Bản dịch
THA -ap321 — Ký Sự về Trưởng Lão Kandalipupphiya
9 Kandalipupphiyattheraapadāna
BJT 2814Lúc bấy giờ, tôi đã là người nông dân ở bờ sông Sindhu. Tôi bị vướng bận trong việc quán xuyến công việc của người khác và (sống) lệ thuộc vào vật thực của người khác.
BJT 2815Trong lúc đi dọc theo sông Sindhu, tôi đã nhìn thấy đấng Chiến Thắng Siddhattha đang ngồi thiền định tợ như đóa hoa sen đã nở rộ.
BJT 2816Khi ấy, tôi đã ngắt bảy bông hoa kandali ở cuống hoa. Tôi đã dâng lên ở đỉnh đầu của đức Phật, đấng quyến thuộc của mặt trời.
BJT 2817Bậc Toàn Giác có màu da vàng chói, được định tĩnh trong (đề mục) thích hợp, tợ như loài voi mātaṅga (đến tuổi) bị tiết dục ở ba nơi khó mà tiếp cận.
BJT 2818Sau khi đi đến gần vị (có tính) cẩn trọng có (các) giác quan đã được tu tập ấy, tôi đã chắp tay lên và đã đảnh lễ bậc Đạo Sư.
BJT 2819(Kể từ khi) tôi đã cúng dường bông hoa trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 2820Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Kandalipupphiya đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Kandalipupphiya là phần thứ chín.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
9. Kandalipupphiyattheraapadānaṃ
9. The Apadāna of the Elder Kandalipupphiya
9. Thánh tích của trưởng lão Kandalipupphiya
47.
47.
47.
‘‘Sindhuyā nadiyā tīre, ahosiṃ kassako tadā;
Parakammāyane yutto, parabhattaṃ apassito.
On the bank of the river Sindhu, I was then a farmer, engaged in the work of others, dependent on the food of others.
Khi ấy, ở tại bờ sông Sindhu, tôi đã là người nông dân. Tôi đã chuyên tâm làm công cho người khác, và đã nương tựa vào phần cơm của người khác.
48.
48.
48.
‘‘Sindhuṃ anucarantohaṃ, siddhatthaṃ jinamaddasaṃ;
Samādhinā nisinnaṃva, satapattaṃva pupphitaṃ.
Wandering along the Sindhu, I saw the Victor Siddhattha, seated in concentration, like a fully blossomed lotus.
Trong khi đang đi dọc theo sông Sindhu, tôi đã nhìn thấy đấng Toàn Giác Siddhattha, vị đang ngồi trong thiền định, giống như đóa hoa sen trăm cánh đang nở rộ.
49.
49.
49.
‘‘Satta kandalipupphāni, vaṇṭe chetvānahaṃ tadā;
Matthake abhiropesiṃ, buddhassādiccabandhuno.
Then, having cut seven kandalī flowers by their stalks, I placed them upon the head of the Buddha, the Kinsman of the Sun.
Khi ấy, sau khi đã ngắt bảy đóa hoa kandali ở cuống, tôi đã dâng cúng lên trên đầu của đức Phật, bậc Thân Thuộc của mặt trời.
50.
50.
50.
‘‘Suvaṇṇavaṇṇaṃ sambuddhaṃ, anukūle samāhitaṃ;
Tidhāpabhinnamātaṅgaṃ, kuñjaraṃva durāsadaṃ.
The golden-hued, Perfectly Enlightened One, composed on the riverbank, was like an unapproachable elephant, a tusker with threefold-flowing ichor.
Vị Chánh Đẳng Giác có màu sắc giống như vàng ròng, đang định tĩnh ở trên bờ sông, giống như con voi mātaṅga khó đến gần, có chất dịch chảy ra từ ba nơi.
51.
51.
51.
‘‘Tamahaṃ upagantvāna, nipakaṃ bhāvitindriyaṃ;
Añjaliṃ paggahetvāna, avandiṃ satthuno ahaṃ.
Having approached Him, the wise one with developed faculties, I raised my joined palms and paid homage to the Teacher.
Sau khi đã đi đến gần vị ấy, bậc thông tuệ, có các căn đã được tu tập, tôi đã chắp tay lại và đã đảnh lễ bậc Đạo Sư.
52.
52.
52.
‘‘Catunnavutito kappe, yaṃ pupphamabhiropayiṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Ninety-four aeons ago, when I offered that flower, I have not known a woeful state since; this is the fruit of that offering to the Buddha.
Kể từ đại kiếp thứ chín mươi tư tính từ đây, khi tôi đã dâng cúng đóa hoa, tôi không còn biết đến khổ cảnh. Đây là quả báu của việc cúng dường đến đức Phật.
53.
53.
53.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, the eight liberations, and the six supernormal knowledges have been realized. The teaching of the Buddha has been fulfilled.
Bốn Tuệ phân tích ... (v.v.) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā kandalipupphiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed, the venerable elder Kandalipupphiya spoke these verses.
Như vậy, thật vậy, trưởng lão Kandalipupphiya đã nói những câu kệ này.
Kandalipupphiyattherassāpadānaṃ navamaṃ.
The Ninth Apadāna of the Elder Kandalipupphiya.
Thánh tích của trưởng lão Kandalipupphiya, phần thứ chín.