Ôi việc làm của tôi đã được thực hiện tốt đẹp đến đấng Toàn Tri, bậc Đại Ẩn Sĩ. Sau khi dâng cúng một tấm vải choàng, tôi đã đạt được vị thế Bất Tử.
BJT 3038Trong lúc tôi sống ở mái che, ở gốc cây, hoặc ở ngôi nhà trống vắng, có tấm che bằng vải được duy trì ở xung quanh tôi một sải tay.
BJT 3039Tôi sử dụng y và vật dụng không phải do gợi ý xin xỏ, tôi có sự thành đạt về cơm ăn nước uống; điều này là quả báu của tấm áo choàng.
BJT 3040Kể từ khi tôi đã thực hiện việc làm ấy trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng tấm vải.
BJT 3041Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Uttareyyadāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
8. Uttareyyadāyakattheraapadānaṃ
8. The Apadāna of the Elder Uttareyyadāyaka
8. Thiên sự về Trưởng lão Uttareyyadāyaka
90.
90.
90.
‘‘Nagare haṃsavatiyā, ahosiṃ brāhmaṇo tadā;
Ajjhāyako mantadharo, tiṇṇaṃ vedāna pāragū.
8. In the city of Haṃsavatī, I was a brahmin at that time; a reciter, a master of mantras, one who had reached the far shore of the three Vedas.
“Khi ấy, ở tại thành phố Haṃsavatī, tôi đã là vị Bà-la-môn thông thuộc Vệ-đà, người trì giữ các câu thần chú, bậc thông suốt ba bộ Vệ-đà.
91.
91.
91.
‘‘Purakkhato sasissehi, jātimā ca susikkhito;
Toyābhisecanatthāya, nagarā nikkhamiṃ tadā.
Placed at the forefront by my disciples, of high birth and well-trained, I went out from the city at that time for the purpose of bathing.
“Được các đệ tử vây quanh, tôi là người có dòng dõi và được giáo huấn tốt đẹp. Khi ấy, tôi đã đi ra khỏi thành phố với mục đích tắm gội.
92.
92.
92.
‘‘Padumuttaro nāma jino, sabbadhammāna pāragū;
Khīṇāsavasahassehi, pāvisī nagaraṃ jino.
The Victor named Padumuttara, who had reached the far shore of all dhammas, entered the city with a thousand whose cankers were destroyed.
“Bậc Toàn Giác tên Padumuttara, bậc thông suốt tất cả các pháp, bậc Chánh Giác ấy cùng với một ngàn vị đã hết các lậu hoặc đã đi vào thành phố.
93.
93.
93.
‘‘Sucārurūpaṃ disvāna, āneñjakāritaṃ viya;
Parivutaṃ arahantehi, disvā cittaṃ pasādayiṃ.
Seeing his very beautiful form, surrounded by Arahants, like an elephant trained to be unmoving, I gladdened my mind.
“Sau khi nhìn thấy Ngài có sắc tướng xinh đẹp tuyệt vời, giống như được huấn luyện để không bị dao động, được các vị A-la-hán vây quanh, sau khi nhìn thấy, tôi đã làm cho tâm được tịnh tín.
94.
94.
94.
‘‘Sirasmiṃ añjaliṃ katvā, namassitvāna subbataṃ;
Pasannacitto sumano, uttarīyamadāsahaṃ.
Having placed my hands together in reverence on my head and paid homage to the one of good vows, with a serene and joyful mind, I gave an upper garment.
“Sau khi chắp tay lên đầu, sau khi đảnh lễ bậc có giới hạnh tốt đẹp, tôi với tâm tịnh tín, với ý vui mừng đã dâng cúng tấm thượng y.
95.
95.
95.
‘‘Ubho hatthehi paggayha, sāṭakaṃ ukkhipiṃ ahaṃ;
Yāvatā buddhaparisā, tāva chādesi sāṭako.
Having lifted the cloth with both hands, I raised it up; as far as the Buddha’s assembly extended, that far the cloth covered.
“Sau khi cầm bằng cả hai tay, tôi đã tung tấm vải lên. Tấm vải ấy đã che phủ được bao xa có hội chúng của đức Phật.
96.
96.
96.
‘‘Piṇḍacāraṃ carantassa, mahābhikkhugaṇādino;
Chadaṃ karonto aṭṭhāsi, hāsayanto mamaṃ tadā.
As he, the leader of the great assembly of monks, was wandering for alms, it stood making a covering, causing me to rejoice at that time.
“Trong khi Ngài đang đi khất thực, là vị đứng đầu hội chúng Tỳ-khưu đông đảo, (tấm vải) đã đứng lại làm thành lọng che, khi ấy đã làm cho tôi được vui mừng.
97.
97.
97.
‘‘Gharato nikkhamantassa, sayambhū aggapuggalo;
Vīthiyaṃva ṭhito satthā, akā me † anumodanaṃ.
As I was leaving my house, the Self-Awakened One, the Foremost Person, the Teacher, stood right in the street and gave a discourse of appreciation for me.
“Trong khi tôi đang đi ra khỏi nhà, bậc Tự Sinh, bậc Tối Thượng Nhân, bậc Đạo Sư đã đứng lại ở trên đường và đã thực hiện việc tùy hỷ cho tôi.
98.
98.
98.
‘‘Pasannacitto sumano, yo me adāsi sāṭakaṃ;
Tamahaṃ kittayissāmi, suṇotha mama bhāsato.
‘He who, with a serene and joyful mind, gave me a cloth—I shall proclaim him. Listen to my words as I speak.’
“‘Vị nào với tâm tịnh tín, với ý vui mừng đã dâng cúng tấm vải cho ta, ta sẽ tán dương vị ấy. Các ngươi hãy lắng nghe lời của ta đang nói đây.
99.
99.
99.
‘‘‘Tiṃsakappasahassāni, devaloke ramissati;
Paññāsakkhattuṃ devindo, devarajjaṃ karissati.
‘For thirty thousand aeons, he will delight in the deva world; fifty times, having become king of the devas, he will exercise sovereignty.’
“‘Trong ba mươi ngàn kiếp, vị ấy sẽ vui hưởng ở tại cõi trời. Năm mươi lần làm vua của chư Thiên, vị ấy sẽ trị vì vương quốc của chư Thiên.
100.
100.
100.
‘‘‘Devaloke vasantassa, puññakammasamaṅgino;
Samantā yojanasataṃ, dussacchannaṃ bhavissati.
‘While dwelling in the deva world, endowed with meritorious deeds, for a hundred yojanas all around there will be a covering of cloth for him.’
“‘Trong khi đang trú ngụ ở cõi trời, đối với người được thành tựu về phước nghiệp, sẽ có lọng che bằng vải một trăm do-tuần ở chung quanh.
101.
101.
101.
‘‘‘Chattiṃsakkhattuṃ rājā ca, cakkavattī bhavissati;
Padesarajjaṃ vipulaṃ, gaṇanāto asaṅkhiyaṃ.
‘Thirty-six times he will be a wheel-turning king; his vast regional kingship will be innumerable by calculation.’
“‘Và ba mươi sáu lần, vị ấy sẽ là vị vua Chuyển Luân. Còn về vương quốc rộng lớn ở các địa phương thì không thể đếm được bằng sự tính toán.
102.
102.
102.
‘‘‘Bhave saṃsaramānassa, puññakammasamaṅgino;
Manasā patthitaṃ sabbaṃ, nibbattissati tāvade.
‘As he wanders in existence, endowed with meritorious deeds, whatever he wishes for in his mind will arise at that very moment.’
“‘Đối với người được thành tựu về phước nghiệp đang trôi lăn trong vòng sinh tử, tất cả những gì được mong mỏi bởi ý sẽ được phát sanh ngay lập tức.
103.
103.
103.
‘‘‘Koseyyakambaliyāni †, khomakappāsikāni ca;
Mahagghāni ca dussāni, paṭilacchatiyaṃ naro.
‘This man will obtain silken and woolen garments, linen and cotton cloths, and other costly fabrics.’
“‘Người này sẽ nhận được các loại vải lụa, vải len, vải gai, và vải bông, và các loại vải có giá trị lớn.
104.
104.
104.
‘‘‘Manasā patthitaṃ sabbaṃ, paṭilacchatiyaṃ naro;
Ekadussassa vipākaṃ, anubhossati sabbadā.
‘This man will obtain everything wished for in his mind; he will always experience the result of that single cloth.’
“‘Người này sẽ nhận được tất cả những gì được mong mỏi bởi ý. Vị ấy sẽ luôn luôn thụ hưởng quả báu của một tấm vải.
105.
105.
105.
‘‘‘So pacchā pabbajitvāna, sukkamūlena codito;
Gotamassa bhagavato, dhammaṃ sacchikarissati’.
‘Later, having gone forth, urged on by a pure root cause, he will realize the Dhamma in the dispensation of the Blessed One Gotama.’
“‘Về sau, sau khi đã xuất gia, được thúc đẩy bởi căn lành trong sạch, vị ấy sẽ chứng ngộ Chánh Pháp trong giáo Pháp của đức Thế Tôn Gotama.’”
106.
106.
106.
‘‘Aho me sukataṃ kammaṃ, sabbaññussa mahesino;
Ekāhaṃ sāṭakaṃ datvā, pattomhi amataṃ padaṃ.
Ah, my deed was well done! Having given a single cloth to the All-Knowing Great Sage, I have attained the deathless state.
“Ôi, nghiệp được tôi thực hiện tốt đẹp thay! Sau khi đã dâng cúng một tấm vải đến bậc Toàn Tri, bậc Đại Thánh, tôi đã đạt được trạng thái bất tử.
107.
107.
107.
‘‘Maṇḍape rukkhamūle vā, vasato suññake ghare;
Dhāreti dussachadanaṃ, samantā byāmato mama.
Whether I am dwelling in a pavilion, at the foot of a tree, or in an empty house, a cloth canopy is held up for me, for a fathom all around.
“Hoặc ở tại gian nhà có mái che, hoặc ở tại gốc cây, trong khi tôi đang trú ngụ ở ngôi nhà trống vắng, lọng che bằng vải được giữ gìn cho tôi một sải tay ở chung quanh.
108.
108.
108.
‘‘Aviññattaṃ nivāsemi †, cīvaraṃ paccayañcahaṃ;
Lābhī † annassa pānassa, uttareyyassidaṃ phalaṃ.
I receive robes and other requisites without having to ask. I am a recipient of food and drink. This is the fruit of the upper garment.
“Tôi mặc y phục và (sử dụng) các vật dụng mà không cần phải thỉnh cầu. Tôi là người nhận được đồ ăn và thức uống. Đây là quả báu của tấm thượng y.
109.
109.
109.
‘‘Satasahassito kappe, yaṃ kammamakariṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, vatthadānassidaṃ phalaṃ.
One hundred thousand aeons ago, when I performed that deed, I have known no bad destination since. This is the fruit of the gift of cloth.
“Cách đây một trăm ngàn kiếp, tôi đã thực hiện nghiệp nào vào khi ấy, (kể từ đó) tôi không hề biết đến khổ cảnh. Đây là quả báu của việc dâng cúng tấm vải.
110.
110.
110.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, the eight liberations, and the six supernormal knowledges have been realized. The Buddha’s teaching has been fulfilled.
“Bốn Tuệ Phân Tích ... (v.v) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā uttareyyadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus, indeed, the venerable elder Uttareyyadāyaka spoke these verses.
Như vậy, quả thực Trưởng lão Uttareyyadāyaka đã nói những câu kệ này.
Uttareyyadāyakattherassāpadānaṃ aṭṭhamaṃ.
The Eighth Apadāna of the Elder Uttareyyadāyaka is finished.
Thiên sự về Trưởng lão Uttareyyadāyaka là phần thứ tám.