Bản dịch
THA -ap337 — Ký Sự về Trưởng Lão Phusitakampiya
5 Phusitakampiyattheraapadāna
BJT 2969Lúc bấy giờ, đấng Toàn Giác tên Vipassī, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu, được tùy tùng bởi các bậc Lậu Tận, đã cư ngụ tại tu viện của Hội Chúng.
BJT 2970Rồi đấng Lãnh Đạo Thế Gian Vipassī cùng với tám trăm ngàn bậc Lậu Tận đã đi ra từ cánh cổng tu viện.
BJT 2971Là vị quấn y phục bằng da dê và cũng là vị mặc y phục bằng vỏ cây, tôi đã cầm lấy nước bông hoa kusumbha rồi đã đi đến gần bậc Toàn Giác.
BJT 2972Sau khi đã làm cho tâm của mình được tịnh tín, tràn đầy niềm phấn khởi, tay chắp lên, tôi đã cầm lấy nước bông hoa kusumbha và đã rưới lên đức Phật.
BJT 2973Do việc làm ấy, bậc Toàn Giác tên Padumuttara đã tán dương việc làm của tôi, rồi đã ra đi theo như ý định.
BJT 2974Kể từ khi tôi đã cúng dường năm ngàn giọt (nước), tôi đã (trở thành vị Thiên Vương) cai quản Thiên quốc đúng hai ngàn năm trăm kiếp.
BJT 2975Tôi đã là đấng Chuyển Luân Vương đúng hai ngàn năm trăm kiếp. Với nghiệp còn dư sót, tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán.
BJT 2976Vào lúc tôi là vị Thiên Vương, vào lúc tôi là vị thống lãnh nhân loại, tôi có tên là Phusita, chính tên gọi ấy là thuộc về tôi.
BJT 2977Trong khi là vị Thiên nhân cũng như khi là loài người, mưa đổ xuống như nhỏ giọt ở xung quanh tôi một sải tay.
BJT 2978Các lần tái sanh của tôi đã được tiêu diệt, các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các lậu hoặc đã được đoạn tận; điều này là quả báu của giọt nước.
BJT 2979Mùi thơm tỏa ra từ thân thể của tôi giống như mùi của trầm hương. Mùi thơm của tôi từ cơ thể tỏa ra (khoảng cách) một nửa kosa.
BJT 2980Là người có được nghiệp phước thiện đang tỏa ra hương thơm của cõi trời, mọi người sau khi ngửi được mùi hương biết được là Phusita đã đi đến đây.
BJT 2981Các cành cây, các lá cây, các nhánh cây, và luôn cả toàn bộ các loại cỏ, thuận theo ý định của tôi, có hương thơm được sanh lên trong giây lát.
BJT 2982(Kể từ khi) tôi đã cúng dường trầm hương trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của giọt nước.
BJT 2983Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Phusitakampiya đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
5. Phusitakampiyattheraapadānaṃ
5. The Apadāna of the Elder Phusitakampiya
5. Thạnh đức của trưởng lão Phusitakampiya
‘‘Vipassī nāma †
Vipassī by name,
Bậc Chánh Đẳng Giác tên là Vipassī,
Sambuddho, lokajeṭṭho narāsabho.
the Fully Enlightened One, foremost in the world, a bull among men,
Đức Chánh Biến Tri, bậc tối thượng trong thế gian, bậc tối thắng giữa loài người.
Khīṇāsavehi sahito, saṅghārāme vasī tadā.
accompanied by those who have destroyed the taints, dwelt in the monastery at that time.
Khi ấy, Ngài cùng với các vị lậu tận trú tại tu viện của Tăng đoàn.
‘‘Ārāmadvārā nikkhamma, vipassī † lokanāyako;
Saha satasahassehi, aṭṭha † khīṇāsavehi so.
Having gone out from the monastery gate, he, Vipassī, the world-leader, stood with one hundred thousand whose taints were destroyed.
Đức Vipassī ấy, bậc Lãnh Đạo thế gian, sau khi đi ra từ cổng tu viện, đã đứng lại cùng với một trăm ngàn vị đã tận trừ lậu hoặc.
‘‘Ajinena nivatthohaṃ, vākacīradharopi ca;
Kusumodakamādāya †, sambuddhaṃ upasaṅkamiṃ.
I was clothed in an antelope hide, and also wore bark-cloth garments; taking perfumed water, I approached the Fully Enlightened One.
Tôi mặc y phục bằng da thú và cũng mang y phục bằng vỏ cây; cầm lấy nước thơm tẩm hoa, tôi đã đi đến gần đức Chánh Đẳng Giác.
‘‘Sakaṃ cittaṃ pasādetvā, vedajāto katañjalī;
Kusumodakamādāya, buddhamabbhukkiriṃ ahaṃ.
Having gladdened my own mind, filled with joy, with hands raised in reverence, taking the perfumed water, I sprinkled it upon the Buddha.
Làm cho tâm mình được trong sạch, sanh tâm hoan hỷ và chắp tay lại, tôi đã cầm lấy nước thơm tẩm hoa rồi rảy lên đức Phật.
‘‘Tena kammena sambuddho, jalajuttamanāmako †;
Mama kammaṃ pakittetvā, agamā yena patthitaṃ.
Because of that deed, the Fully Enlightened One, named Foremost of the Water-Born, having praised my deed, went where he wished.
Do nghiệp ấy, đức Chánh Đẳng Giác có tên là Bông Sen Tối Thượng, sau khi tán dương nghiệp của tôi, đã đi đến nơi mà ngài mong muốn.
‘‘Phusitā pañcasahassā, yehi pūjesahaṃ jinaṃ;
Aḍḍhateyyasahassehi, devarajjaṃ akārayiṃ.
There were five thousand sprinklings with which I honored the Victor; for two and a half thousand of them, I exercised divine kingship.
Có năm ngàn giọt nước thơm, với những giọt ấy tôi đã cúng dường bậc Toàn Giác. Tương đương với hai ngàn năm trăm giọt, tôi đã làm vua của chư thiên.
‘‘Aḍḍhateyyasahassehi, cakkavattī ahosahaṃ;
Avasesena kammena, arahattamapāpuṇiṃ.
For two and a half thousand of them, I was a wheel-turning monarch; by the remaining kamma, I attained arahantship.
Tương đương với hai ngàn năm trăm giọt, tôi đã trở thành Chuyển Luân Vương. Do nghiệp còn lại, tôi đã chứng đắc quả A-la-hán.
‘‘Devarājā yadā homi †, manujādhipatī yadā †;
Tameva nāmadheyyaṃ me, phusito nāma homahaṃ.
When I was king of devas, when I was lord of humans, that very name was mine; I was named Phusita.
Khi tôi là vua của chư thiên, khi là vua của loài người, tên của tôi chính là tên ấy, tôi có tên là Phusita.
‘‘Devabhūtassa santassa, athāpi mānusassa vā;
Samantā byāmato mayhaṃ, phusitaṃva pavassati.
Whether I was a deva or a human, a sprinkling of perfume would rain down all around me for a fathom.
Khi là một vị trời, hoặc là một con người, xung quanh tôi trong phạm vi một sải tay, mưa các giọt nước thơm luôn tuôn xuống.
‘‘Bhavā ugghāṭitā mayhaṃ, kilesā jhāpitā mama;
Sabbāsavaparikkhīṇo, phusitassa idaṃ phalaṃ.
My existences have been uprooted, my defilements are burned; I am one whose taints are all destroyed. This is the fruit of that sprinkling.
Các hữu của tôi đã được nhổ lên, các phiền não của tôi đã được thiêu đốt. Tôi đã tận trừ tất cả lậu hoặc. Đây là quả của việc cúng dường các giọt nước thơm.
‘‘Candanasseva me kāyā, tathā gandho pavāyati;
Sarīrato mama gandho, aḍḍhakose pavāyati.
From my body, just like from sandalwood, a fragrance wafts; from my body, the fragrance wafts for half a kosa.
Từ thân của tôi, hương thơm tỏa ra giống như của gỗ chiên-đàn. Hương thơm từ thân thể của tôi tỏa ra xa nửa do-tuần.
‘‘Dibbagandhaṃ sampavantaṃ, puññakammasamaṅginaṃ;
Gandhaṃ ghatvāna jānanti, phusito āgato idha.
Having smelled the divine fragrance wafting from the one endowed with meritorious deeds, they know: ‘Phusita has come here.’
Sau khi ngửi mùi hương, họ biết rằng: 'Phusita, người có phước nghiệp, đang tỏa ra hương thơm của chư thiên, đã đến đây'.
‘‘Sākhāpalāsakaṭṭhāni, tiṇānipi ca sabbaso;
Mama saṅkappamaññāya, gandho sampajjate khaṇe.
Branches, leaves, wood, and all kinds of grass, knowing my intention, a fragrance instantly arises.
Cành cây, lá cây, và củi, và tất cả các loại cỏ, sau khi biết được ý nghĩ của tôi, hương thơm liền phát sanh trong khoảnh khắc.