Bản dịch
THA -ap336 — Ký Sự về Trưởng Lão Ekadussadāyaka
Ekadussadāyakattheraapadāna
BJT 2949Tôi đã là người gánh cỏ ở thành phố Haṁsavatī. Tôi sinh sống bằng việc gánh cỏ. Nhờ thế, tôi nuôi dưỡng các đứa trẻ.
BJT 2950Đấng Chiến Thắng tên Padumuttara là bậc thông suốt về tất cả các pháp. Sau khi xua đi điều tăm tối ấy, đấng Lãnh Đạo Thế Gian đã hiện khởi.
BJT 2951Sau khi ngồi xuống ở căn nhà của mình, vào lúc ấy tôi đã suy nghĩ như vầy: “Đức Phật đã hiện khởi ở thế gian, và vật xứng đáng để dâng cúng thì ta không có.
BJT 2952Đây là tấm vải choàng duy nhất của ta. Ta không có người thí chủ nào. Việc tiếp xúc với địa ngục là khổ sở. Ta sẽ ươm trồng vật cúng dường.”
BJT 2953Sau khi suy nghĩ như thế, tôi đã làm cho tâm của mình được tịnh tín. Tôi đã cầm lấy tấm vải độc nhất và đã dâng cúng đến đức Phật tối thượng.
BJT 2954Sau khi dâng cúng tấm vải độc nhất, tôi đã nói lớn tiếng rằng: “Bạch đấng Anh Hùng, bậc Đại Hiền Trí, nếu Ngài là vị Phật xin Ngài hãy giúp con vượt qua.”
BJT 2955Đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, trong khi tán dương vật dâng cúng của tôi, đã nói lời tùy hỷ với tôi rằng:
BJT 2956“Do tấm vải độc nhất này và do các nguyện lực của tác ý, (người này) không đi đến đọa xứ trong một trăm ngàn kiếp.
BJT 2957(Người này) sẽ là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc ba mươi sáu lần và sẽ là đấng Chuyển Luân Vương ba mươi ba lần.
BJT 2958Lãnh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm. Trong khi luân hồi ngươi sẽ hiện hữu ở thế giới chư Thiên hoặc ở loài người.
BJT 2959Có sắc đẹp, hội đủ đức hạnh, có thân hình không bị kém sút, ngươi sẽ đạt được vải vóc không bị suy suyển, không thể ước lượng, theo như ước muốn.”
BJT 2960Sau khi nói điều này, bậc Toàn Giác tên Padumuttara, bậc Trí Tuệ, đã bay lên không trung như là chim thiên nga chúa ở trên bầu trời.
BJT 2961Nơi chốn nào tôi đi tái sanh dầu là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, tôi không có sự thiếu hụt về của cải; điều này là quả báu của một tấm vải.
BJT 2962Vải vóc hiện ra cho tôi theo mỗi lần giở lên của bước chân. Tôi đứng trên tấm vải ở bên dưới, có tấm che ở phía trên cho tôi.
BJT 2963Và trong ngày hôm nay, nếu muốn tôi có thể che phủ bằng các loại vải vóc đối với bầu vũ trụ, luôn cả rừng rậm cùng với núi non.
BJT 2964Nhờ vào chỉ một tấm vải ấy, trong khi luân hồi ở cõi này cõi khác tôi có được màu da vàng chói, rồi tôi luân hồi ở cõi này cõi khác.
BJT 2965Quả thành tựu của một tấm vải đã không đi đến sự hư hoại ở bất cứ nơi đâu. Đây là lần sanh sau cùng của tôi, (quả thành tựu ấy) được chín muồi cho tôi ở ngay cả nơi đây.
BJT 2966Kể từ khi tôi đã dâng cúng tấm vải trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của một tấm vải.
BJT 2967Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 2968Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Ekadussadāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
4. Ekadussadāyakattheraapadānaṃ
4. The Apadāna of the Elder Ekadussadāyaka
4. Thạnh đức của trưởng lão Ekadussadāyaka
19.
19.
19.
‘‘Nagare haṃsavatiyā, ahosiṃ tiṇahārako;
Tiṇahārena jīvāmi, tena posemi dārake.
In the city of Haṃsavatī, I was a grass-carrier. I made my living by carrying grass, and with that I supported my wife and children.
“Tại thành phố Haṃsavatī, ta là người gánh cỏ. Ta sinh sống bằng việc gánh cỏ, và nhờ đó ta nuôi dưỡng con cái.”
20.
20.
20.
‘‘Padumuttaro nāma jino, sabbadhammāna pāragū;
Tamandhakāraṃ nāsetvā, uppajji lokanāyako.
The Victor named Padumuttara, who had gone to the far shore of all phenomena, having dispelled that darkness, arose as the Leader of the World.
“Bậc Toàn Giác tên là Padumuttara, bậc đã đi đến bờ kia của tất cả các pháp, bậc Lãnh Đạo thế gian, sau khi đã phá tan bóng tối ấy, đã xuất hiện.”
21.
21.
21.
‘‘Sake ghare nisīditvā, evaṃ cintesahaṃ tadā;
‘Buddho loke samuppanno, deyyadhammo ca natthi me.
Sitting in my own house, I thought thus at that time: ‘A Buddha has arisen in the world, but I have no gift to give.’
“Vào lúc ấy, trong khi đang ngồi ở nhà của mình, ta đã suy nghĩ như vầy: ‘Đức Phật đã xuất hiện ở thế gian, và ta lại không có vật gì để dâng cúng.’”
22.
22.
22.
‘‘‘Idaṃ me sāṭakaṃ ekaṃ, natthi me koci dāyako;
Dukkho nirayasamphasso, ropayissāmi dakkhiṇaṃ’.
‘This is my one and only cloth; there is no donor for me. Painful is the contact with hell—I will plant a worthy offering.’
“‘Ta chỉ có một tấm vải này, ta không có người nào cho cả. Sự xúc chạm của địa ngục là đau khổ, ta sẽ gieo trồng vật xứng đáng được dâng cúng.’”
23.
23.
23.
‘‘Evāhaṃ cintayitvāna, sakaṃ cittaṃ pasādayiṃ;
Ekaṃ dussaṃ gahetvāna, buddhaseṭṭhassadāsahaṃ.
Having thought thus, I gladdened my own mind; taking my single cloth, I gave it to the Supreme Buddha.
“Sau khi đã suy nghĩ như vậy, ta đã làm cho tâm của mình được trong sạch. Sau khi đã lấy tấm vải duy nhất, ta đã dâng cúng đến bậc Tối Thắng là đức Phật.”
24.
24.
24.
‘‘Ekaṃ dussaṃ daditvāna, ukkuṭṭhiṃ sampavattayiṃ;
Yadi buddho tuvaṃ vīra, tārehi maṃ mahāmuni.
Having given the single cloth, I raised a cry of acclamation: ‘If you are the Buddha, O Hero, O Great Sage, then save me!’
“Sau khi đã dâng cúng tấm vải duy nhất, ta đã cất lên tiếng reo hò: ‘Này bậc Anh Hùng, này bậc Đại Mâu-ni, nếu Ngài là đức Phật, xin hãy cứu vớt con.’”
25.
25.
25.
‘‘Padumuttaro lokavidū, āhutīnaṃ paṭiggaho;
Mama dānaṃ pakittento, akā me anumodanaṃ.
Padumuttara, the Knower of the World, the Recipient of Offerings, praising my gift, gave me a blessing of appreciation.
“Đức Padumuttara, bậc Thông Suốt Thế Gian, bậc Xứng Đáng Thọ Lãnh các vật dâng cúng, trong khi tán dương sự bố thí của ta, đã tùy hỷ cho ta.”
26.
26.
26.
‘‘‘Iminā ekadussena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Kappasatasahassāni, vinipātaṃ na gacchati.
‘By this offering of a single cloth, and by your intentions and aspirations, for a hundred thousand aeons, you will not go to a state of woe.’
“‘Do tấm vải duy nhất này, và do các tác ý và nguyện vọng, trong một trăm ngàn kiếp, người này sẽ không đi đến đọa xứ.’”
27.
27.
27.
‘‘‘Chattiṃsakkhattuṃ devindo, devarajjaṃ karissati;
Tettiṃsakkhattuṃ rājā ca, cakkavattī bhavissati;
Padesarajjaṃ vipulaṃ, gaṇanāto asaṅkhiyaṃ.
‘Thirty-six times you will become the lord of devas and rule the deva kingdom; and thirty-three times you will be a wheel-turning king. Your vast regional kingship will be innumerable by count.’
“‘Ba mươi sáu lần, người này sẽ làm vua cõi trời, sẽ trị vì vương quốc của chư thiên. Và ba mươi ba lần, người này sẽ là vị vua Chuyển Luân. Vương quốc rộng lớn ở các địa phương thì không thể đếm được.’”
28.
28.
28.
‘‘‘Devaloke manusse vā, saṃsaranto tuvaṃ bhave;
Rūpavā guṇasampanno, anavakkantadehavā;
Akkhobhaṃ amitaṃ dussaṃ, labhissasi yadicchakaṃ’.
‘Wandering in existence, whether in the world of devas or of humans, you will be handsome, endowed with virtue, and have an upright body. You will obtain unassailable and immeasurable cloth, just as you wish.’
“‘Trong khi ngươi đang luân hồi trong các kiếp sống, ở cõi trời hoặc ở cõi người, ngươi sẽ có sắc đẹp, có đầy đủ đức hạnh, có thân hình không cong vẹo. Ngươi sẽ nhận được tấm vải không thể lay chuyển, vô lượng, theo như ý muốn.’”
29.
29.
29.
‘‘Idaṃ vatvāna sambuddho, jalajuttamanāmako;
Nabhaṃ abbhuggamī dhīro, haṃsarājāva ambare.
Having said this, the Fully Enlightened One, named Foremost of the Water-Born, the Steadfast One, rose into the sky, like a king of swans in the firmament.
“Sau khi đã nói lên điều này, bậc Chánh Đẳng Giác, có tên là Jalajuttama, bậc Kiên Định, đã bay lên không trung giống như vua thiên nga ở trên bầu trời.”
30.
30.
30.
‘‘Yaṃ yaṃ yonupapajjāmi, devattaṃ atha mānusaṃ;
Bhoge me ūnatā natthi, ekadussassidaṃ phalaṃ.
Whatever existence I am reborn into, whether divine or human, there is no deficiency in my possessions; this is the fruit of a single cloth.
“Bất cứ cảnh giới nào mà ta tái sanh vào, hoặc là thân chư thiên hoặc là thân con người, tài sản của ta không hề bị thiếu hụt. Đây là quả báu của tấm vải duy nhất.”
31.
31.
31.
‘‘Paduddhāre paduddhāre, dussaṃ nibbattate mamaṃ;
Heṭṭhā dussamhi tiṭṭhāmi, upari chadanaṃ mama.
At every lifting of my foot, a cloth is produced for me; I stand upon a cloth below, and above is my canopy.
“Mỗi khi nhấc chân lên, mỗi khi nhấc chân lên, tấm vải hiện ra cho ta. Ta đứng trên tấm vải ở bên dưới, ở bên trên là tấm lọng che của ta.”
32.
32.
32.
‘‘Cakkavāḷamupādāya, sakānanaṃ sapabbataṃ;
Icchamāno cahaṃ ajja, dussehi chādayeyyahaṃ.
The entire world-system, including its forests and mountains—if I wished, today I could cover it with cloths.
“Nếu hôm nay ta muốn, ta có thể dùng các tấm vải để che phủ thế giới, bao gồm các khu rừng và các ngọn núi.”
33.
33.
33.
‘‘Teneva ekadussena, saṃsaranto bhavābhave;
Suvaṇṇavaṇṇo hutvāna, saṃsarāmi bhavābhave.
By that single cloth, wandering through existence after existence, having become golden-hued, I wander through existence after existence.
“Chỉ do tấm vải duy nhất ấy, trong khi luân hồi trong các kiếp sống, sau khi đã có màu da vàng ròng, ta luân hồi trong các kiếp sống.”
34.
34.
34.
‘‘Vipākaṃ ekadussassa, najjhagaṃ katthacikkhayaṃ;
Ayaṃ me antimā jāti, vipaccati idhāpi me.
I have not found the exhaustion of the result of the single cloth anywhere. This is my last birth, and its result ripens for me even here.
“Ta đã không tìm thấy ở đâu sự cạn kiệt quả báu của tấm vải duy nhất. Đây là kiếp sống cuối cùng của ta, và quả báu ấy cũng trổ cho ta ở đây.”
35.
35.
35.
‘‘Satasahassito kappe, yaṃ dussamadadiṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, ekadussassidaṃ phalaṃ.
One hundred thousand aeons ago, when I gave that cloth, I have known no woeful state; this is the fruit of a single cloth.
“Cách nay một trăm ngàn kiếp, vào lúc ấy ta đã dâng cúng tấm vải nào, ta không hề biết đến khổ cảnh. Đây là quả báu của tấm vải duy nhất.”
36.
36.
36.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ, bhavā sabbe samūhatā;
Nāgova bandhanaṃ chetvā, viharāmi anāsavo.
My defilements are burned, all existences are uprooted. Like an elephant that has broken its bonds, I dwell without taints.
“Các phiền não của ta đã được đốt cháy, tất cả các kiếp sống đã được nhổ sạch. Giống như con voi đực đã bẻ gãy các xiềng xích, ta sống không còn các lậu hoặc.”
37.
37.
37.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges… the Buddha's teaching has been done.
“Bốn Tuệ Phân Tích ... (v.v.) ... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā ekadussadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the venerable elder Ekadussadāyaka spoke these verses.
Như vậy, quả thật trưởng lão Ekadussadāyaka đã nói những câu kệ này.
Ekadussadāyakattherassāpadānaṃ catutthaṃ.
The fourth Apadāna of the Elder Ekadussadāyaka.
Phần Thạnh đức của trưởng lão Ekadussadāyaka, chương thứ tư.