Bản dịch
THA -ap331 — Ký Sự về Trưởng Lão Pupphachattiya
9 Pupphacchattiyattheraapadāna
BJT 2898(Trong lúc) đức Thế Tôn Siddhattha bậc Trưởng Thượng của thế gian như thế ấy đang công bố về Sự Thật, đang giúp cho các sanh linh thành tựu Niết Bàn.
BJT 2899(Khi ấy) tôi đã mang lại bông hoa sen mọc ở trong nước, làm thích ý. Sau khi thực hiện chiếc lọng che bằng bông hoa, tôi đã dâng lên đức Phật.
BJT 2900Bậc Hiểu Biết Thế Gian Siddhattha, vị thọ nhận các vật hiến cúng, đấng Đạo Sư, đứng ở Hội Chúng tỳ khưu đã nói lên lời kệ này:
BJT 2901“Người nào sau khi làm cho tâm được tịnh tín ở Ta đã nắm giữ chiếc lọng che bằng bông hoa, do sự tịnh tín ấy ở trong tâm, người ấy không đi đến chốn khổ đau.”
BJT 2902Nói xong lời này, bậc Toàn Giác đấng Lãnh Đạo Thế Gian Sid-dhattha đã giải tán hội chúng rồi đã bay lên khoảng không ở bầu trời.
BJT 2903Khi vị Trời của nhân loại đứng dậy, chiếc lọng che màu trắng cũng đã vươn lên. Chiếc lọng che tối thượng di chuyển ở phía trước đức Phật tối thượng.
BJT 2904(Kể từ khi) tôi đã dâng lên chiếc lọng che trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của chiếc lọng bằng bông hoa.
BJT 2905Vào kiếp thứ 74, tám vị (cùng) tên Jalasikha đã là các đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 2906Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Pupphachattiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Pupphachattiya là phần thứ chín.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
9. Pupphacchattiyattheraapadānaṃ
9. The Apadāna of the Elder Pupphacchattiya
9. Phẩm truyện về trưởng lão Pupphacchattiya
73.
73.
73.
‘‘Siddhatthassa bhagavato, lokajeṭṭhassa tādino;
Saccaṃ pakāsayantassa, nibbāpentassa pāṇino.
To the Blessed One Siddhattha, the chief of the world, the Tādin, who made the truth manifest, bringing beings to Nibbāna.
(Con đã cúng dường) đến đấng Thế Tôn Siddhattha, là bậc Tối Thắng trong thế gian, là bậc Tādin, là đấng tuyên thuyết sự thật, là đấng làm cho các chúng sanh được tịch tịnh.
74.
74.
74.
‘‘Jalajaṃ āharitvāna, satapattaṃ manoramaṃ;
Pupphassa chattaṃ katvāna, buddhassa abhiropayiṃ.
Having brought a water-born, hundred-petaled, delightful lotus, I made a parasol of the flower and offered it up to the Buddha.
Sau khi mang đến đóa hoa sanh trong nước, có trăm cánh, đẹp ý, sau khi làm thành cây lọng bằng hoa, con đã dâng cúng đến đức Phật.
75.
75.
75.
‘‘Siddhattho ca lokavidū, āhutīnaṃ paṭiggaho;
Bhikkhusaṅghe ṭhito satthā, imaṃ gāthaṃ abhāsatha.
Siddhattha, the knower of the world, the worthy recipient of offerings, the Teacher, standing in the midst of the Sangha of monks, spoke this verse.
Bậc Đạo Sư Siddhattha, bậc Thông Suốt Thế Gian, bậc xứng đáng thọ nhận các vật cúng dường, trong khi đang đứng ở giữa chúng Tăng Tỳ-khưu đã nói lên kệ ngôn này:
76.
76.
76.
‘‘‘Yo me cittaṃ pasādetvā, pupphacchattaṃ adhārayiṃ;
Tena cittappasādena, duggatiṃ so na gacchati’.
‘Whoever, having made his mind serene towards me, held up a flower parasol, through that serenity of mind, he does not go to a woeful state.’
‘Người nào đã làm cho tâm được tịnh tín rồi dâng lên cho ta chiếc lọng bằng hoa; do nhờ sự tịnh tín của tâm ấy, người ấy không đi đến khổ cảnh.’
77.
77.
77.
‘‘Idaṃ vatvāna sambuddho, siddhattho lokanāyako;
Uyyojetvāna parisaṃ, vehāsaṃ nabhamuggami.
Having said this, the Sambuddha, Siddhattha, the leader of the world, having dismissed the assembly, rose up into the sky.
Sau khi nói lên lời này, bậc Chánh Đẳng Giác Siddhattha, vị Lãnh Đạo Thế Gian, sau khi cho hội chúng giải tán đã bay lên hư không, bầu trời.
78.
78.
78.
‘‘Vuṭṭhite naradevamhi, setacchattampi vuṭṭhahi;
Purato buddhaseṭṭhassa, gacchati chattamuttamaṃ.
When the god among men had arisen, the white parasol also arose; before the best of Buddhas, the supreme parasol proceeded.
Khi bậc Thiên Nhân Sư đứng dậy, chiếc lọng trắng cũng đứng dậy. Chiếc lọng cao quý đi ở phía trước của bậc Tối Thắng Giả.
79.
79.
79.
‘‘Catunnavutito kappe, yaṃ chattaṃ abhiropayiṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, pupphacchattassidaṃ phalaṃ.
Ninety-four aeons ago from this one, I offered up that parasol; since then, I have known no woeful state; this is the fruit of the flower parasol.
Kể từ kiếp thứ chín mươi bốn tính từ đây, khi tôi đã dâng cúng chiếc lọng, tôi không còn biết đến khổ cảnh. Đây là quả báu của việc dâng lọng hoa.
80.
80.
80.
‘‘Catusattatikappamhi, aṭṭha jalasikhā ahū;
Sattaratanasampannā, cakkavattī mahabbalā.
In the seventy-fourth aeon, there were eight kings named Jalasikha, endowed with the seven treasures, wheel-turning monarchs of great power.
Vào kiếp thứ bảy mươi bốn, đã có tám vị (vua) tên Jalasikha là bậc Chuyển Luân Vương, có đầy đủ bảy báu, và có đại oai lực.
81.
81.
81.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, the eight liberations, and the six supernormal knowledges have been realized; the teaching of the Buddha has been fulfilled.
Bốn Tuệ Phân Tích ... (v.v.) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā pupphacchattiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed, the Venerable Elder Pupphacchattiya spoke these verses.
Như vậy, quả thật Trưởng lão Pupphacchattiya đã nói những câu kệ này.
Pupphacchattiyattherassāpadānaṃ navamaṃ.
The ninth Apadāna of the Elder Pupphacchattiya is concluded.
Phẩm truyện về Trưởng lão Pupphacchattiya, chương thứ chín.