Bản dịch
THA -ap338 — Ký Sự về Trưởng Lão Pabhaṅkara
Pabhaṅkarattheraapadāna
BJT 2984Ngôi bảo tháp của đức Thế Tôn Padumuttara, bậc Trưởng Thượng của thế gian như thế ấy, đã ngự ở trong khu rừng đông đúc thú dữ.
BJT 2985Không người nào đã dám đi đến để đảnh lễ ngôi bảo tháp. Bị bao phủ bởi cỏ, cây cối, và dây leo, ngôi bảo tháp đã bị sụp đổ.
BJT 2986Khi ấy, tôi đã là người thợ rừng theo nghề của cha và ông nội. Tôi đã nhìn thấy ngôi bảo tháp đổ nát, bị chằng chịt bởi cỏ và dây leo ở trong khu rừng.
BJT 2987Sau khi nhìn thấy ngôi bảo tháp của đức Phật, tôi đã thiết lập tâm cung kính rằng: “Đây là ngôi bảo tháp của đức Phật tối thượng, nó đã bị sụp đổ và còn tồn tại ở trong khu rừng.
BJT 2988Thật không đúng đắn, không hợp lẽ đối với người biết được điều phải quấy! Ta hãy dọn sạch ngôi bảo tháp của đức Phật rồi hãy chăm lo công việc khác.”
BJT 2989Sau khi dọn sạch cỏ, cây cối, và dây leo ở ngôi bảo tháp, tôi đã đảnh lễ tám lượt rồi đã cúi mình ra đi.
BJT 2990Do việc làm ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 2991Tại nơi ấy, có cung điện bằng vàng vô cùng rực rỡ đã được kiến tạo khéo léo dành cho tôi, có chiều cao là sáu mươi do-tuần, chiều rộng ba mươi do-tuần.
BJT 2992Tôi đã cai quản Thiên quốc ba trăm lượt. Và tôi đã là đấng Chuyển Luân Vương hai mươi lăm lần.
BJT 2993Trong khi luân hồi ở cõi này cõi khác, tôi đạt được của cải lớn lao, tôi không có sự thiếu hụt về của cải; điều này là quả báu của việc dọn sạch (ngôi bảo tháp).
BJT 2994Khi tôi đang di chuyển bằng kiệu khiêng, bằng lưng voi ở trong khu rừng, bất cứ hướng nào tôi đi đến, khu rừng đều có sự trợ giúp đến tôi.
BJT 2995Được gắn liền với nghiệp phước thiện, gốc cây hoặc thậm chí gai nhọn mà tôi không nhìn thấy bằng mắt, tự chính chúng được dời đi.
BJT 2996Và bệnh cùi, nhọt, chàm, động kinh, ghẻ, lở, ngứa không xảy đến cho tôi; điều này là quả báu của việc dọn sạch (ngôi bảo tháp).
BJT 2997Còn có điều phi thường khác nữa cho tôi khi ngôi bảo tháp đã được dọn sạch là tôi không biết đến khối u mọc lên ở cơ thể của tôi.
BJT 2998Còn có điều phi thường khác nữa cho tôi khi ngôi bảo tháp đã được dọn sạch là tôi luân hồi ở hai cõi, ở bản thể Thiên nhân và loài người.
BJT 2999Còn có điều phi thường khác nữa cho tôi khi ngôi bảo tháp đã được dọn sạch là tôi có màu da vàng chói, có sự phát ra ánh sáng ở khắp mọi nơi.
BJT 3000Còn có điều phi thường khác nữa cho tôi khi ngôi bảo tháp đã được dọn sạch là sự khó chịu biến mất và sự khoan khoái hiện hữu.
BJT 3001Còn có điều phi thường khác nữa cho tôi khi ngôi bảo tháp đã được dọn sạch là tâm tôi được trong sạch, có sự chăm chú, khéo được định tĩnh.
BJT 3002Còn có điều phi thường khác nữa cho tôi khi ngôi bảo tháp đã được dọn sạch là sau khi ngồi ở ngay chỗ ngồi ấy tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán.
BJT 3003Kể từ khi tôi đã thực hiện việc làm ấy trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc làm sạch sẽ.
BJT 3004Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Pabhaṅkara đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
6. Pabhaṅkarattheraapadānaṃ
6. The Apadāna of the Elder Pabhaṅkara
6. Thánh tích của Trưởng lão Pabhaṅkara
53.
53.
53.
‘‘Padumuttarabhagavato, lokajeṭṭhassa tādino;
Vipine cetiyaṃ āsi, vāḷamigasamākule.
Of the Blessed One Padumuttara, foremost in the world, the steadfast one, there was a cetiya in the forest, teeming with wild beasts.
Bảo tháp của đức Thế Tôn Padumuttara, bậc Tối Thượng trong thế gian, bậc có phẩm hạnh Tādi, đã ở trong khu rừng đầy dẫy các loài thú dữ.
54.
54.
54.
‘‘Na koci visahi gantuṃ, cetiyaṃ abhivandituṃ;
Tiṇakaṭṭhalatonaddhaṃ, paluggaṃ āsi cetiyaṃ.
No one dared to go to pay homage to the cetiya. The cetiya was dilapidated, overgrown with grass, wood, and creepers.
Không một ai dám đi để đảnh lễ bảo tháp. Bảo tháp đã bị hư hoại, bị bao phủ bởi cỏ, củi, và dây leo.
55.
55.
55.
‘‘Vanakammiko tadā āsiṃ, pitumātumatenahaṃ †;
Addasaṃ vipine thūpaṃ, luggaṃ tiṇalatākulaṃ.
At that time, my parents having died, I was a forest worker. I saw in the forest a dilapidated stūpa, overgrown with grass and creepers.
Khi ấy, cha mẹ đã qua đời, tôi là người làm việc trong rừng. Tôi đã thấy ngôi tháp ở trong rừng, bị hư hoại, bị bao phủ bởi cỏ và dây leo.
56.
56.
56.
‘‘Disvānāhaṃ buddhathūpaṃ, garucittaṃ upaṭṭhahiṃ;
Buddhaseṭṭhassa thūpoyaṃ, paluggo acchatī vane.
Having seen the Buddha’s stūpa, I established a reverential mind: ‘This stūpa of the foremost Buddha lies ruined in the forest.’
Sau khi thấy ngôi tháp của đức Phật, tâm tôn kính đã khởi lên trong tôi: 'Ngôi tháp này của bậc Tối Thắng Giác Ngộ đang bị hư hoại ở trong rừng'.
57.
57.
57.
‘‘Nacchannaṃ nappatirūpaṃ, jānantassa guṇāguṇaṃ;
Buddhathūpaṃ asodhetvā, aññaṃ kammaṃ payojaye.
For me, who knows merit and demerit, it would not be fitting, not proper, that I should engage in any other work without having first cleaned the Buddha's stūpa.
Đối với người biết được điều có đức hạnh và không có đức hạnh, việc không dọn dẹp ngôi tháp của đức Phật mà lại làm công việc khác là không thích hợp, là không tương xứng.
58.
58.
58.
‘‘Tiṇakaṭṭhañca valliñca, sodhayitvāna cetiye;
Vanditvā aṭṭha vārāni †, paṭikuṭiko agacchahaṃ.
Having cleared the grass, wood, and creepers at the cetiya, and having paid homage eight times, I departed, stepping backwards.
Sau khi dọn dẹp cỏ, củi, và dây leo ở bảo tháp, và sau khi đảnh lễ tám lần, tôi đã đi lui về.
59.
59.
59.
‘‘Tena kammena sukatena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsamagacchahaṃ.
By that well-done deed, and by my intentions and aspirations, having abandoned the human body, I went to Tāvatiṃsa.
Do nhờ vào hành vi đã được thực hiện tốt đẹp ấy, và do nhờ vào các sự tác ý và nguyện vọng, sau khi từ bỏ thân người, tôi đã đi đến cõi trời Ba Mươi Ba.
60.
60.
60.
‘‘Tattha me sukataṃ byamhaṃ, sovaṇṇaṃ sapabhassaraṃ;
Saṭṭhiyojanamubbiddhaṃ, tiṃsayojanavitthataṃ.
There, a celestial mansion was well-made for me, golden and radiant, sixty yojanas high and thirty yojanas wide.
Ở nơi ấy, lâu đài được tạo tác tốt đẹp của tôi bằng vàng, có ánh sáng rực rỡ, cao sáu mươi do-tuần, và rộng ba mươi do-tuần.
61.
61.
61.
‘‘Tisatāni ca vārāni, devarajjamakārayiṃ;
Pañcavīsatikkhattuñca, cakkavattī ahosahaṃ.
For three hundred times I exercised the sovereignty of the devas, and twenty-five times I was a wheel-turning monarch.
Và tôi đã thực hiện vai trò vua của chư Thiên được ba trăm lần, và tôi đã là vị Chuyển Luân vương được hai mươi lăm lần.
62.
62.
62.
‘‘Bhavābhave saṃsaranto, mahābhogaṃ labhāmahaṃ;
Bhoge me ūnatā natthi, sodhanāya idaṃ phalaṃ.
Wandering from one existence to another, I obtain great wealth. There is no deficiency in my enjoyments—this is the fruit of that clearing.
Trong khi luân chuyển ở các kiếp sống, tôi đã nhận được tài sản to lớn. Về tài sản, đối với tôi không có sự thiếu hụt. Đây là quả báu của việc dọn dẹp.
63.
63.
63.
‘‘Sivikā hatthikhandhena, vipine gacchato mama;
Yaṃ yaṃ disāhaṃ gacchāmi, saraṇaṃ sampate † vanaṃ.
For me, traveling in the forest by palanquin or on an elephant's back, in whatever direction I go, the forest becomes a refuge.
Khi tôi đi vào trong rừng, bằng kiệu hay trên lưng voi; bất cứ phương hướng nào tôi đi đến, khu rừng trở thành nơi nương tựa.
64.
64.
64.
‘‘Khāṇuṃ vā kaṇṭakaṃ vāpi, nāhaṃ passāmi cakkhunā;
Puññakammena saṃyutto, sayamevāpanīyare.
I do not see with my eyes any stump or thorn; as I am endowed with meritorious kamma, they are removed by themselves.
Dù là gốc cây hay dù là gai nhọn, tôi cũng không nhìn thấy bằng mắt; do tôi được hợp thành với nghiệp phước thiện, chúng tự động được dời đi.
65.
65.
65.
‘‘Kuṭṭhaṃ gaṇḍo kilāso ca, apamāro vitacchikā;
Daddu kacchu † ca me natthi, sodhanāya idaṃ phalaṃ.
Leprosy, boils, skin disease, epilepsy, scabies, ringworm, and itch—I have none of these. This is the fruit of that clearing.
Bệnh hủi, ung nhọt, và bệnh ngoài da, bệnh động kinh, bệnh ghẻ lở; bệnh hắc lào và bệnh ngứa, tôi không có. Đây là quả của việc dọn dẹp.
66.
66.
66.
‘‘Aññampi me acchariyaṃ, buddhathūpassa sodhane †;
Nābhijānāmi me kāye, jātaṃ piḷakabindukaṃ.
Another wonder occurred for me from cleaning the Buddha’s stūpa: I do not recall even a small pimple ever arising on my body.
Đối với tôi, còn có điều kỳ diệu khác nữa, do việc dọn dẹp bảo tháp của đức Phật; tôi không hề hay biết về một mụn nhọt nhỏ đã sanh ra ở trên thân của tôi.
67.
67.
67.
‘‘Aññampi me acchariyaṃ, buddhathūpamhi sodhite †;
Duve bhave saṃsarāmi, devatte atha mānuse.
Another wonder for me from the Buddha’s stūpa having been cleaned: I wander in only two existences, as a deva or as a human.
Đối với tôi, còn có điều kỳ diệu khác nữa, do bảo tháp của đức Phật đã được dọn dẹp; tôi luân chuyển trong hai cõi hiện hữu: cõi trời và sau đó là cõi người.
68.
68.
68.
‘‘Aññampi me acchariyaṃ, buddhathūpamhi sodhite;
Suvaṇṇavaṇṇo sabbattha, sappabhāso bhavāmahaṃ.
Another wonder occurred for me from the Buddha’s stūpa having been cleaned: in every existence, I am of golden complexion and radiant.
Đối với tôi, còn có điều kỳ diệu khác nữa, do bảo tháp của đức Phật đã được dọn dẹp; ở khắp mọi nơi, tôi trở thành người có màu da vàng ròng, là người có hào quang rực rỡ.
69.
69.
69.
‘‘Aññampi me acchariyaṃ, buddhathūpamhi sodhite;
Amanāpaṃ vivajjati, manāpaṃ upatiṭṭhati.
Another wonder occurred for me from the Buddha’s stūpa having been cleaned: the disagreeable is avoided, and the agreeable is present.
Đối với tôi, còn có điều kỳ diệu khác nữa, do bảo tháp của đức Phật đã được dọn dẹp; điều không vừa ý được tránh xa, điều vừa ý được hiện diện.
70.
70.
70.
‘‘Aññampi me acchariyaṃ, buddhathūpamhi sodhite;
Visuddhaṃ hoti me cittaṃ, ekaggaṃ susamāhitaṃ.
Another wonder for me from the Buddha’s stūpa having been cleaned: my mind becomes pure, unified, and well-composed.
Đối với tôi, còn có điều kỳ diệu khác nữa, do bảo tháp của đức Phật đã được dọn dẹp; tâm của tôi trở nên trong sạch, chuyên nhất, và được khéo định tĩnh.
71.
71.
71.
‘‘Aññampi me acchariyaṃ, buddhathūpamhi sodhite;
Ekāsane nisīditvā, arahattamapāpuṇiṃ.
Another wonder occurred for me from the Buddha’s stūpa having been cleaned: sitting in a single session, I attained Arahantship.
Đối với tôi, còn có điều kỳ diệu khác nữa, do bảo tháp của đức Phật đã được dọn dẹp; sau khi ngồi xuống trong một lần ngồi, tôi đã chứng đạt quả A-la-hán.
72.
72.
72.
‘‘Satasahassito kappe, yaṃ kammamakariṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, sodhanāya idaṃ phalaṃ.
One hundred thousand aeons ago, I performed that deed. Since then, I have not known a woeful state; this is the fruit of that clearing.
Cách đây một trăm ngàn kiếp, vào lúc bấy giờ tôi đã thực hiện nghiệp ấy; (kể từ đó) tôi không hề biết đến khổ cảnh. Đây là quả của việc dọn dẹp.
73.
73.
73.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, the eight liberations, and the six supernormal knowledges have been realized; the Buddha’s teaching has been done.
Bốn Tuệ Phân Tích ... (v.v.) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā pabhaṅkaro thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Pabhaṅkara spoke these verses.
Như vậy, quả thật Trưởng lão Pabhaṅkara khả kính đã nói những câu kệ này.
Pabhaṅkarattherassāpadānaṃ chaṭṭhaṃ.
The sixth Apadāna of the Elder Pabhaṅkara.
Thiên Thạnh hạnh của Trưởng lão Pabhaṅkara là phần thứ sáu.