Bản dịch
THA -ap339 — Ký Sự về Trưởng Lão Tiṇakuṭidāyaka
Tiṇakuṭidāyakattheraapadāna
BJT 3005Tôi đã là người làm công cho người khác ở thành phố Bandhumatī. Tôi bị vướng bận trong việc quán xuyến công việc của người khác và (sống) lệ thuộc vào vật thực của người khác.
BJT 3006Sau khi đi đến nơi vắng vẻ rồi ngồi xuống, vào lúc ấy tôi đã suy nghĩ như vầy: “Đức Phật đã hiện khởi ở thế gian và hành động hướng thượng của ta là không có.”
BJT 3007Thời điểm để dọn sạch cảnh giới tái sanh, cơ hội đã được sắp xếp cho ta. Việc tiếp xúc với địa ngục là khổ sở cho những chúng sanh thật sự không có phước báu.”
BJT 3008Sau khi suy nghĩ như thế, tôi đã đi đến gặp người chủ công việc. Sau khi yêu cầu về công việc trong một ngày, tôi đã đi vào khu rừng.
BJT 3009Khi ấy, tôi đã mang lại cỏ, cây gỗ, và dây leo. Sau khi dựng lên ba cây gậy, tôi đã thực hiện cái lều bằng cỏ.
BJT 3010Sau khi cúng hiến cái lều nhỏ ấy vì sự lợi ích của Hội Chúng, tôi đã trở về nội trong ngày hôm ấy và đã đi đến gặp người chủ công việc.
BJT 3011Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp, tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi. Do nhờ (quả báu của việc dâng cúng) cái lều nhỏ bằng cỏ, tại nơi ấy có cung điện được kiến tạo khéo léo dành cho tôi đã được hóa hiện ra.
BJT 3012(Cung điện ấy) có một ngàn khu vực, có một trăm quả cầu tròn được trang hoàng với những lá cờ, được làm với màu lục, có một trăm ngàn tháp nhọn đã hiện diện ở cung điện của tôi.
BJT 3013Nơi chốn nào tôi đi tái sanh dầu là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, có tòa lâu đài hiện diện kế bên đúng theo ý định của tôi.
BJT 3014Sự sợ hãi, hoặc trạng thái u mê, hoặc lông rởn ốc là không được biết đến, tôi không biết đến sự run sợ của tôi; điều này là quả báu của cái lều nhỏ bằng cỏ.
BJT 3015Các con sư tử, cọp, báo, gấu, chó sói, linh cẩu, tất cả đều tránh xa tôi; điều này là quả báu của cái lều nhỏ bằng cỏ.
BJT 3016Các loài bò sát và các hạng ma quỷ, các con rắn, các ác thần, và các quỷ sứ, các hạng này cũng tránh xa tôi; điều này là quả báu của cái lều nhỏ bằng cỏ.
BJT 3017Tôi không nhớ tôi có sự nhìn thấy giấc mộng xấu xa (lần nào), niệm của tôi hiện hữu; điều này là quả báu của cái lều nhỏ bằng cỏ.
BJT 3018Chỉ nhờ vào cái lều nhỏ bằng cỏ, tôi thọ hưởng sự thành đạt, tôi đã đắc chứng Giáo Pháp của đức Thế Tôn Gotama.
BJT 3019Kể từ khi tôi đã thực hiện việc làm ấy trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của cái lều nhỏ bằng cỏ.
BJT 3020Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Tiṇakuṭidāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Tiṇakuṭidāyaka là phần thứ bảy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
7. Tiṇakuṭidāyakattheraapadānaṃ
7. The Apadāna of the Elder Tiṇakuṭidāyaka
7. Thiên Thạnh hạnh của Trưởng lão Tiṇakuṭidāyaka (người dâng cúng tịnh xá bằng cỏ).
74.
74.
74.
‘‘Nagare bandhumatiyā, ahosiṃ parakammiko;
Parakammāyane yutto, parabhattaṃ apassito.
In the city of Bandhumatī, I was a hired laborer; engaged in others’ work, dependent on others’ food.
Ở tại thành phố Bandhumatī, tôi đã là người làm thuê; tôi đã chuyên tâm vào việc làm thuê cho người khác, đã nương tựa vào thức ăn của người khác.
75.
75.
75.
‘‘Rahogato nisīditvā, evaṃ cintesahaṃ tadā;
Buddho loke samuppanno, adhikāro ca natthi me.
Having gone to a secluded place and sat down, I thought thus at that time: ‘A Buddha has arisen in the world, and I have no meritorious deed.’
Sau khi đi đến nơi vắng vẻ và ngồi xuống, vào lúc bấy giờ tôi đã suy nghĩ như vầy: ‘Vị Phật đã sanh khởi ở thế gian, và tôi không có sự tạo tác (phước thiện).’
76.
76.
76.
‘‘Kālo me gatiṃ † sodhetuṃ, khaṇo me paṭipādito;
Dukkho nirayasamphasso, apuññānañhi pāṇinaṃ.
‘It is time for me to purify my destination, the opportune moment has been obtained by me; painful is the contact with hell, indeed, for beings who are without merit.’
Đây là thời điểm để tôi thanh lọc cõi tái sanh, khoảnh khắc (thuận lợi) đã được tôi chuẩn bị; sự xúc chạm với địa ngục là đau khổ, quả thật là đối với các chúng sanh không có phước báu.
77.
77.
77.
‘‘Evāhaṃ cintayitvāna, kammasāmiṃ upāgamiṃ;
Ekāhaṃ kammaṃ yācitvā, vipinaṃ pāvisiṃ ahaṃ.
Having thought thus, I approached my employer; having requested a day off from work, I entered the forest.
Sau khi đã suy nghĩ như vậy, tôi đã đi đến gặp người chủ. Sau khi đã xin nghỉ việc một ngày, tôi đã đi vào trong rừng.
78.
78.
78.
‘‘Tiṇakaṭṭhañca valliñca, āharitvānahaṃ tadā;
Tidaṇḍake ṭhapetvāna, akaṃ tiṇakuṭiṃ ahaṃ.
Then, having brought grass, firewood, and vines, and having set up three poles, I made a grass hut.
Vào lúc bấy giờ, sau khi đã mang về cỏ, cây, và dây leo, và sau khi đã dựng lên ba cây cột, tôi đã làm một tịnh xá bằng cỏ.
79.
79.
79.
‘‘Saṅghassatthāya kuṭikaṃ, niyyādetvāna † taṃ ahaṃ;
Tadaheyeva āgantvā, kammasāmiṃ upāgamiṃ.
Having dedicated that small hut for the benefit of the Saṅgha, I, having returned on that very day, approached my employer.
Sau khi đã dâng cúng tịnh xá ấy vì lợi ích của Tăng chúng, tôi đã trở về trong chính ngày hôm ấy và đã đi đến gặp người chủ.
80.
80.
80.
‘‘Tena kammena sukatena, tāvatiṃsamagacchahaṃ;
Tattha me sukataṃ byamhaṃ, kuṭikāya sunimmitaṃ †.
By that well-done deed, I went to Tāvatiṃsa. There, my well-made mansion was beautifully created by means of that small hut.
Do nghiệp đã được khéo làm ấy, tôi đã đi đến cõi trời Ba Mươi Ba; ở nơi ấy, lâu đài của tôi đã được khéo làm, đã được tạo tác xinh đẹp từ tịnh xá (bằng cỏ).
81.
81.
81.
‘‘Sahassakaṇḍaṃ satabheṇḍu, dhajālu haritāmayaṃ;
Satasahassaniyyūhā, byamhe pātubhaviṃsu me.
It had a thousand shafts and a hundred tiers, was adorned with many banners, and made of gold. In my mansion, one hundred thousand pinnacles appeared.
Có một ngàn mũi tên, một trăm tầng lầu, có nhiều cờ phướn, được làm bằng vàng; một trăm ngàn tháp canh đã hiện ra ở lâu đài của tôi.
82.
82.
82.
‘‘Yaṃ yaṃ yonupapajjāmi, devattaṃ atha mānusaṃ;
Mama saṅkappamaññāya, pāsādo upatiṭṭhati.
Whatever existence I am reborn into, whether divine or human, knowing my intention, a palace appears.
Bất cứ loài nào tôi tái sanh vào, dù là cõi trời hay sau đó là cõi người; sau khi biết được ý định của tôi, lâu đài liền hiện ra.
83.
83.
83.
‘‘Bhayaṃ vā chambhitattaṃ vā, lomahaṃso na vijjati;
Tāsaṃ mama na jānāmi, tiṇakuṭikāyidaṃ † phalaṃ.
Fear, or stiffness of the body, or horripilation does not exist for me. I do not know terror. This is the fruit of the grass hut.
Sự sợ hãi, hay sự cứng đờ, hay sự dựng tóc gáy không hiện hữu; tôi không biết đến sự kinh hoàng. Đây là quả của tịnh xá bằng cỏ.
84.
84.
84.
‘‘Sīhabyagghā ca dīpī ca, acchakokataracchakā †;
Sabbe maṃ parivajjenti, tiṇakuṭikāyidaṃ phalaṃ.
Lions, tigers, and leopards, bears and hyenas—all of them avoid me. This is the fruit of the grass hut.
Sư tử, cọp, và beo, gấu và linh cẩu; tất cả chúng đều tránh xa tôi. Đây là quả của tịnh xá bằng cỏ.
85.
85.
85.
‘‘Sarīsapā † ca bhūtā ca, ahī kumbhaṇḍarakkhasā;
Tepi maṃ parivajjenti, tiṇakuṭikāyidaṃ phalaṃ.
Creeping things and non-human beings, snakes, kumbhaṇḍas, and rakkhasas—they too avoid me. This is the fruit of the grass hut.
Các loài bò sát và các loài ma quỷ, các loài rắn, các quỷ cưu-bàn-trà và các quỷ la-sát; cả chúng cũng tránh xa tôi. Đây là quả của tịnh xá bằng cỏ.
86.
86.
86.
‘‘Na pāpasupinassāpi, sarāmi dassanaṃ mama;
Upaṭṭhitā sati mayhaṃ, tiṇakuṭikāyidaṃ phalaṃ.
I do not recall the seeing of a bad dream; my mindfulness is established. This is the fruit of the grass hut.
Tôi không nhớ lại việc đã nhìn thấy dù chỉ là một giấc mộng xấu; chánh niệm của tôi được an trú. Đây là quả của tịnh xá bằng cỏ.
87.
87.
87.
‘‘Tāyeva tiṇakuṭikāya, anubhotvāna sampadā;
Gotamassa bhagavato, dhammaṃ sacchikariṃ ahaṃ.
Because of that very grass hut, having experienced success, I realized the Dhamma of the Blessed One Gotama.
Chỉ do tịnh xá bằng cỏ ấy, sau khi đã hưởng thụ các sự thành tựu, tôi đã chứng ngộ Giáo pháp của đức Thế Tôn Gotama.
88.
88.
88.
‘‘Ekanavutito kappe, yaṃ kammamakariṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, tiṇakuṭikāyidaṃ phalaṃ.
In the ninety-first aeon from this one, when I did that deed, since then I have known no woeful destination. This is the fruit of the grass hut.
Cách đây chín mươi mốt kiếp, vào lúc bấy giờ tôi đã thực hiện nghiệp ấy; (kể từ đó) tôi không hề biết đến khổ cảnh. Đây là quả của tịnh xá bằng cỏ.
89.
89.
89.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, the eight liberations, and the six supernormal knowledges have been realized. The teaching of the Buddha has been fulfilled.
Bốn Tuệ Phân Tích ... (v.v.) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā tiṇakuṭidāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Tiṇakuṭidāyaka spoke these verses.
Như vậy, quả thực Trưởng lão Tiṇakuṭidāyaka đã nói những câu kệ này.
Tiṇakuṭidāyakattherassāpadānaṃ sattamaṃ.
The seventh Apadāna of the Elder Tiṇakuṭidāyaka is finished.
Thiên sự về Trưởng lão Tiṇakuṭidāyaka là phần thứ bảy.