Bản dịch
THA -ap329 — Ký Sự về Trưởng Lão Nigguṇḍipupphiya
Nigguṇḍipupphiyattheraapadāna
BJT 2863Khi vị Thiên nhân mệnh chung từ tập thể chư Thiên do sự chấm dứt của tuổi thọ, chư Thiên đang tùy hỷ thường thốt lên ba lời nói rằng:
BJT 2864“Này bạn, từ nơi đây bạn hãy đi đến nhàn cảnh có sự cộng trú với loài người. Có bản thể nhân loại, bạn hãy đạt được niềm tin tối thượng vào Chánh Pháp.
BJT 2865Mong rằng niềm tin ấy của bạn được tạo lập, được sanh khởi cội rễ, được vững vàng trong Chánh Pháp đã khéo được công bố, và không bị dao động cho đến hết cuộc đời.”
BJT 2866“Bạn hãy làm việc thiện bằng thân, nhiều việc thiện bằng khẩu. Bạn hãy làm việc thiện bằng ý, (là việc) không có khổ đau, không có mầm tái sanh.
BJT 2867Sau đó, hãy làm nhiều việc phước còn có mầm tái sanh ấy bằng sự bố thí. Bạn cũng nên hướng dẫn những người bạn khác vào Chánh Pháp, vào Phạm hạnh.”
BJT 2868Do lòng thương tưởng này, chư Thiên khi đã biết vị thiên nhân đang mệnh chung, thường nói lời tùy hỷ rằng: “Hãy trở lại thành phố chư Thiên lần nữa.”
BJT 2869Khi ấy, lúc hội chúng chư Thiên đã hội tụ lại, đã có sự dao động ở tôi rằng: “Bị mệnh chung từ nơi này, ta sẽ đi đến sanh chủng nào?”
BJT 2870Sau khi biết được sự dao động của tôi, vị Sa-môn có các giác quan đã được tu tập ấy, với ý muốn tiếp độ tôi, đã đi đến gặp tôi.
BJT 2871Vị Thinh Văn của (đức Phật) Padumuttara tên là Sumana. Khi ấy, vị ấy đã chỉ dạy ý nghĩa và Giáo Pháp, và đã làm cho tôi chấn động.
BJT 2872Sau khi lắng nghe lời nói của vị ấy, tôi đã làm cho tâm được tịnh tín ở đức Phật. Sau khi đảnh lễ bậc trí tuệ ấy, tôi đã qua đời ở tại nơi ấy.
BJT 2873Được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch, tôi đã được sanh ra ở chính tại nơi ấy. Trong khi sống ở trong bụng mẹ, tôi đã được người mẹ cưu mang lần nữa.
BJT 2874Sau khi mệnh chung từ thân ấy, tôi đã được sanh về thế giới chư Thiên. Khi ấy, tôi không nhận thấy tâm ưu phiền trong khoảng thời gian ấy.
BJT 2875Sau khi mệnh chung từ cõi trời Đạo Lợi, tôi đã hạ sanh vào bụng mẹ. Sau khi ra khỏi bụng mẹ, tôi đã biết được (nghiệp) đen lẫn trắng.
BJT 2876Chỉ mới bảy tuổi tính từ khi sanh, tôi đã đi vào tu viện của đức Thế Tôn Gotama, người con trai của dòng Sakya như thế ấy.
BJT 2877Khi Phật Ngôn đã được lan rộng, khi Giáo Pháp đã được nhiều người hiểu biết, tôi đã nhìn thấy ở tại nơi ấy những vị thực hành Giáo Pháp, những vị tỳ khưu của bậc Đạo Sư.
BJT 2878Có thành phố tên là Sāvatthī, đức vua Kosala ngự ở tại nơi ấy. Đức vua đã đi đến cội Bồ Đề tối thượng bằng chiếc xe được kéo bằng voi.
BJT 2879Sau khi nhìn thấy con voi của đức vua, tôi đã tưởng nhớ lại nghiệp quá khứ. Tôi đã chắp tay lên và đã đi đến cuộc hội họp.
BJT 2880Chỉ mới bảy tuổi tính từ khi sanh, tôi đã xuất gia vào đời sống không gia đình. Vị Thinh Văn tên Ānanda đã hầu cận đức Phật.
BJT 2881(Là người) có hành vi hoàn hảo, lại có nghị lực, có niệm, và nghe nhiều, trong khi làm tâm của đức vua được tịnh tín, vị có sự chói sáng rực rỡ đã truyền đạt lại (Giáo Pháp).
BJT 2882Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của vị ấy, tôi đã tưởng nhớ lại nghiệp quá khứ. Trong khi là người đứng ở ngay tại chỗ ấy, tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán.
BJT 2883Sau khi khoác y một bên vai, tôi đã chắp tay lên ở đầu. Sau khi đảnh lễ đấng Toàn Giác, tôi đã thốt lên lời kệ này:
BJT 2884Tôi đã nâng lên bông hoa nigguṇḍī rồi đã đặt xuống ở bảo tọa sư tử của đức Phật Padumuttara, đấng Chúa Tể của loài người, bậc Đạo Sư.
BJT 2885“Bạch đấng Chúa Tể của loài người, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu, nhờ vào nghiệp ấy con đã từ bỏ sự hơn thua và đã đạt được vị thế Bất Động.”
BJT 2886Trong hai mươi lăm ngàn kiếp, các bậc thống lãnh loài người (ở mỗi kiếp) đã là từng nhóm tám vị Sát-đế-lỵ có tuổi thọ dài, rất dài.
BJT 2887Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Nigguṇḍipupphiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Nigguṇḍipupphiya là phần thứ bảy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
7. Nigguṇḍipupphiyattheraapadānaṃ
7. The Apadāna of the Elder Nigguṇḍipupphiya
7. Phẩm truyện Trưởng lão Nigguṇḍipupphiya
39.
39.
39.
‘‘Yadā devo devakāyā, cavate āyusaṅkhayā;
Tayo saddā niccharanti, devānaṃ anumodataṃ.
When a deva from the host of devas passes away due to the exhaustion of his lifespan, three sounds issue forth from the rejoicing devas.
Khi một vị trời từ giã cõi trời do tuổi thọ đã hết, ba âm thanh được phát ra từ các vị trời đang hoan hỷ.
40.
40.
40.
‘‘‘Ito bho sugatiṃ gaccha, manussānaṃ sahabyataṃ;
Manussabhūto saddhamme, labha saddhaṃ anuttaraṃ.
‘Friend, go from here to a happy destination, to the companionship of humans. Having become human, may you obtain unsurpassed faith in the good Dhamma.’
‘Này bạn, từ đây hãy đi đến thiện thú, làm bạn đồng hành với loài người. Sau khi được làm người, mong bạn có được niềm tin vô thượng ở nơi Chánh Pháp.’
41.
41.
41.
‘‘‘Sā te saddhā niviṭṭhāssa, mūlajātā patiṭṭhitā;
Yāvajīvaṃ asaṃhīrā, saddhamme suppavedite.
‘May that faith of yours be firmly settled, taken root, and well-established; unshakable for as long as you live, in the well-proclaimed good Dhamma.’
‘Mong rằng niềm tin ấy của bạn được an trú, có gốc rễ, được vững chắc, không bị lay chuyển trọn đời ở nơi Chánh Pháp đã được khéo giảng.’
42.
42.
42.
‘‘‘Kāyena kusalaṃ katvā, vācāya kusalaṃ bahuṃ;
Manasā kusalaṃ katvā, abyāpajjaṃ nirūpadhiṃ.
‘Having done good with the body, and much good with speech; having done good with the mind that is free from ill will and substratum.’
‘Sau khi làm điều thiện bằng thân, làm nhiều điều thiện bằng lời, làm điều thiện bằng ý, không có sân hận, không còn chấp thủ.’
43.
43.
43.
‘‘‘Tato opadhikaṃ puññaṃ, katvā dānena taṃ bahuṃ;
Aññepi macce saddhamme, brahmacariye nivesaya’.
‘Then, having made much of that merit connected with substratum through giving, establish other mortals too in the good Dhamma, in the holy life.’
‘Rồi sau đó, sau khi làm nhiều công đức hữu lậu ấy bằng việc bố thí, mong bạn cũng hãy làm cho các người phàm phu khác được an trú trong Chánh Pháp, trong Phạm hạnh.’
44.
44.
44.
‘‘Imāya anukampāya, devādevaṃ yadā vidū;
Cavantaṃ anumodanti, ehi deva punappunaṃ †.
With this compassion, when the devas know a deva is passing away, they rejoice over him, saying, ‘Come, deva, again and again!’
Với lòng bi mẫn này, khi các vị trời có trí tuệ biết được một vị trời sắp từ giã, họ hoan hỷ (nói rằng): ‘Này vị trời, hãy trở lại nhiều lần nữa.’
45.
45.
45.
‘‘Saṃvego me † tadā āsi, devasaṅghe samāgate;
Kaṃsu nāma ahaṃ yoniṃ, gamissāmi ito cuto.
A sense of spiritual urgency arose in me then, when the assembly of devas had gathered: ‘To what womb indeed will I go, having passed away from here?’
Vào lúc ấy, tâm kinh cảm đã khởi lên nơi ta, khi hội chúng chư thiên đã tụ họp. ‘Sau khi từ giã nơi đây, ta sẽ đi đến cảnh giới nào?’
46.
46.
46.
‘‘Mama saṃvegamaññāya, samaṇo bhāvitindriyo;
Mamuddharitukāmo so, āgacchi mama santikaṃ.
Knowing my sense of spiritual urgency, a monk with developed faculties, wishing to rescue me, came into my presence.
Vị Sa-môn có các căn đã được tu tập ấy, sau khi biết được tâm kinh cảm của ta, với ý muốn cứu vớt ta, đã đi đến gần bên ta.
47.
47.
47.
‘‘Sumano nāma nāmena, padumuttarasāvako;
Atthadhammānusāsitvā, saṃvejesi mamaṃ tadā.
Sumana by name, a disciple of the Buddha Padumuttara, having instructed me in the meaning and the Dhamma, roused a sense of spiritual urgency in me then.
Vị đệ tử của đức Phật Padumuttara, tên là Sumana, sau khi giảng dạy về ý nghĩa và Giáo Pháp, vào lúc ấy đã làm cho ta có tâm kinh cảm.
Dvādasamaṃ bhāṇavāraṃ.
The twelfth recitation section.
Phần tụng đọc thứ mười hai.
48.
48.
48.
‘‘Tassāhaṃ vacanaṃ sutvā, buddhe cittaṃ pasādayiṃ;
Taṃ dhīraṃ abhivādetvā, tattha kālaṃkato ahaṃ.
Having heard his words, I gladdened my mind towards the Buddha. Having paid homage to that wise one, I passed away there.
Sau khi nghe lời nói của vị ấy, ta đã làm cho tâm ý trong sạch về đức Phật. Sau khi đảnh lễ bậc trí tuệ ấy, ta đã mệnh chung tại nơi ấy.
49.
49.
49.
‘‘Upapajjiṃ sa † tattheva, sukkamūlena codito;
Vasanto mātukucchimhi, puna dhāreti mātuyā.
Prompted by a wholesome root, I was reborn in that very place. While dwelling in a mother's womb, a mother bore me again.
Do nhân thiện thúc đẩy, ta đã được tái sanh ngay tại nơi ấy. Khi đang ở trong bụng mẹ, mẹ đã mang thai ta lần nữa.
50.
50.
50.
‘‘Tamhā kāyā cavitvāna, tidase upapajjahaṃ;
Etthantare na passāmi, domanassamahaṃ tadā.
Having passed away from that body, I was reborn among the Thirty-three. In that interval, I experienced no displeasure.
Sau khi từ giã thân ấy, ta đã được sanh ở cõi trời Ba Mươi Ba. Trong khoảng thời gian ấy, vào lúc đó ta không thấy có sự ưu phiền nào.
51.
51.
51.
‘‘Tāvatiṃsā cavitvāna, mātukucchiṃ samokkamiṃ;
Nikkhamitvāna kucchimhā, kaṇhasukkaṃ ajānahaṃ.
Having passed away from Tāvatiṃsa, I entered a mother's womb; having emerged from the womb, I knew what was demeritorious and meritorious.
Từ cõi trời Đao Lợi mệnh chung, tôi đã đi vào trong bụng mẹ. Sau khi ra khỏi bụng mẹ, tôi đã biết được điều đen và điều trắng (bất thiện và thiện).
52.
52.
52.
‘‘Jātiyā sattavassova †, ārāmaṃ pāvisiṃ ahaṃ;
Gotamassa bhagavato, sakyaputtassa tādino.
Being only seven years of age from birth, I entered the monastery of the Blessed One Gotama, the son of the Sakyans, the one of such qualities.
Khi được bảy tuổi tính từ lúc sanh, tôi đã đi vào ngôi tự viện của đấng Thế Tôn Gotama, là bậc Tādin, là con trai của dòng họ Sakya.
53.
53.
53.
‘‘Vitthārike † pāvacane, bāhujaññamhi sāsane;
Addasaṃ sāsanakare, bhikkhavo tattha satthuno.
When the teaching was widespread, in the Dispensation known to many people, I saw the bhikkhus of that Teacher, who were followers of his instruction.
Khi lời dạy được phổ biến rộng rãi, khi giáo Pháp được nhiều người biết đến, ở nơi ấy tôi đã nhìn thấy các vị tỳ-khưu là những người thực hành lời giáo huấn của bậc Đạo Sư.
54.
54.
54.
‘‘Sāvatthi nāma nagaraṃ, rājā tatthāsi kosalo;
Rathena nāgayuttena, upesi bodhimuttamaṃ.
The city was named Sāvatthī; there the king was Kosala. With a chariot yoked with an elephant, he approached the supreme Buddha.
Thành phố tên là Sāvatthī, ở nơi ấy có đức vua Kosala. Vị ấy đã đi đến bậc Giác Ngộ Tối Thượng bằng cỗ xe do voi kéo.
55.
55.
55.
‘‘Tassāhaṃ nāgaṃ disvāna, pubbakammaṃ anussariṃ;
Añjaliṃ paggahetvāna, samayaṃ agamāsahaṃ.
Having seen his elephant, I recalled my former deed. Having raised my joined hands in reverence, I went to the assembly.
Sau khi nhìn thấy con voi của vị ấy, tôi đã nhớ lại nghiệp quá khứ. Sau khi chắp tay lên, tôi đã đi đến nơi hội chúng.
56.
56.
56.
‘‘Jātiyā sattavassova, pabbajiṃ anagāriyaṃ;
Yo so buddhaṃ upaṭṭhāsi, ānando nāma sāvako.
Being only seven years of age from birth, I went forth into homelessness. The disciple who attended upon the Buddha was named Ānanda.
Khi được bảy tuổi tính từ lúc sanh, tôi đã xuất gia vào đời sống không nhà. Vị đệ tử tên là Ānanda là người đã hầu cận đức Phật.
57.
57.
57.
‘‘Gatimā dhitimā ceva, satimā ca bahussuto;
Rañño cittaṃ pasādento, niyyādesi mahājuti.
Wise, resolute, mindful, and very learned, the one of great radiance, gladdening the king's mind, bestowed his instruction.
Vị có trí tuệ, có nghị lực, có chánh niệm, và là bậc đa văn, bậc có đại oai lực ấy đã làm cho tâm của đức vua được trong sạch và đã trao truyền (giáo Pháp).
58.
58.
58.
‘‘Tassāhaṃ dhammaṃ sutvāna, pubbakammaṃ anussariṃ;
Tattheva ṭhitako santo, arahattamapāpuṇiṃ.
Having heard his Dhamma, I recalled my former deed; while standing right there, I attained Arahantship.
Sau khi nghe được Pháp của vị ấy, tôi đã nhớ lại nghiệp quá khứ. Trong khi đang đứng ở ngay nơi ấy, tôi đã đạt đến quả vị A-la-hán.
59.
59.
59.
‘‘Ekaṃsaṃ cīvaraṃ katvā, sire katvāna añjaliṃ;
Sambuddhaṃ abhivādetvā, imaṃ vācaṃ udīrayiṃ.
Having arranged my robe over one shoulder and having made the gesture of reverence on my head, I paid homage to the Fully Enlightened One and uttered this speech:
Sau khi mặc y choàng qua một bên vai, sau khi chắp tay lên đầu, sau khi đảnh lễ bậc Chánh Đẳng Giác, tôi đã thốt lên lời nói này.
60.
60.
60.
‘‘‘Padumuttarabuddhassa, dvipadindassa satthuno;
Nigguṇḍipupphaṃ paggayha, sīhāsane ṭhapesahaṃ.
Having raised up a Niguṇḍi flower, I placed it on the lion-seat of the Buddha Padumuttara, the Teacher, the lord of bipeds.
‘Con đã cầm lấy đóa hoa nigguṇḍi và đã đặt lên ngai sư tử của đức Phật Padumuttara, là bậc Đạo Sư, là đấng tối tôn của các loài hai chân.
61.
61.
61.
‘‘‘Tena kammena dvipadinda, lokajeṭṭha narāsabha;
Pattomhi acalaṃ ṭhānaṃ, hitvā jayaparājayaṃ’.
By that deed, O lord of bipeds, foremost in the world, bull among men, I have attained the unshakeable state, having abandoned victory and defeat.
‘Thưa đấng tối tôn của các loài hai chân, bậc Tối Thắng trong thế gian, bậc Ngưu Vương trong loài người, do nghiệp ấy, con đã từ bỏ sự thắng và bại, đã đạt đến trạng thái không còn lay chuyển.’
62.
62.
62.
‘‘Pañcavīsasahassamhi, kappānaṃ manujādhipā;
Abbudanirabbudāni, aṭṭhaṭṭhāsiṃsu khattiyā.
In twenty-five thousand aeons, there were eighty-eight Khattiya kings, lords of men, with lifespans of an Abbuda and a Nirabbuda.
Trong hai mươi lăm ngàn kiếp, đã có tám mươi tám vị vua Sát-đế-lỵ là những người lãnh đạo nhân loại, (với tuổi thọ) abbuda và nirabbuda.
63.
63.
63.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, the eight liberations, and the six supernormal knowledges have been realized; the teaching of the Buddha has been fulfilled.
Bốn Tuệ Phân Tích ... (như trên) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā nigguṇḍipupphiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Nigguṇḍipupphiya spoke these verses.
Như vậy, Đại đức Trưởng lão Nigguṇḍipupphiya đã thuyết những bài kệ này.
Nigguṇḍipupphiyattherassāpadānaṃ sattamaṃ.
The seventh Apadāna of the Elder Nigguṇḍipupphiya is finished.
Ký sự về trưởng lão Nigguṇḍipupphiya là thứ bảy.