Bản dịch
THA -ap328 — Ký Sự về Trưởng Lão Annasaṃsāvaka
Annasaṁsāvakattheraapadāna
BJT 2858Bậc Toàn Giác (Siddhattha), có màu da vàng chói tợ như cây cột trụ bằng vàng, có ba mươi hai hảo tướng, đang đi ở khu phố chợ.
BJT 2859Tôi đã rước bậc Toàn Giác Siddhattha, vị đã hoàn thành tất cả phận sự, bậc không còn dục vọng, vị không bị đánh bại, và tôi đã chăm lo bữa ăn đến bậc Đại Hiền Trí ấy.
BJT 2860Khi ấy, bậc Hiền Trí, đấng Bi Mẫn ở thế gian đã chiếu sáng đến tôi. Sau khi làm cho tâm được tịnh tín ở đức Phật, tôi đã sướng vui ở cõi trời một kiếp.
BJT 2861Kể từ khi tôi đã dâng cúng vật thí trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng vật thực.
BJT 2862Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Annasaṁsāvakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
6. Annasaṃsāvakattheraapadānaṃ
6. The Apadāna of the Elder Annasaṃsāvaka
6. Phẩm truyện Trưởng lão Annasaṃsāvaka
34.
34.
34.
‘‘Suvaṇṇavaṇṇaṃ sambuddhaṃ, gacchantaṃ antarāpaṇe;
Kañcanagghiyasaṅkāsaṃ, bāttiṃsavaralakkhaṇaṃ.
The Fully Enlightened One, of golden complexion, possessing the thirty-two excellent marks, like a mass of gold, was walking in the market street.
(Ta đã thấy) đức Chánh Đẳng Giác có màu sắc vàng ròng, đang đi ở giữa khu chợ, giống như cột trụ bằng vàng, có ba mươi hai tướng tốt cao quý.
35.
35.
35.
‘‘Siddhatthaṃ sabbasiddhatthaṃ, anejaṃ aparājitaṃ;
Sambuddhaṃ atināmetvā, bhojayiṃ taṃ mahāmuniṃ.
Having invited the Fully Enlightened One—Siddhattha, who had accomplished all aims, imperturbable, unconquered—I offered food to that Great Sage.
Sau khi thỉnh mời đức Chánh Đẳng Giác Siddhattha, vị thành tựu mọi mục đích, vị không còn ái dục, vị không bị khuất phục, ta đã dâng vật thực lên bậc Đại ẩn sĩ ấy.
36.
36.
36.
‘‘Muni kāruṇiko loke, obhāsayi mamaṃ tadā;
Buddhe cittaṃ pasādetvā, kappaṃ saggamhi modahaṃ.
The compassionate Sage in the world taught me then. Having gladdened my mind towards the Buddha, I rejoiced in heaven for an aeon.
Bậc ẩn sĩ, vị từ bi ở thế gian, vào lúc ấy đã soi sáng cho ta. Sau khi làm cho tâm ý trong sạch về đức Phật, ta đã hoan hỷ ở cõi trời trong một kiếp.
37.
37.
37.
‘‘Catunnavutito kappe, yaṃ dānamadadiṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, bhikkhādānassidaṃ phalaṃ.
In the ninety-fourth aeon from this one, when I gave that gift of alms, I have known no woeful state. This is the fruit of the gift of alms-food.
Kể từ kiếp thứ chín mươi tư, vào lúc ta đã thực hiện việc bố thí ấy, ta không còn biết đến đường ác. Đây là quả của việc bố thí vật thực.
38.
38.
38.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā annasaṃsāvako thero imā gāthāyo abhāsitthāti;
The four analytical knowledges, the eight liberations, and the six supernormal powers have been realized. The teaching of the Buddha has been fulfilled. Thus indeed, the venerable Annasaṃsāvaka Thera spoke these verses.
Bốn Tuệ Phân tích ... (v.v.) ... giáo huấn của đức Phật đã được thực hành. Như vậy, quả thật Trưởng lão Annasaṃsāvaka đã nói những câu kệ này.
Annasaṃsāvakattherassāpadānaṃ chaṭṭhaṃ.
The sixth Apadāna of the Elder Annasaṃsāvaka.
Phẩm truyện Trưởng lão Annasaṃsāvaka là phẩm thứ sáu.