Bản dịch
THA -ap335 — Ký Sự về Trưởng Lão Punnāgapupphiya
Punnāgapupphiyattheraapadāna
BJT 2944Sau khi đã đi sâu vào khu rừng rậm, tôi sinh sống, là người thợ săn. Sau khi nhìn thấy cây punnāga đã được trổ hoa, tôi đã tưởng nhớ đến đức Phật tối thượng.
BJT 2945Tôi đã thu nhặt bông hoa xinh đẹp tỏa hương thơm ngào ngạt ấy. Sau khi thực hiện ngôi bảo tháp ở trên cát, tôi đã dâng (bông hoa) lên đức Phật.
BJT 2946(Kể từ khi) tôi đã cúng dường bông hoa trước đây chín mươi hai kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 2947(Trước đây) chín mươi mốt kiếp, tôi đã là vị Tamonuda độc nhất, là đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 2948Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Punnāgapupphiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Punnāgapupphiya là phần thứ ba.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
3. Punnāgapupphiyattheraapadānaṃ
3. The Apadāna of the Elder Punnāgapupphiya
3. Thánh tích của Trưởng lão Punnāgapupphiya
14.
14.
14.
‘‘Kānanaṃ vanamogayha, vasāmi luddako ahaṃ;
Punnāgaṃ pupphitaṃ disvā, buddhaseṭṭhaṃ anussariṃ.
Having entered the resounding forest, I lived as a hunter; seeing a blossoming punnāga tree, I recollected the Supreme Buddha.
“Ta đã đi vào khu rừng rậm, sống bằng nghề thợ săn. Khi nhìn thấy cây punnāga đang trổ hoa, ta đã tưởng nhớ đến bậc Tối Thắng là đức Phật.”
15.
15.
15.
‘‘Taṃ pupphaṃ ocinitvāna, sugandhaṃ gandhitaṃ subhaṃ;
Thūpaṃ katvāna puline, buddhassa abhiropayiṃ.
Having plucked that flower, I strung a fragrant and beautiful garland; having made a stupa on the sand, I offered it to the Buddha.
“Ta đã hái đóa hoa ấy, thơm ngát và xinh đẹp. Sau khi đã làm ngôi tháp bằng cát ở bãi cát, ta đã dâng cúng lên đức Phật.”
16.
16.
16.
‘‘Dvenavute ito kappe, yaṃ pupphamabhipūjayiṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Ninety-two aeons ago from this one, I offered that flower in worship; since then, I know of no woeful state. This is the fruit of worshipping the Buddha.
“Cách nay chín mươi hai kiếp, kể từ kiếp này, do ta đã cúng dường đóa hoa ấy nên ta không hề biết đến khổ cảnh. Đây là quả báu của việc cúng dường lên đức Phật.”
17.
17.
17.
‘‘Ekamhi navute kappe, eko āsiṃ tamonudo;
Sattaratanasampanno, cakkavattī mahabbalo.
In the ninety-first aeon from this one, I was once a monarch named Tamonuda, a wheel-turning monarch of great power, endowed with the seven jewels.
“Vào kiếp thứ chín mươi mốt, ta là vị vua tên Tamonuda, một vị Chuyển Luân Vương có đầy đủ bảy báu và có đại oai lực.”
18.
18.
18.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges… the teaching of the Buddha has been fulfilled.
“Bốn Tuệ Phân Tích ... (v.v.) ... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā punnāgapupphiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the venerable Elder Punnāgapupphiya spoke these verses.
Như vậy, quả thật trưởng lão Punnāgapupphiya đã nói những câu kệ này.
Punnāgapupphiyattherassāpadānaṃ tatiyaṃ.
The third Apadāna of the Elder Punnāgapupphiya.
Phần Thạnh đức của trưởng lão Punnāgapupphiya, chương thứ ba.