Bản dịch
THA -ap332 — Ký Sự về Trưởng Lão Saparivārachattadāyaka
Saparivārachattadāyakattheraapadāna
BJT 2907Đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, làm mưa cơn mưa Giáo Pháp, tợ như nước mưa tuôn ở bầu trời.
BJT 2908Tôi đã nhìn thấy bậc Toàn Giác ấy đang thuyết giảng về vị thế Bất Tử. Sau khi làm cho tâm của mình được tịnh tín, tôi đã đi về nhà của mình.
BJT 2909Tôi đã cầm lấy chiếc lọng che đã được tô điểm, và đã đi đến gặp bậc Tối Thượng Nhân. Tôi đã trở nên mừng rỡ, với tâm mừng rỡ tôi đã ném (chiếc lọng) lên không trung.
BJT 2910Tợ như chiếc xe kéo đã được khéo điều khiển, tợ như vị đứng đầu các bậc Thinh Văn đã được huấn luyện, (chiếc lọng che) đã tiến đến gần đấng Toàn Giác và đã đứng yên ở trên đỉnh đầu.
BJT 2911Bậc Thương Tưởng, đấng Bi Mẫn, đức Phật, đấng Lãnh Đạo cao cả của thế gian đã ngồi xuống ở Hội Chúng tỳ khưu và đã nói lên những lời kệ này:
BJT 2912“Chiếc lọng che đã được tô điểm làm thích ý này đã được dâng cúng bởi người nào, do sự tịnh tín ấy ở trong tâm người ấy không đi đến khổ cảnh.
BJT 2913Người ấy sẽ cai quản Thiên quốc ở giữa chư Thiên bảy lần, và sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương ba mươi hai lần.
BJT 2914Vào một trăm ngàn kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 2915Là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, (người ấy) sẽ biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc và sẽ Niết Bàn không còn lậu hoặc.”
BJT 2916Hiểu được lời nói hùng tráng đã được thốt lên là ngôn từ của đức Phật, với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã khởi lên niềm vui dào dạt.
BJT 2917Sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đã ngự đến sanh chủng Thiên nhân. Có tòa lâu đài tối thượng làm thích ý đã được sanh lên cho tôi.
BJT 2918Trong khi (tôi) rời khỏi cung điện, có chiếc lọng che màu trắng đã được cầm giữ (che cho tôi). Khi ấy tôi đã đạt được sự tưởng nhớ lại; điều này là quả báu của nghiệp quá khứ.
BJT 2919Sau khi mệnh chung từ thế giới chư Thiên, tôi đã đi đến bản thể nhân loại. Trước đây bảy trăm kiếp, tôi đã trở thành đấng Chuyển Luân Vương ba mươi sáu lần.
BJT 2920Sau khi chết đi lìa bỏ thân ấy, tôi đã đi đến thành phố chư Thiên. Sau khi tuần tự luân hồi, tôi đã quay trở lại cuộc sống nhân loại.
BJT 2921Trong khi tôi hạ sanh vào bụng mẹ, có những người đã nắm giữ chiếc lọng màu trắng (che cho tôi). Được bảy tuổi tính từ khi sanh, tôi đã xuất gia vào đời sống không gia đình.
BJT 2922Vị Bà-la-môn tên Sunanda là thông thạo về chú thuật. Vị ấy đã cầm lấy chiếc lọng che bằng pha-lê và đã dâng cúng đến vị Tối Thượng Thinh Văn.
BJT 2923Bậc đại anh hùng, nhà thuyết giảng vĩ đại Sāriputta đã nói lời tùy hỷ. Sau khi lắng nghe lời tùy hỷ của vị ấy, tôi đã tưởng nhớ lại nghiệp quá khứ.
BJT 2924Tôi đã chắp tay lên và đã làm cho tâm của mình được tịnh tín. Sau khi nhớ lại nghiệp quá khứ, tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán
BJT 2925Sau khi từ chỗ ngồi đứng dậy, tôi đã chắp tay lên ở đầu. Tôi đã đảnh lễ bậc Toàn Giác và đã thốt lên lời nói này:
BJT 2926Trước đây một trăm ngàn kiếp, đức Phật, bậc Vô Thượng ở thế gian, đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara là vị thọ nhận các vật hiến cúng.
BJT 2927Tôi đã dâng cúng chiếc lọng che đã được tô điểm có nhiều màu sắc đến Ngài. Đấng Tự Chủ, nhân vật cao cả, đã nhận lấy bằng hai tay.
BJT 2928Ôi đức Phật! Ôi Giáo Pháp! Ôi sự thành tựu của bậc Đạo Sư của chúng ta! Do sự dâng cúng một chiếc lọng che, tôi đã không đi đến chốn khổ đau.
BJT 2929Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 2930Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Saparivārachattadāyaka đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Saparivārachattadāyaka là phần thứ 10.
Phần Tóm Lược:
Bông hoa ummā, (vị cúng dường) cát, nụ cười, vật tế lễ, vật báo hiệu, vị ngợi ca (về sự cúng dường vật thực), vị có bông hoa nigguṇḍī, bông hoa nhài, vị có chiếc lọng che bằng bông hoa, vị có chiếc lọng che và các vật phụ thuộc, (tổng cộng) có hơn một trăm lẻ bảy câu kệ.
Phẩm Ummāpupphiya là phẩm thứ ba mươi ba.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
10. Saparivārachattadāyakattheraapadānaṃ
10. The Apadāna of the Elder Saparivārachattadāyaka (Giver of a Parasol with Retinue)
10. Phẩm truyện về Trưởng lão Saparivārachattadāyaka
82.
82.
82.
‘‘Padumuttaro lokavidū, āhutīnaṃ paṭiggaho;
Ākāse jalavuṭṭhīva vassate † dhammavuṭṭhiyā.
Padumuttara, the knower of the world, the worthy recipient of offerings, rained with the rain of Dhamma, like a shower of water in the sky.
Đức Phật Padumuttara, bậc Thông Suốt Thế Gian, bậc xứng đáng thọ nhận các vật cúng dường, đã làm rơi cơn mưa Pháp giống như cơn mưa nước ở trên hư không.
83.
83.
83.
‘‘Tamaddasāsiṃ sambuddhaṃ, desentaṃ amataṃ padaṃ;
Sakaṃ cittaṃ pasādetvā, agamāsiṃ sakaṃ gharaṃ.
I saw that Sambuddha teaching the deathless state; having made my own mind serene, I went to my own home.
Tôi đã nhìn thấy bậc Chánh Đẳng Giác ấy đang thuyết giảng về cảnh giới bất tử. Sau khi làm cho tâm của mình được tịnh tín, tôi đã đi về nhà của mình.
84.
84.
84.
‘‘Chattaṃ alaṅkataṃ gayha, upagacchiṃ naruttamaṃ;
Haṭṭho haṭṭhena cittena, ākāse ukkhipiṃ ahaṃ.
Taking an adorned parasol, I approached the best of men; delighted, with a joyful mind, I tossed it up into the sky.
Sau khi cầm lấy chiếc lọng đã được trang hoàng, tôi đã đi đến gần bậc Tối Thượng Nhân. Tôi, người hoan hỷ, với tâm hoan hỷ đã tung (chiếc lọng) lên hư không.
85.
85.
85.
‘‘Susaṅgahitayānaṃva, dantova sāvakuttamo;
Upagantvāna sambuddhaṃ, matthake sampatiṭṭhahi.
Like a well-driven vehicle, like a tamed and foremost disciple, it approached the Sambuddha and became well-established upon his head.
Giống như cỗ xe được điều khiển tốt, giống như vị Thinh Văn tối thượng đã được nhiếp phục, (chiếc lọng) sau khi đi đến gần bậc Chánh Đẳng Giác đã an vị ở trên đỉnh đầu.
86.
86.
86.
‘‘Anukampako kāruṇiko, buddho lokagganāyako;
Bhikkhusaṅghe nisīditvā, imā gāthā abhāsatha.
The compassionate, kind Buddha, the supreme leader of the world, sitting in the midst of the Sangha of monks, spoke these verses.
Đức Phật, bậc Bi Mẫn, bậc Từ Bi, vị Lãnh Đạo Tối Thượng của thế gian, sau khi ngồi xuống giữa chúng Tăng Tỳ-khưu đã nói lên những câu kệ này:
87.
87.
87.
‘‘‘Yena chattamidaṃ dinnaṃ, alaṅkataṃ manoramaṃ;
Tena cittappasādena, duggatiṃ so na gacchati.
‘By whom this adorned, delightful parasol was given, through that serenity of mind, he does not go to a woeful state.’
‘Bởi người nào mà chiếc lọng này, được trang hoàng, khả ái, đã được dâng cúng; do nhờ sự tịnh tín của tâm ấy, người ấy không đi đến khổ cảnh.
88.
88.
88.
‘‘‘Sattakkhattuñca devesu, devarajjaṃ karissati;
Bāttiṃsakkhattuñca rājā, cakkavattī bhavissati.
‘Seven times among the gods, he will exercise the sovereignty of the gods; and thirty-two times he will be a king, a wheel-turning monarch.’
‘Và bảy lần, người ấy sẽ làm vua chư Thiên ở cõi trời; và ba mươi hai lần, người ấy sẽ là vị vua Chuyển Luân Vương.
89.
89.
89.
‘‘‘Kappasatasahassamhi, okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena, satthā loke bhavissati.
‘In a hundred thousand aeons, born of the Okkāka clan, a Teacher will be in the world, named Gotama by clan.’
‘Vào một trăm ngàn kiếp (kể từ nay), bậc Đạo Sư sanh ra trong dòng dõi Okkāka, có tên là Gotama theo gia tộc, sẽ có mặt ở thế gian.
90.
90.
90.
‘‘‘Tassa dhammesu dāyādo, oraso dhammanimmito;
Sabbāsave pariññāya, nibbāyissatināsavo’.
‘He will be an heir in his Dhamma, a true son, created by the Dhamma; having fully comprehended all taints, he will attain Parinibbāna, free from taints.’
‘(Người ấy) sẽ là người thừa tự trong các Pháp của vị ấy, là người con trai được sanh ra từ miệng, được tạo ra bởi Pháp. Sau khi liễu tri tất cả các lậu hoặc, người ấy sẽ tịch diệt Niết-bàn, là bậc vô lậu.’
91.
91.
91.
‘‘Buddhassa giramaññāya, vācāsabhimudīritaṃ;
Pasannacitto sumano, bhiyyo hāsaṃ janesahaṃ.
Knowing the Buddha's voice, the excellent speech he uttered, with a serene and joyful mind, I generated even more delight.
Sau khi hiểu được lời nói của đức Phật, lời nói đã được thốt lên một cách tốt đẹp, tôi có tâm tịnh tín, có ý vui mừng, đã làm phát sanh sự hân hoan còn nhiều hơn nữa.
92.
92.
92.
‘‘Jahitvā mānusaṃ yoniṃ, dibbaṃ yoniṃ † majjhagaṃ;
Vimānamuttamaṃ mayhaṃ, abbhuggataṃ manoramaṃ.
Having abandoned the human state, I reached a divine state; my mansion was supreme, lofty, and delightful.
Sau khi từ bỏ thai sanh của loài người, tôi đã đạt được thai sanh ở cõi trời. Lâu đài của tôi là cao quý, vươn lên cao, và khả ái.
93.
93.
93.
‘‘Vimānā nikkhamantassa, setacchattaṃ dharīyati;
Tadā saññaṃ paṭilabhiṃ, pubbakammassidaṃ phalaṃ.
As I was departing from the celestial mansion, a white parasol was held over me; then I gained the recognition that this is the fruit of a past deed.
Đối với tôi đang đi ra khỏi lâu đài, chiếc lọng trắng được che. Khi ấy, tôi đã có được sự tưởng nhớ rằng: ‘Đây là quả báu của nghiệp quá khứ.’
94.
94.
94.
‘‘Devalokā cavitvāna, manussattañca āgamiṃ;
Chattiṃsakkhattuṃ cakkavattī, sattakappasatamhito.
Having passed away from the world of the devas, I came to the human state; within seven hundred eons from this one, I was a wheel-turning monarch thirty-six times.
Sau khi mệnh chung từ thế giới chư Thiên, tôi đã đi đến trạng thái làm người. Ba mươi sáu lần tôi là Chuyển Luân Vương trong bảy trăm kiếp kể từ đây.
95.
95.
95.
‘‘Tamhā kāyā cavitvāna, āgacchiṃ † tidasaṃ puraṃ;
Saṃsaritvānupubbena, mānusaṃ punarāgamiṃ.
Passing away from that body, I came to the city of the Thirty-three; having wandered on in succession, I came again to the human state.
Sau khi mệnh chung từ thân ấy, tôi đã đi đến thành phố của chư Thiên Ba Mươi. Sau khi luân hồi theo thứ tự, tôi đã trở lại cõi người một lần nữa.
96.
96.
96.
‘‘Okkantaṃ mātukucchiṃ maṃ, settacchattaṃ adhārayuṃ;
Jātiyā sattavassohaṃ, pabbajiṃ anagāriyaṃ.
When I had entered my mother's womb, they held a white parasol over me; being seven years of age by birth, I went forth into the homeless life.
Đối với tôi đang đi vào trong bụng mẹ, họ đã che chiếc lọng trắng. Khi được bảy tuổi, tôi đã xuất gia vào đời sống không nhà.
97.
97.
97.
‘‘Sunando nāma nāmena, brāhmaṇo mantapāragū;
Phalikaṃ chattamādāya, sāvakaggassa so tadā.
A brahmin named Sunanda, a master of the sacred verses, taking a crystal parasol, then gave it to the foremost disciple.
Vị Bà-la-môn tên là Sunanda, bậc thông suốt các câu chú, sau khi cầm lấy chiếc lọng bằng pha lê, khi ấy đã dâng đến vị Thinh Văn đứng đầu.
98.
98.
98.
‘‘Anumodi mahāvīro, sāriputto mahākathī;
Sutvānumodanaṃ tassa, pubbakammamanussariṃ.
The great hero Sāriputta, the great orator, gave a discourse of appreciation; hearing his words of appreciation, I recollected my past deed.
Bậc Đại Anh Hùng Sāriputta, bậc đại hùng biện, đã tùy hỷ. Sau khi nghe lời tùy hỷ của vị ấy, tôi đã nhớ lại nghiệp quá khứ.
99.
99.
99.
‘‘Añjaliṃ paggahetvāna, sakaṃ cittaṃ pasādayiṃ;
Saritvā purimaṃ kammaṃ, arahattamapāpuṇiṃ.
Having raised my hands in reverence, I clarified my own mind; remembering my former deed, I attained Arahantship.
Sau khi chắp tay lại, tôi đã làm cho tâm của mình được tịnh tín. Sau khi nhớ lại nghiệp quá khứ, tôi đã đạt đến quả A-la-hán.
100.
100.
100.
‘‘Uṭṭhāya āsanā tamhā, sire katvāna añjaliṃ;
Sambuddhaṃ abhivādetvā, imaṃ vācaṃ udīriyiṃ.
Having risen from that seat, placing my hands together on my head, and having paid homage to the Fully Enlightened One, I uttered this speech:
Sau khi đứng dậy từ chỗ ngồi ấy, sau khi chắp tay trên đầu, sau khi đảnh lễ bậc Chánh Đẳng Giác, tôi đã thốt lên lời nói này:
101.
101.
101.
‘‘Satasahassito kappe, buddho loke anuttaro;
Padumuttaro lokavidū, āhutīnaṃ paṭiggaho.
One hundred thousand eons ago, there was in the world an unsurpassed Buddha, Padumuttara, the knower of the worlds, the recipient of offerings.
Kể từ kiếp thứ một trăm ngàn tính từ đây, đã có đức Phật ở thế gian, là bậc Vô Thượng, là đức Padumuttara, bậc Thông Suốt Thế Gian, bậc xứng đáng thọ nhận các vật cúng dường.
102.
102.
102.
‘‘Tassa chattaṃ mayā dinnaṃ, vicittaṃ samalaṅkataṃ;
Ubho hatthehi paggaṇhi, sayambhū aggapuggalo.
To him a parasol, variegated and well-adorned, was given by me; the Self-Become One, the foremost person, received it with both hands.
Chiếc lọng được trang hoàng đẹp đẽ, đa dạng đã được tôi dâng cúng đến Ngài. Vị Tự Hiện Hữu, bậc Tối Thượng Nhân đã tiếp nhận bằng cả hai tay.
103.
103.
103.
‘‘Aho buddho aho dhammo, aho no satthusampadā;
Ekacchattassa dānena, duggatiṃ nupapajjahaṃ.
Oh, wondrous is the Buddha! Oh, wondrous is the Dhamma! Oh, wondrous is the perfection of our Teacher! Through the gift of a single parasol, I was not reborn in a woeful state.
Ôi, đức Phật thật vi diệu! Ôi, giáo Pháp thật vi diệu! Ôi, sự thành tựu của bậc Đạo Sư của chúng ta thật vi diệu! Do nhờ việc dâng cúng một chiếc lọng, tôi đã không sanh vào cảnh khổ.
104.
104.
104.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ, bhavā sabbe samūhatā;
Sabbāsave pariññāya, viharāmi anāsavo.
My defilements are burned up, all states of existence are eradicated; having fully comprehended all the taints, I dwell free from taints.
Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được nhổ sạch. Sau khi đã liễu tri tất cả các lậu hoặc, tôi sống không còn lậu hoặc.
105.
105.
105.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, the eight liberations, and the six supernormal powers have been realized by me; the Buddha's teaching has been fulfilled.
Bốn Tuệ Phân Tích ... (v.v.) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā saparivārachattadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Saparivārachattadāyaka spoke these verses.
Như vậy, quả thật Trưởng lão Saparivārachattadāyaka đã nói những câu kệ này.
Saparivārachattadāyakattherassāpadānaṃ dasamaṃ.
The tenth Apadāna of the Elder Saparivārachattadāyaka.
Thánh tích của Trưởng lão Saparivārachattadāyaka, câu chuyện thứ mười.
The Thirty-third Chapter, the Ummāpupphiyavagga.
Phẩm Umāpupphiya, phẩm thứ ba mươi ba.
Tassuddānaṃ –
The summary thereof:
Tóm lược của phẩm ấy:
Umāpupphañca pulinaṃ, hāso yañño nimittako;
Saṃsāvako nigguṇḍī ca, sumanaṃ pupphachattako;
Saparivārachatto ca, gāthā sattasatuttarāti.
Ummāpuppha, Puḷina, Hāsa, Yañña, Nimittaka, Saṃsāvaka, Nigguṇḍī, Sumana, Pupphachattaka, and Saparivārachatta. The verses number over seven hundred.
Umāpuppha, Pulina, Hāsa, Yañña, Nimittaka, Saṃsāvaka, Nigguṇḍī, Sumana, Pupphachattaka, và Saparivārachatta. Các câu kệ được cho là bảy trăm lẻ bảy.